ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒNG THỊ DIỆP
BIƯN PH¸P BảO LĩNH
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hồng Thị Diệp
Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp bảo lĩnh .......... 25
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước khi pháp điển
hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 ........ 25
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm
1988 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai – Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 ............................................................................... 31
Chương 2: BIỆN PHÁP BẢO LĨNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ....................................................... 38
2.1.
Biện pháp bảo lĩnh trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
năm 2003 ........................................................................................... 38
2.1.1. Căn cứ và đối tượng áp dụng biện pháp bảo lĩnh .............................. 38
2.1.2. Thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh .......................... 43
2.1.3. Chủ thể bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thế .................. 45
2.1.4. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo lĩnh ........................................... 47
2.2.
Biện pháp bảo lĩnh trong Bộ luật tố tụng hình sự một số
nước trên thế giới ............................................................................. 47
2.2.1. Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức ............................... 48
2.2.2. Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga .............................................. 52
2.2.3. Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hịa nhân dân Trung Hoa .................... 56
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
2. BPNC
: Biện pháp ngăn chặn
3. TAND
: Tịa án nhân dân
4. TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
5. THTT
: Tiến hành tố tụng
6. TTHS
: Tố tụng hình sự
7. VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
điều tra, Viện kiểm sát, Tịa án tại quận Cầu Giấy
73
Bảng 2.5: Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tại huyện Từ Liêm (cũ)
73
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự (TTHS), các
biện pháp ngăn chặn (BPNC) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ các
BPNC là công cụ hữu hiệu giúp cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) ngăn chặn
kịp thời những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc
điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo thi hành án. Pháp luật TTHS
Việt Nam quy định BPNC gồm có: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Bắt, tạm giữ, tạm
giam là những biện pháp mang tính cưỡng chế rất nghiêm khắc, có tính tước
đoạt tự do của bị can, bị cáo.
Thực tiễn tổng kết các BPNC ở nước ta trong những năm qua cho thấy các
biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam được áp dụng phổ biến trong các vụ án hiǹ h sự
.
Theo phân tích của Vụ 4 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), năm
2013 các cơ quan chức năng bắt, tạm giữ về hình sự 39.175 trường hợp (tăng
0,76% so với năm 2012), đã giải quyết 38.109 trường hợp, trong đó, xử lý
hình sự 36.861 người tương đương tỷ lệ 96,73% (tăng 0,73% so với cùng kỳ
năm 2012). Tổng số người bị tạm giam năm 2012 là 95.304 người, nhưng năm
Chính trị về mơ ̣t số nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới ;
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/04/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiê ̣n hê ̣ thố ng pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam đế n năm2010, đinh
̣ hướng đế n
năm 2020; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
Chiế n lươ ̣c cả i cách tư pháp năm 2020 chỉ rõ nô ̣i dung “Xác định rõ căn cứ
tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội
phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện
pháp tạm giam…”[5] lại càng thể hiện rõ hơn quyết tâm của Đảng và Nhà nước
ta trong việc hạn chế áp dụng các BPNC có tính nghiêm khắc nói chung và
hạn chế, thay thế áp dụng biện pháp tạm giam nói riêng, nhằm bảo đảm yêu
2
cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm gắn với việc bảo vệ quyền con người,
quyền tự do, dân chủ của công dân.
Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
đảm được xem là các biện pháp có tính ít nghiêm khắc và được các cơ quan
THTT áp dụng để thay thế biện pháp tạm giữ, tạm giam khi các cơ quan này
xét thấy không cần thiết phải tạm giữ, tạm giam nhưng vẫn cần thiết phải
ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội. Trong các biện pháp
này thì bảo lĩnh là một biện pháp đảm bảo mục đích trên. Tuy được sử dụng
để thay thế biện pháp tạm giam nhưng khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh, các bị
can, bị cáo không bị tước đoạt tự do, không bị hạn chế các quyền công dân
miễn sao việc thực hiện các quyền này không gây trở ngại cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử.
Mặc dù là một biện pháp ưu việt được quy định từ BLTTHS năm 1988,
song thực tiễn áp dụng biện pháp bảo lĩnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật
Kiểm sát. VKSND tối cao, Số 7/2005; TS. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề
về biện pháp bảo lĩnh quy định trong BLTTHS năm 2003, Tạp chí Kiểm sát.
VKSND tối cao, Số 15/2006; TS.Phạm Mạnh Hùng, Hoàn thiện các quy định
về các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp ,
Tạp chí Kiểm sát. VKSND tối cao. Số 21/2007; Nguyễn Đình Bình, Một số ý
kiến về việc hồn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự, Tạp chí Kiểm sát. VKSND tối cao. Số 5/2008; TS. Trịnh Tiến Việt,
Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo liñ h và hướng sửa đổi, bổ sung, Tạp chí
nghiên cứu lâ ̣p pháp . Văn phòng Q́ c hô ̣i , Số 02/2010; Nguyễn Ngọc Ánh,
Một số vướng mắc bất cập khi áp dụng điều 92 BLTTHS, Tạp chí TAND.
TAND tối cao, Số 8/2012; Phùng Văn Tài, Những vướng mắc trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa
đổi, bổ sung, Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Viện Nhà nước và Pháp luật, Số
8/2012; Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn, Tạp chí Luật học. Trường Đại học
Luật Hà Nội, Số 9/2012; v.v…
Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy, hầu hết các cơng trình nghiên cứu
đề cập đến các BPNC có ý nghĩa là các biện pháp nói chung. Vì nhiều lý do
5
khác nhau, chỉ có một cơng trình nghiên cứu thật chuyện sâu về biện pháp
bảo lĩnh. Để có nhận thức đúng hơn về biện pháp này trong mối liên hệ với
các BPNC khác . Như vâ ̣y, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho
phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp bảo lĩnh trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam” là địi hỏi khách quan , cấ p thiế t , vừa có tiń h lý luâ ̣n ,
vừa có tin
́ h thực tiễn .
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
quy định của một số nước trên thế giới và thực tiễn áp dụng để đưa ra những
kiến nghị, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo lĩnh trong tố tụng
hình sự ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trên các vấn đề cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận về biê ̣n pháp bảo liñ h trong luâ ̣t TTHS Việt Nam
- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đế n biê ̣n pháp bảo liñ h
trong luâ ̣t TTHS Việt Nam.
- Về thực trạng áp du ̣ng quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự hiê ̣n
hành về biê ̣n pháp bảo liñ h.
- Các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n các quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t
tố tu ̣ng hin
̀ h sự hiê ̣n hành về biê ̣n pháp bảo liñ h.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật.
Luâ ̣n văn đư ợc thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng, các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước về các BPNC.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử du ̣ng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể và đ ặc thù của khoa h ọc xã hội như phương pháp phân
tích và t ổng hợp; phương pháp đố i chiế u ; phương pháp diễn dich
̣ ; phương
pháp quy nạp ; phương pháp thố ng kê , điề u tra xã h ội ho ̣c để tổ ng h ợp các
tri thức khoa ho ̣c và luâ ̣n chứng các vấ n đề tương ứng đươ ̣c nghiên cứu
trong luâ ̣n văn .
7
nâng cao hiệu quả áp dụng trong tớ tụng hình sự.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO LĨNH
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp bảo lĩnh là một trong sáu BPNC được pháp luật TTHS Việt
Nam quy định. Do đó, muốn hiểu rõ bản chất pháp lý của biện pháp bảo lĩnh cần
phải nghiên cứu biện pháp này trong mối liên hệ có tính hệ thống với các BPNC.
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp cưỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp được thực
hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng nhất định áp dụng theo một
trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành
vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình
nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử [35; 54].
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS, BPNC được xem như một
chế định pháp lý quan trọng, bởi việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng, nhất là quyền nhân thân và
quyền tự do cá nhân. Các BPNC khơng ngồi mục đích nào khác là tạo điều
kiện thuận lợi để cơ quan THTT xác định sự thật khách quan của vụ án,
phòng ngừa và kịp thời ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội chuẩn bị
thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện. Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm
khác nhau xung quanh khái niệm BPNC, cần được làm sáng tỏ;
Theo Điều 79 BLTTHS Việt Nam 2003, mặc dù không đưa ra một khái
niệm cụ thể về BPNC, tuy nhiên cũng đã quy định một số nội dung trọng
điểm áp dụng các BPNC:
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
đối với người chưa bị khởi tố trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội
10
quả tang. Cần phải hiểu rõ các BPNC khơng có tính chất trừng phạt, mà chỉ là
phương tiện đảm bảo cho việc làm rõ trách nhiệm hình sự và trong thực tế
hồn tồn có khả năng một người phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng khơng
bị áp dụng BPNC. Do đó, khái niệm BPNC cần mang tính khoa học, logic,
phân định rõ ràng về thẩm quyền áp dụng, căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng
và mục đích áp dụng:
Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế tớ tụng
hình sự được quy định trong pháp luật tớ tụng hình sự, do người có thẩm qùn
ở các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội
quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi
phạm tội, ngăn chặn việc bị can, bị cáo cản trở, gây khó khăn cho việc điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án cũng như ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tợi.
Qua những phân tích trên cho thấy, so với biện pháp cưỡng chế TTHS
thì BPNC có nội dung và phạm vi hẹp hơn. Trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự, các cơ quan THTT được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế. Ngoài
BPNC, biện pháp cưỡng chế cịn có các biện pháp thu thập chứng cứ (khám
xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trường,
xem xét dấu vết trên thân thể…) và các biện pháp bảo đảm cho các hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án (kê biên tài sản, áp giải các bị can, bị cáo,
người bị kết án, dẫn giải người làm chứng...) [54]. Những nhóm biện pháp này
cùng song song tồn tại và hỗ trợ lẫn nhau, đều phải giải quyết những nhiệm vụ
khác nhau. Đối tượng áp dụng của biện pháp cưỡng chế rộng hơn BPNC, đó là
người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, bị can, bị cáo, người
làm chứng,… So với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS thì BPNC có
tính nghiêm khắc hơn, nên các cơ quan THTT cũng cần cân nhắc thận trọng
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự thay thế
cho biện pháp tạm giam, được các cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy
12
cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở
điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu
tập của các cơ quan tiến hành tố tụng [9].
Đồng quan điểm này Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, trường Đại học
Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tớ tụng
hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị
cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập” [53].
Các quan điểm này đã làm rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo
lĩnh, đối tượng áp dụng, chủ thể nhận bảo lĩnh, thủ tục bảo lĩnh, mục đích
áp dụng biện pháp này nhưng lại thiếu sót khi chưa đưa ra căn cứ áp dụng
biện pháp bảo lĩnh.
Quan điểm của GS. TS Võ Khánh Vinh cho rằng:
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được quy định trong
BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng để thay thế biện pháp
tạm giam đối với bị can, bị cáo. Bảo lĩnh là BPNC ít nghiêm khắc
hơn tạm giữ, tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần
thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu
tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án [57].
Bên cạnh việc làm sáng tỏ về thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp
dụng, tác giả đã chỉ rõ hơn điều kiện và mục đích áp dụng biện pháp bảo lĩnh
mà khơng phải quan điểm nào cũng nêu ra là “được áp dụng trong trường hợp
khơng làm hạn chế quyền tự do đi lại của bị can, bị cáo, không tách họ ra khỏi
cộng đồng. Tuy nhiên, các quan điểm trên vẫn chưa thể hiện đầy đủ các đặc
điểm vốn có của một BPNC như:
- Các quan điểm nêu trên hầu như thiếu xót căn cứ áp dụng biện pháp
bảo lĩnh. Căn cứ áp dụng BPNC tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các
14
BPNC. Nguyên tắc pháp chế trong TTHS cho thấy, mọi hoạt động tố tụng,
người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của
BLTTHS. Vì thế, việc đặt ra căn cứ áp dụng BPNC cũng cần được quy định
trong BLTTHS để đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ.
- Các quan điểm nêu rằng cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp
bảo lĩnh là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, điều này là chưa chính
xác, bởi tất cả các cơ quan tiến hành hoạt động tố tụng đều thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể đã được pháp luật quy định thơng qua các chủ thể có thẩm
quyền, chứ bản thân các cơ quan thì khó mà thực hiện được.
Qua việc phân tích và tổng hợp các quan điểm về biện pháp bảo lĩnh,
có thể đưa ra một định nghĩa khoa học, đầy đủ về khái niệm bảo lĩnh như sau:
Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn trong Luật tớ tụng
hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố
tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy
định để thay thế biện pháp tạm giam, nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo
tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự
có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT.
Hiểu biết về biện pháp bảo lĩnh trong tố tụng hình sự, sẽ tránh được
tình trạng nhầm lẫn với biện pháp bảo đảm bảo lãnh trong dân sự. Việc làm
sáng tỏ hai biện pháp bảo lĩnh và bảo lãnh sẽ hạn chế những hiểu lầm trong
việc sử dụng thuật ngữ pháp lý và trong việc nhận biết bản chất pháp lý của
quyền áp dụng, căn cứ áp dụng, thủ tục áp dụng đối với mỗi loại biện pháp.
Biện pháp bảo lĩnh được chủ thể của cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối
với bị can, bị cáo trong những trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm cho các
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi, góp phần quan trọng
nâng cao hiệu quả cơng cuộc đấu tranh phịng và chống tội phạm, bảo vệ
các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn
bản pháp luật khác.
16
Thứ hai, bảo lĩnh là một BPNC có tính ít nghiêm khắc. Nói như vậy là
xét trong mối tương quan giữa biện pháp tạm giam và biện pháp bảo lĩnh. Đây
cũng là đặc điểm thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta đối với một số loại
tội phạm, với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt… thì những bị can, bị
cáo có thể được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Người được bảo lĩnh không bị
hạn chế các quyền công dân khác như những bị can, bị cáo bị tạm giữ, tạm
giam nếu họ khơng gây trở ngại, khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét
xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Điều này cũng tránh cho họ
phải chịu áp lực tạm giam chung với tội phạm chuyên nghiệp.
Thứ ba, bảo lĩnh là một BPNC được áp dụng để thay thế biện pháp tạm
giam. Biện pháp bảo lĩnh chỉ được đặt ra khi bị can, bị cáo có quyết định tạm
giam hoặc đang bị tạm giam. Trong trường hợp cơ quan THTT xét thấy
không cần thiết phải tạm giam thì bị can, bị cáo có thể được thay thế bằng
biện pháp bảo lĩnh. Đặc điểm này thể hiện bản chất pháp lý của biện pháp bảo
lĩnh cũng như quán triệt tinh thần Nghị quyế t sớ 49-NQ/TW ngày 02/06/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp năm 2020 với nô ̣i dung “Xác
đi ̣nh rõ căn cứ tạm giam ; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với
một số loại tội phạm ; thu he ̣p đố i tượ ng người có thẩm quyề n quyế t đi ̣nh viê ̣c
bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT. Quyết
định áp dụng biện pháp bảo lĩnh có nghĩa là việc đưa bị can, bị cáo trở về với
xã hội, không để họ bị cách ly khỏi gia đình, xã hội, nhờ có sự giúp đỡ, giám
sát của gia đình sẽ tạo điều kiện cho họ hướng thiện, tái hòa nhập cộng đồng.
Đây là biện pháp có ý nghĩa nhất định trong TTHS thể hiện sự thu hút vai trò
của quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm.
1.1.3. Ý nghĩa của biện pháp bảo lĩnh trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp bảo lĩnh là một BPNC, vì vậy ngồi nó có ý nghĩa của các
BPNC. Ngoài ra, bảo lĩnh cũng cho thấy những nét riêng của một biện pháp
18