Tóm tắt phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 34

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tính tích cực (TTC) trong học tập là một trong những vấn đề khoa học cơ
bản của lý luận dạy học, đồng thời là nội dung được quan tâm, nghiên cứu từ các bình
diện của lý thuyết tâm lý, giáo dục. Tính tích cực học tập có vai trò quyết định hiệu
quả học tập của HS.
1.2. Phát huy TTC học tập của HS là một phương diện cơ bản của lý luận đổi
mới dạy học. Đây là nguyên tắc dạy học xuyên suốt, làm cơ sở cho việc tổ chức các
hoạt động dạy học cũng như huy động phương pháp, biện pháp dạy học.Mặt khác
trong hoạt động dạy học, TTC học tập không chỉ tồn tại như một trạng thái, một điều
kiện mà nó còn là kết quả của hoạt động học tập, là mục đích của quá trình dạy
học.Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân cách, một thuộc tính của quá trình
nhận thức giúp cho quá trình nhận thức luôn luôn đạt kết quả cao, giúp cho con người
có khả năng học tập không ngừng.
1.3. Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển
nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp sau này. Là
những chủ nhân tương lai của đất nước, HS không chỉ cần có vốn kiến thức cơ bản, kĩ
năng phổ thông cần thiết mà còn phải có một ý thức học tập tích cực. Đây là một thói
quen tốt nếu rèn luyện được sẽ rất hữu ích cho quá trình học tập lâu dài sau này của
các em.
1.4. Nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học là nhằm trang bị cho HS những
kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho HS kĩ năng sử dụng tiếng
Việt trong giao tiếp. Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện ở bốn kỹ năng (nghe – nói
– đọc – viết). Đây là những kỹ năng quan trọng để HS học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Đồng thời là cơ sở để HS tiếp thu và học
tốt các môn học khác ở các lớp trên. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp
phần rèn luyện các thao tác của tư duy.


2

tập tích cực cho HS.Đó là “1.Tư duy để học; 2.Đặt câu hỏi; 3.Lập kế hoạch; 4.Thảo
luận; 5.Vẽ sơ đồ nhận thức; 6.Tư duy đa hướng; 7.Học tập hợp tác; 8.Kèm cặp;
9.Kiểm điểm; 10.Tạo nên một cộng đồng học tập”. Tác giả đã nêu lên các cách thức
học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các cách
thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành động tích cực lĩnh
hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân.
Carrol.E.Jzard trong tác phẩm “Những cảm xúc của người” đã công bố công
trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành phần không thể thiếu của
TTC của con người, bởi “có thể phán đoán vị trí xã hội trên bậc thang văn minh theo
mức độ phổ biến tính tò mò trong các thành viên của nó, rằng sự phát triển và sự sụp
đổ của các nền văn minh có liên quan ở mức độ nào đó, đến những bộ óc vĩ đại của
những nền văn minh này theo đuổi khát vọng khái quát lý luận và tìm kiếm cái mới,
chứ không phải là suy ngẫm những thành tựu của quá khứ”.Tác giả đã trình bày ảnh
hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của TTC. Tác giả còn
nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng của TTC của con người mà biểu
hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và ở mức độ cao là “khao khát nghiên cứu”,
khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn trong tri giác và chú ý …Trong tác phẩm
này tác giả đã tiếp thu thành tựu của các tác giả nghiên cứu về các hiện tượng trên
một cách có chọn lọc, có phê phán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall,
Berlyne, Shand…
Đặc biệt nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã
được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và
làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu
cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật
để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của
mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái
nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một
cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận.




5
mức độ cao của các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức.Nó
vừa là mục đích học tập vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là
kết quả của học tập.Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân.
2.2. Về dạy học phân môn Luyện từ và câu
Ở lĩnh vực khoa học này, Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh – trong tài liệu Dạy học
từ ngữ ở Tiểu học - đã trình bày cơ sở lí luận chung của việc dạy từ ngữ, phân tích
những ưu điểm và hạn chế của chương trình và tài liệu dạy học từ ngữ ở Tiểu học,
đồng thời cũng đưa ra quy trình dạy học các dạng bài, trong đó có quy trình dạy học
lí thuyết về từ ngữ cho HS lớp 4, 5. Tất cả những nhận xét về nội dung và đề nghị về
phương pháp dạy đều dựa trên chương trình và SGK cải cách.
Trong Hỏi đáp về dạy - học Tiếng Việt 4 và Hỏi đáp về dạy - học Tiếng Việt 5,
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và các cộng sự đã giúp GV nắm được những vấn đề cần
quan tâm trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt, giải đáp những băn khoăn thắc
mắc của nhiều GV hiện nay về nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt
cũng như đã đưa ra quy trình, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá vai
trò của người học cũng như những điều cần lưu ý trong khi dạy và học các bài lí
thuyết về từ ngữ.
Trong khi đó, với giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học,
GS.TS Lê Phương Nga đã nêu lên một số nguyên tắc và thủ thuật dạy học LTVC.
Ngoài ra tác giả còn gợi ý về việc tổ chức dạy các kiểu bài, các thể loại theo nội dung
dạy học LTVC ở tiểu học. Tác giả đưa ra những ví dụ cụ thể làm dẫn chứng, đồng
thời khái quát lên thành các dạng bài để rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt ở
Tiểu học.
Tác giả Trần Mạnh Hưởng, trong sách Luyện từ và câu, đã đưa ra những điều
cần lưu ý về môn Tiếng Việt và phân môn LTVC ở lớp 4, từ đó giúp GV có cái nhìn
bao quát hơn về phân môn này để giúp các em học tập ở nhà. Đồng thời, tác giả cũng
đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho việc học từng tiết LTVC trên lớp, mỗi tiết học tác


- Phạm vi đề tài chỉ tập trung vào một phân môn ở một khối lớp là “Luyện từ
và câu” lớp 4.
- Học sinh khối 4 trường Tiểu học Gia Khánh – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về TTC học tập của HS nói chung và tính
tích cực học tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng.
- Phân tích thực trạng TTC học tập phân môn “Luyện từ và câu” của học sinh
lớp 4 và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất các biện pháp phát huy TTC học tập của HS lớp 4 trong phân môn
“Luyện từ và câu”.
- Thử nghiệm tác động một số biện pháp nhằm nâng cao TTC học tập phân
môn “Luyện từ và câu” của HS lớp 4 trường Tiểu học Gia Khánh, Bình Xuyên, Vĩnh
Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; Phương
pháp quan sát; Phương pháp điều tra; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp thực
nghiệm sư phạm; Phương pháp thống kê.
7. Giả thuyết khoa học
Tính tích cực học tập phân môn “Luyện từ và câu” của HS lớp 4 ở các trường
tiểu học, trong đó có trường Tiểu học Gia Khánh chưa cao. Nếu áp dụng thành công
các biện pháp dạy học theo quan điểm phát huy TTC trong học tập của HS thì chẳng
những có thể cải thiện chất lượng dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4 mà còn
góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt tiểu học nói chung.
8. Bố cục của luận văn


8
Luận văn gồm các phần:
- Mở đầu

tính qui định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền
vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua. Tính
tích cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động
và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể. Tính tích cực
được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động.
1.1.1.3.Cơ sở giáo dục học của tính tích cực trong học tập
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta phải đảm bảo cho hoạt
động của thầy và hoạt động của trò thống nhất với nhau. Vì vậy, một mặt phải phát
huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực , tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức
của trò. Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt chẽ giữa những tác động
bên ngoài của GV , biểu lộ trong việc trình bày tài liệu chương trình va tôt chức công
tác học tập của HS, với sự căng thẳng trí tuệ “ bên trong “ của các em mới tạo nên
được cơ sở của sự học tập có kết quả.
1.1.1.4. Quan niệm về tính tích cực trong học tập
1.1.1.4.1.Khái niệm về tính tích cực
Chúng tôi cho rằng TTC của cá nhân gắn liền với trạng thái hoạt động của chủ
thể. Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong
hoạt động. Tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng
bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng, tính
“trương lực” của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính
qui định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền vững
tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua. Tính tích
cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và
cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể. Tính tích cực được
nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động.


10
1.1.1.4.2. Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập của HS là sự ý thức tự giác của HS về mục đích học,

1.2.1.2.2. Định hướng tổ chức dạy học LTVC
a.Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ về câu
b. Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ
Dạng bài thực hành được phân chia thành việc tổ chức dạy các dạng bài về bài
tập dạy nghĩa từ, giải nghĩa bằng trực quan, bài tập hệ thống hóa vốn từ, bài tập sử
dụng từ ( tích cực hóa vốn từ)
1.2.2. Thực trạng dạy và học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4
1.2.2.1. Phương pháp dạy học của GV
Chúng tôi nhận thấy rằng trong dạy học phân môn LTVC, việc sử dụng các
hình thức dạy học của GV còn đơn điệu, còn chưa chú trọng việc tích hợp các nội
dung kiến thức LTVC thông qua các môn học khác để nhấn mạnh, khắc sâu kiến thức
cho HS.
1.2.2.2 Phương pháp học tập của HS
Phải nói rằng việc nắm kiến thức từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt của học sinh lớp
4 mà tôi trực tiếp giảng dạy đầu năm học còn nhiều hạn chế bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân khác nhau.
1.2.3. Thực trạng tính tích cực học tập phân môn “Luyện từ và câu” của HS lớp
4 ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc


12
1.2.3.1. Khảo sát thực trạng tính tích cực học tập phân môn “Luyện từ và câu” của
HS lớp 4 ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
Khảo sát những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy các dạng bài tập
LTVC của GV và HS lớp 4 Trường Tiểu học Gia Khánh- Bình Xuyên- Vĩnh Phúc. Trên
cơ sở đó đề xuất các biện pháp phát huy TTC học tập phân môn “ Luyện từ và câu” của
HS lớp 4.
• Đối với chương trình, sách giáo khoa
Số tiết LTVC của chính SGK lớp 4D gồm 2 tiết/ tuần. Sau mỗi tiết hình thành
kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài.

trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người
tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù phải
khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao. Trong
hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy hứng thú
đối với các môn học của HS tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em.
2.1.2. Các biện pháp cụ thể
2.1.2.1. Tạo sự gần gũi hứng thú ban đầu cho các em
Kiểm tra bài cũ để GV nắm bắt việc học ở nhà của HS, nhưng nếu chỉ đơn thuần
là kiểm tra kiến thức của bài học trước sẽ gây cho HS cảm giác nhàm chán hoặc "sợ". Vì
vậy, hình thức kiểm tra là rất quan trọng để gây hứng thú học tập cho HS. Có thể kiểm
tra bằng nhiều hình thức như: hỏi - đáp giữa GV và HS, giữa HS và HS, trò chơi ...
2.1.2.2. Khích lệ, động viên HS trong quá trình học tập
Trong quá trình giảng dạy, GV luôn tìm câu hỏi gợi mở giúp HS giải nghĩa từ
hoặc phát hiện ra lỗi đặt câu...thông qua các chủ điểm của môn tiếng Việt và chủ


14
điểm từng đơn vị học của phân môn LTVC, tạo cho các em nguồn cảm hứng, khơi
dậy tình yêu quê hương, đất nước, con người. GV dành nhiều thời gian nghiên cứu
kiến thức tiếng Việt để bản thân có vốn hiểu biết nhằm phân tích mở rộng cho các
em.GV cần chấm chữa bài, sửa lỗi, đánh giá thường xuyên để kịp thời khích lệ,
động viên HS và cho HS tham gia vào quá trình đánh giá kết quả học tập của mình.
2.2. Phát huy vốn sống, vốn kiến thức về từ và câu của HS
2.2.1. Vốn sống, vốn kiến thức về từ và câu của HS lớp 4
Vốn sống rất quan trọng và cần thiết đối với tất cả mọi người đặc biệt là học
sinh giỏi Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
2.2.2. Các biện pháp cụ thể
2.2.2.1. Tích luỹ kiến thức về đời sống và Tiếng Việt
Muốn học tốt môn Tiếng Việt, GV cần cho HS hiểu tầm quan trọng của việc
tích luỹ kiến thức. Nguồn kiến thức về cuộc sống xung quanh, tình cảm gia đình,

1. KTBC(3-5')

2. Bài mới

2. Bài mới

a. GBT: 1 - 2'

a. GTB (1-2')

b. Hình thành KN: 10-12'

b. Hướng dẫn thực hành (32-34')

- Giáo viên sẽ phân tích ngữ liệu

- Đọc và xác định yêu cầu của BT

c. Hướng dẫn luyện tập: 20 - 22'

- Hướng dẫn 1 phần BT mẫu

- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập

- Học sinh là BT

- Hướng dẫn giải 1 phần bài tập mẫu

- Chấm chữa - nhận xét -> Chốt KT


2.4.1.2. Mục tiêu chi tiết cho từng nội dung kiến thức của phân môn LTVC
2.4.1.3.Câu hỏi trắc nghiệm và đáp án.
2.4.1.3.1.Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi trắc nghiệm
2.4.1.3.2. Soạn 20 câu hỏi trắc nghiệm
2.4.1.4. Câu hỏi tự luận và đáp án
2.4.1.4.1. Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi tự luận
2.4.1.4.2. Soạn 20 câu hỏi tự luận và đáp án
Tiểu kết chương 2


17
Phương tiện, điều kiện dạy học và phương pháp giảng dạy có ảnh hưởng rất
lớn đến TTC học tập của HS. Tổ chức dạy các dạng bài tập trong phân môn LTVC
cho HS lớp 4 nhằm phát huy TTC của HS có thể ứng dụng nhiều phương pháp, biện
pháp dạy học khác nhau. Với từng nhóm biện pháp,trong các tình huống dạy học ta
có thể có nhiều cách xử lí và giải quyết. Không có một phương pháp dạy học nào là
tối ưu. Mỗi biện pháp, phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, nhưng nếu chúng
được sử dụng hợp lý, khoa học sẽ phát huy được công dụng của nó. Các phương pháp
và biện pháp này sẽ được ứng dụng ở chương 3.
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM DẠY HỌC
3.1. Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài đồng thời kiểm
nghiệm, đánh giá tính khả thi, giá trị thực tiễn của “Phát huy tính tích cực học tập của
học sinh trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.
Thông qua thực nghiệm, người viết có thể bổ sung, điều chỉnh các vấn đề lý
luận làm cho nội dung, phương pháp dạy học hợp lý hơn.
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm
Nghiên cứu để lựa chọn đối tượng thực nghiệm và nội dung thực nghiệm.
Xây dựng thiết kế bài dạy, chuẩn bị các điều kiện, thiết bị phục vụ bài dạy.

1

2

4A

4B

số

Giỏi

HS

SL

%

30

18

60,0 9

19

30

Khá



nghiệm

17

56,7 8

26,7 3

10,0

2

6,6

13

43,4 7

23,3 7

23,3

3

10,0

SL

%


13,3

chứng

Bảng đối chiếu kết quả đo nghiệm lớp 4C và lớp 4D trường tiểu học Gia Khánh
– Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
Thứ Lớp Tổng
tự

1

2

Kết quả đo thực nghiệm

số HS Giỏi

4C

4D

29

28

Khá

SL



58,6 4

13,8 7

24,1

1

3,5

nghiệm

15

51,7 9

31,0 4

13,8

1

3,5

15

53,6 4

14,2 6


3

10,7

đối

Qua việc tổng hợp các kết quả đo nghiệm, chúng tôi tiến hành so sánh từng
lớp, từng trường và đi đến nhận xét như sau:
Các lớp thực nghiệm có kết quả cao hơn lớp đối chứng, các lớp thực nghiệm có
kết quả làm bài đạt loại khá giỏi nhiều hơn, kết quả kiểm tra đo thực nghiệm của các
lớp thực nghiệm đều cao hơn lớp đối chứng.Điều này chứng tỏ, các lớp thực nghiệm
đã làm được về nội dung, phương pháp, quy trình của luận văn đã đề xuất.
Nội dung đo nghiệm của câu 1 nhằm kiểm tra kiến thức lý thuyết mà các em
vừa được cung cấp ở phần bài học, lớp thực nghiệm làm tốt hơn hẳn so với lớp đối
chứng. Điều đó chứng tỏ HS nắm được kiến thức lý thuyết rất chắc.Đây là điều kiện
áp dụng phương pháp mới vào dạy học. Các lớp thực nghiệm có kết quả cao là do
thiết kế bài giảng linh hoạt, vận dụng và phối hợp các phương pháp trong dạy học.
Khai thác tri thức cũ và phát triển tri thức mới đến mức tối đa, vận dụng giữa lý
thuyết và thực hành, tổ chức hoạt động học tập một cách nhẹ nhàng, hiệu quả. Ngược


20
lại các lớp đối chứng có kết quả thấp là do vận dụng máy móc dập khuôn, bài bản,
chưa thực sự đổi mới về nội dung lẫn phương pháp.
Nội dung đo nghiệm ở câu 2 với mục đích kiểm tra nhận diện và phát hiện câu
kể Ai thế nào? trong đoạn văn cho sẵn, đồng thời xác định được chủ ngữ, vị ngữ
trong các câu kể Ai thế nào? Kết quả đo nghiệm cho thấy, HS lớp thực nghiệm đạt từ
khá trở lên cao hơn lớp đối chứng. Điều này chứng tỏ rằng, lớp thực nghiệm đã thể
hiện được khả năng tiếp thu bài và vận dụng kiến thức vừa học vào làm tốt các bài

việc thực hiện tiến trình sẽ gặp nhiều khó khăn).
Tiểu kết chương 3
Qua toàn bộ chương 3, chúng tôi rút ra được những luận điểm sau:
1. Kết quả của những tiết thực nghiệm đã khẳng định giả thuyết luận văn đưa
ra là có căn cứ khoa học, có tính khả thi trong thực tế.
2. Việc bổ trợ kiến thức về câu, bồi dường nghiệp vụ sư phạm và nâng cao ý
thức trách nhiệm cho GV là việc làm cần thiết và đáng được quan tâm, đặc biệt ở cấp
tiểu học.
3. Việc dạy lý thuyết về câu cần được chú trọng và quan tâm xứng đáng. Giờ
học lý thuyết nhẹ nhàng, hiệu quả là một giờ dạy đem lại hứng thú học tập cho HS,
giúp các em nắm vững kiến thức về lý thuyết nhưng không cứng nhắc và khô khan.
Theo chúng tôi, một tiết dạy lý thuyết về câu bao gồm các bước sau:
Bước 1: Phân tích ngữ liệu với mục đích từng bước làm rõ những dấu hiệu bản
chất của khái niệm.
Bước 2: Khái quát hóa các dấu hiệu, thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu của
khái niệm, thuật ngữ. HS nắm thao tác so sánh và tổng hợp.


22
Bước 3: Trình bày định nghĩa khái niệm, chính xác hóa bản chất của dấu hiệu
và các mối quan hệ giữa chúng.
Bước 4: Cụ thể hóa khái niệm ngữ pháp, ứng dụng kiến thức vào hoạt động lời
nói và thông qua các bài tập.
Việc dạy lý thuyết phải luôn đi đôi với thực hành.Theo chúng tôi, ở tiểu học, HS
cần được chú trọng luyện tập thực hành thông qua các bài tập về câu.
Bằng sự kiểm chứng qua các tiết dạy thực nghiệm và kinh nghiệm dạy học của
bản thân, chúng tôi đưa ra các dạng bài tập về câu và nêu lên các hướng giải quyết
cho tất cả các bài tập đó. Với cách làm trên, HS nắm chắc các dạng bài tập và vận dụng
lý thuyết vào thực hành một cách có hiệu quả.


tích cực, GV cần hướng dẫn HS tự giác làm bài tập và lĩnh hội kiến thức. Thiết kế
giáo án theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng tăng cường tổ
chức các hoạt động trí tuệ cho HS, để HS làm việc theo sự hướng dẫn của GV. Ứng
dụng phương pháp đổi mới dạy học theo định hướng phát huy vai trò chủ động,
sáng tạo, lấy người học làm trung tâm.
Từ cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu và những minh chứng trên, theo chúng
tôi để khắc phục tình trạng dạy học câu ở tiểu học cần:
- Bổ trợ kiến thức về câu, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và nâng cao ý thức
trách nhiệm cho mỗi GV. Xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho GV tiểu học.
- Tổ chức tốt các giờ dạy lý thuyết có hiệu quả thông qua các hoạt động day –
học trong các trường tiểu học. Giáo viên tạo mọi điều kiện cho HS tương tác lẫn


24
nhau, tạo mọi điều kiện để HS trình bày ý kiến của mình, cho HS suy nghĩ, thể hiện
và bảo vệ ý tưởng của cá nhân trước tập thể.
- Giúp HS làm tốt các bài tập thông qua nhận diện, phân loại các dạng bài tập
bằng con đường luyện tập – thực hành.
- Giáo viên cần chú ý khắc phục các lỗi của HS .Hình thành cho HS có thói
quen nhận diện, phân loại và sử dụng câu đúng mẫu.
- Giáo viên sử dụng hợp lý các phương tiện dạy học hiện đại, kết nối, xâu
chuỗi, vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy trong những tình huống cụ thể, trong
từng bài giảng cụ thể và ở từng đối tượng HS. Đồng thời GV thường xuyên đánh giá,
khen thưởng những HS tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập một cách kịp thời,
đúng mức.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status