Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng để
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Và là
vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cải
cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế luật thuế
doanh thu bằng luật thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 11
Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời của luật
thuế giá trị gia tăng được xem là một bước ngoặc có tính đột phá trong công
tác quản lý thu thuế và đã thể hiện được sự mạnh dạn, đương lối đúng đắn của
Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp, số lượng đăng ký tăng gấp
nhiều lần đã tạo số thu lớn trong số thu ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, đây
cũng là lĩnh vực thất thu lớn và gian lận thuế diễn ra khá phổ biến. Điển hình
là thuế giá trị gia tăng trong đó: Tình trạng sử dụng hoá đơn giả, khai khống
hoá đơn đầu vào để xin hoàn thuế, ghi giá trên hoá đơn thấp hơn giá thực tế...
đang là vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Để khắc phục được những hạn chế
trên thì cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối
với loại hình doanh nghiệp này.
Hưng Yên là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm vùng Đông Bắc
Bộ, kể từ khi có luật doanh nghiệp và đặc biệt là từ khi có luật thuế mới ra đời
đã có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập, góp phần không
nhỏ và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Thời gian qua, Cục thuế Hưng
Yên đã đạt được khá nhiều kết quả tốt trong công tác quản lý thu thuế đối với
khu vực doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, trong công tác quản lý thu thuế giá
trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Cục thuế Hưng Yên
cũng gặp khá nhiều khó khăn. Điển hình là công tác quản lý hoá đơn chứng từ
chức năng Cục thuế Hưng Yên góp ý kiến để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Hồng Anh
2
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI
CÁC DNNQD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển của các NDNQD
do cục quản lý trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
1.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở phía Đông thành phố Hà Nội,được tách ra
từ tỉnh Hải Hưng cũ từ năm 1997, Hưng Yên có mạng lưới giao thông phong
phú, có đủ cả đường sắt, đường bộ, đường thủy; Hưng Yên giáp với các tỉnh:
Bắc Ninh, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nam nên việc trao đổi, lưu
thông hàng hoá dễ dàng. Diện tích đất tự nhiên vào khoảng 923,09km 2 và dân
số sấp sỉ 1.145.000 người, tỉnh có 10 đơn vị hành chính là: Thành phố Hưng
Yên; các huyện Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Ân
Thi, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ.
Trong những năm vừa qua, mặc dù còn không ít khó khăn song Đảng
bộ và nhân dân toàn tỉnh Hưng Yên đã phấn đấu đạt nhiều thành tựu đáng
trình duyệt, 2 khu công nghiệp phía Bắc tỉnh giáp với Hải Dương được quy
hoạch và trình duyệt để phát huy hiệu quả sử dụng của QL.39B vừa khánh
thành vào tháng 12/2010, tạo điều kiện phát triển kinh tế và giao lưu thương
mại giữa tỉnh Hưng Yên – Hải Dương nói chung và khu vực Huyện Phù Cừ
và Thanh Miện nói riêng. Ngoài ra,7 cụm công nghiệp làng nghề được phê
duyệt trong số 10 cụm đã quy hoạch.
Tổng thu ngân sách năm 2010 đạt 2.477,15 tỷ đồng, kim ngạch xuất
khẩu năm 2009 đạt 503 triệu USD, 2010 đạt 725 triệu USD. Kinh tế dịch vụ
phát triển mạnh và đồng bộ, bình quân hàng năm đạt 14,8%, nhất là các lĩnh
vực xuất, nhập khẩu, giao thông, bưu điện, điện lực; giáo dục đào tạo tiếp tục
phát triển, công tác xã hội hoá giáo dục được quan tâm đúng mức, công tác
đào tạo nghề từng bước được mở rộng, việc khám chữa bệnh được quan tâm,
công tác dân số gia đình và trẻ em đã có chuyển biến tích cực , công tác xã
hội hoá TDTT và phong trào TDTT quần chúng có bước phát triển, đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo còn được 1,8%, an ninh
chính trị ổn định, nhất là an ninh nông thôn, trật tự an toàn xã hội được giữ
vững, số vụ phạm pháp hình sự giảm dần qua các năm. Nhiệm vụ quốc phòng
về công tác quân sự địa phương tiếp tục được củng cố tăng cường. Trong năm
2011 này, để thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm 2011 - 2015, tỉnh
đã đề ra chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội như sau:
Tích cực triển khai nhanh các thủ tục để thu hút đầu tư và sớm đưa các
dự án vào hoạt động đến hết năm 2011. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp
đạt 17.000 tỷ, hoàn thành phê duyệt xong 3 khu công nghiệp tập trung, 10 khu
công nghiệp làng nghề, quy hoạch xong 2 khu công nghiệp phía Bắc tỉnh,
hoàn thành xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng 1 khu công nghiệp khoảng 100ha.
Tập trung lãnh đạo tạo bước chuyển biến rõ rệt trong kinh tế dịch vụ, tập
Nguyễn Hồng Anh
4
Nguyễn Hồng Anh
5
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 1.1: Tỉ lệ các DN NQD trong khu vực kinh tế qua các năm
Đơn vị tính : (%)
ST
T
Năm
2011
2006
2007
2008
2009
2010
1,9
1,14
0,51
3
XN có
ĐTNN
40,77
36,37
25,27
24,62
26,1
8
4
Kinh tế NQD
9,06
10,5
hằng năm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
SỐ lưỢng DNNQD
SỐ VỐN ĐĂNG KÝ
KINH DOANH
2007
1.672
2.194.824
2008
2.127
4.912.122
2009
2.584
5.783.211
2010
3.297
(%)
410
14
1,47
466.463
142.750
2%
Công ty 2.072
TNHH
483
51
4.152.87
2
3.763.08
7
57%
Công ty 722
là tất cả các DNNQD. Số liệu cụ thể như sau.
Nguyễn Hồng Anh
7
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 1.4: Số lượng DNNQ ngành thuế quản lý đã phát sinh nghĩa
vụ nộp thuế phân loại theo loại hình qua các năm
LoẠi
hình DN
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng
(%)
(%)
(%)
C.ty Cổ 323
0,75
9
1,17
14
1,48
Tổng
669
100
770
100
947
100
(Nguồn:Phòng KK-KTT)
Như vậy, có thể thấy tuy số lượng DN đăng ký ở các cơ quan đăng ký
kinh doanh lớn nhưng không phải tất cả đều đi vào hoạt động và làm phát
sinh nghĩa vụ nộp thuế, có một số DN thành lập nên không phải để hoạt động
sản xuất kinh doanh mà nhằm mục đích khác hoặc có nhiều DN thành lập nên
sáng tạo, linh hoạt trong kinh doanh, đa dạng hóa hoạt động đầu tư, biết đầu
tư đúng hướng có rất nhiều DNNQD đã và đang hoạt động có hiệu quả, lợi
nhuận năm sau lớn hơn năm trước như công ty Dịch vụ vận tải Phượng
Hoàng, Công ty sản xuất thương mại Phúc Tiến…đóng góp số thu lớn cho
NSNN.
Sự tồn tại và hoạt động của hệ thống các DNNQD trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên cũng đã góp một phần đáng kể vào việc giải quyết vấn đề việc làm
cho người lao động. Theo số liệu ngành thuế quản lý thì chỉ tính riêng loại
hình công ty TNHH, công ty cổ phần tư nhân và DNTN trong năm 2008 thu
hút được 12.974 lao động và đến năm 2009 đã lên đến 14.158 lao động. Năm
2010 vừa qua theo khảo sát của Sở Lao động Thương binh và Xã hội trên 600
DNNQD tại địa bàn tỉnh cho thấy có 15.000 lao động đang làm việc trong các
doanh nghiệp này. Tuy nhiên số lao động có việc làm thường xuyên chỉ đạt
gần 54%.
Như vậy với thực trạng các DNNQD trên địa bàn tỉnh như trên đòi hỏi
công tác quản lý thuế cần phải bao quát được hết các doanh nghiệp trênn địa
bàn, nắm rõ tình hình hoạt động kinh doanh liên quan đến việc thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp lớn nhưng chủ
yếu là qui mô nhỏ dễ thay đổi hình thức kinh doanh, hoạt động không tập
trung nên rất khó quản lý, buộc cơ quan thuế phải có sự phối hợp chặt chẽ với
các ban ngành khác có liên quan trong quá trình quản lý. Cơ cấu ngành nghề
lại tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất nên công tác quản lý hóa đơn
chứng từ cần phải được đặc biệt chú trọng tránh để doanh nghiệp lợi dụng kẽ
hở để lách luật gây thất thu cho NSNN.
Nguyễn Hồng Anh
9
K45/02.01
Trình độ
Thạc sỹ Đại học
Cao
đẳng
Trung
cấp
2008
85
12
1
46
34
16
97
2009
88
14
Nguyễn Hồng Anh
10
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
- Có 01 đồng chí Cục trưởng: Phụ trách chung kế hoạch thu thuế và chịu
trách nhiệm trước Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về toàn bộ hoạt động của
Cục thuế.
- Có 03 đồng chí Phó Cục trưởng: Chịu trách nhiệm trước cục trưởng về các
nhiệm vụ được Cục trưởng phân công.
- Có 13 đồng chí Trưởng phòng và 23 đồng chí Phó phòng.
Nguyễn Hồng Anh
11
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Mô hình tổ chức bộ máy Cục thuế Hưng Yên :
- Phòng Kiểm tra Nội bộ
Các trưởng phòng, phó phòng và đội ngũ nhân viên thực hiện chuyên môn ở
từng phòng, thực hiện từng chức năng cụ thể.
Nguyễn Hồng Anh
12
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
* Cục bao gồm 13 phòng chức năng tham mưu giúp việc Cục trưởng, thực
hiện các nhiệm vụ cơ bản :
- Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế
tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ
người nộp thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý.
- Phòng Kê khai và Kế toán thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức
thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê
thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý.
- Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ
chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng
chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý.
- Phòng Kiểm tra thuế số 1 và số 2: Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra,
giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người
nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế theo phân công quản
quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và
bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý
của Cục trưởng Cục Thuế.
- Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức quản lý và vận hành
hệ thống trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng
tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ
thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý.
- Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển
khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền
lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ
Cục Thuế.
- Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục
Thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư,
lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị,
quản lý ấn chỉ thuế trong toàn Cục Thuế.
Cùng với ngành thuế cả nước từ ngày 01/07/2007 đến nay mô hình tổ chức
bộ máy quản lý tại Cục thuế Hưng Yên được tổ chức theo mô hình chức năng
kết hợp sắc thuế. Việc áp dụng mô hình này vào trong quản lý thuế đối với
DNNQD mang lại rất nhiều ưu điểm. Cụ thể là:
- Về phía các DNNQD được giảm bớt các thủ tục hành chính trong việc kê
khai nộp thuế, hoàn thuế thong qua việc giảm bớt số lượng giấy tờ phải cung
Nguyễn Hồng Anh
14
K45/02.01
Học viện tài chính
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Quy trình quản lý “một cửa” giải quyết thủ tục hành chính thuế tại Cục
thuế Hưng Yên.
Bộ
Bộphận
phậnTuyên
Tuyên
truyền-Hỗ
truyền-Hỗtrợ
trợ
NNT
NNT
(Bộ
(Bộphận
phận“một
“một
cửa”
cửa”))
Hồ
Hồsơ
sơkhai
khai
thuế
tra
thuế.
thuế.
Kho
KhoBạc
BạcNhà
Nhà
Nước
Nước
Nguyễn Hồng Anh
(Phòng
(Phòng TT
TT thuế
thuế số
số 1,2
1,2 ––
Phòng
Phòng KTT
KTT số
số 1,2).
1,2).
16
K45/02.01
hiện
So sánh tỷ lệ %
TW giao
Tỉnh
giao
Cùng kỳ
năm trước
2008
263.340
272.435
269.034
102,16
98,75
132,47
2009
334.130
341.560
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Sở dĩ kết quả đạt được trong từng năm được như trên là do ảnh hưởng của
nhiều nhân tố, về cơ bản có thể thấy:
Năm 2008, thu thuế GTGT từ các DNNQD đạt 240.154 triệu đồng, đạt
92,13% tổng thu từ các DNNQD, và đạt 89,63% tổng thuế GTGT từ khu vực
NQD. Hầu hết các chi cục huyện, thành phố và Văn phòng cục đều hoàn
thành vượt mức dự toán giao, so với cùng kỳ tăng cao, cụ thể : Văn phòng cục
tăng 43,52% so với cùng kỳ, Mỹ Hào tăng 67,81% so với cùng kỳ, Kim Động
tăng 23,49% so với cùng kỳ, Văn Lâm tăng 58,21% so với cùng kỳ và Tiên
Lữ tăng 27,15% so với cùng kỳ năm trước. Toàn tỉnh có 430 đơn vị hoàn
thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao, một số đơn vị có số thu lớn hoàn thành
là : Công ty cổ phần nội thất Hòa Phát ( MST: 0900189284) nộp NSNN
43.872 triệu đồng, Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Hưng Yên (MST:
0100514947 – 003) nộp NSNN 1.532 triệu đồng.
Năm 2009, thu thuế GTGT từ các DNNQD đạt 345.831 triệu đồng, đạt
103,5% chỉ tiêu Trung ương giao, và đạt 101,25 chỉ tiêu UBND tỉnh giao,
tăng 128,55% so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp có số thu cao
như : Công ty TNHH điện lạnh Hòa Phát ( MST: 0900187865) nộp NSNN
39.427 triệu đồng, Công ty quản lý khai thác khu công nghiệp Phố Nối A
( MST: 0900227074 ) nộp NSNN 26.676 triệu đồng.
Năm 2010 vừa qua là một năm khó khăn đối với hoạt động của các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu suy thoái
chung và lạm phát trong nước tăng cao nói riêng. Nhưng cục thuê vẫn hoàn
thành được các chỉ tiêu của trung ương giao, và có số thu tăng cao so với năm
trước đạt 120,78% cùng kỳ.
nộp thuế) , đồng thời đảm bảo sự đóng góp công bằng giữa các cơ sở kinh
doanh. Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực đã cải thiện hơn môi trường kinh
doanh cho các doanh nghiệp, nhiều DNNQD được thành lập và hoạt động đa
dạng trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau; do đó công tác quản lý NNT
cần được chú trọng nhiều hơn, có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các phòng ban
chức năng với nhau và cần được tăng cường trên tất cả các phương diện như
quản lý về số lượng DNNQD, quy mô và ngành nghề kinh doanh, địa bàn,
phương pháp nộp thuế GTGT.
Hiểu được tầm quan trọng của công tác này, Cục thuế Hưng Yên đã kết
hợp nhiều cách thức quản lý đối tượng khác nhau.
Phân cấp quản lý doanh nghiệp theo quy mô vốn:
Theo chỉ thị công văn số 4930/TCT-TCCB 26/11/2007 hướng dẫn chỉ
đạo các Cục thuế tăng cường phân cấp quản lý thuế đối với các doanh nghiệp
cho các Chi cục thuế, trên cơ sở đó, Cục thuế Hưng Yên chỉ quản lý trực tiếp
các doanh nghiệp lớn, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều huyện, nhiều
tỉnh và thành phố; quản lý những doanh nghiệp đưa lại nguồn thu lớn và quan
trọng cho ngân sách. Còn các Chi cục quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có
Nguyễn Hồng Anh
19
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
qui mô, phạm vi kinh doanh vừa và nhỏ trên địa bàn huyện, thành phố. Theo
392
DNTN
637
14
623
HTX
236
0
236
Tổng
4106
847
3159
(Nguồn: Phòng KK-KTT)
Quản lý doanh nghiệp theo địa bàn và theo loại hình:
Việc phân loại doanh nghiệp theo từng địa bàn để có thể phân chia, bố trí
hiện qua số liệu ở bảng 2.11.
Bảng 1.9: Tình hình quản lý DNNQD theo từng loại hình doanh
nghiệp.
Loại hình
DN
Năm 2009
Năm 2010
Số lượng
Tỉ lệ(%)
Số lượng
Tỉ lệ(%)
C.ty TNHH
1.963
54,37
2.391
58,23
C.ty cổ phần
3.610
100
4.106
100
(Nguồn: Phòng KK-KTT)
Nguyễn Hồng Anh
21
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 1.10: Tình hình quản lý DNNQD theo ngành nghề
Ngành nghề
Năm 2009
Năm 2010
Số lượng
12,50
680
16,55
Xây dựng
194
5,34
94
2,30
(Nguồn: Phòng Kê khai-Kế toán thuế)
Với phương châm NNT là người bạn đồng hành của cơ quan thuế, các
hoạt động của doanh nghiệp luôn được cơ quan thuế theo sát. Đối với các
doanh nghiệp nếu quá thời hạn qui định mà không hoạt động, bỏ trốn, cơ quan
thuế sẽ lập biên bản và thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy
phép đồng thời áp dụng biện pháp đóng mã số thuế, thu hồi hóa đơn bán
hàng… Như trường hợp tại phường An Tảo,TP.Hưng Yên, có công ty TNHH
vận tải L.H,trong thời gian 1 năm hoạt động , vẫn thấy có xe ô tô để phục vụ
công việc vận tải, nhưng không đóng thuế, không nộp tờ khai thuế, với trường
hợp này thì ngành thuế coi là doanh nghiệp trốn thuế.
Từ năm 2009 đến nay, chỉ riêng các doanh nghiệp thuộc Chi cục
TP.Hưng Yên quản lý đã có 07 trường hợp bỏ trốn như C.ty TNHH vận tải
L.H. Trước tình hình đó, Cục thuế đã gửi công văn đến tất cả các tỉnh thành
trạng hoạt động của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp do trình độ quản lý
yếu kém, hoặc không tiến hành các hoạt động điều tra, nghiên cứu thị trường
trong hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nên dẫn đến tình trạng hoạt
động không hiệu quả, phải ngừng hoạt động hoặc bỏ trốn. Bên cạnh đó sự phối
kết hợp giữa chính quyền địa phương và cơ quan thuế còn chưa tốt; cơ quan
thuế còn hạn chế trong việc cử cán bộ đi thăm dò tình hình thực tế của các
doanh nghiệp, cùng với số lượng các DNNQD lớn trong khi số lượng, trình độ
cán bộ thuế còn hạn chế do vậy không kiểm soát được hết NNT.
Qua việc phân tích một số vấn đề về công tác quản lý NNT ở Cục thuế
Hưng Yên đã cho thấy cơ quan thuế đã rất cố gắng nhằm khắc phục những hạn
chế để có thể quản lý tốt các đối tượng. Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện
tốt các bước quản lý sau này. Tuy vậy, các cán bộ thuế cần tìm nhiều biện pháp
để tăng cường quản lý tốt hơn nữa các doanh nghiệp.
1.2.3.2. Công tác quản lý thu nộp
* Công tác kê khai – kế toán thuế GTGT.
Kê khai nộp thuế là một hoạt động đặc trưng trong lĩnh vực thuế, là
bước đầu của quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Trong cơ
chế tự tính, tự kê khai, tự nộp thì thông qua việc nộp tờ khai của doanh nghiệp
cơ quan thuế có thể nắm được số thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Đây là một
Nguyễn Hồng Anh
23
K45/02.01
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp
tờ khai tờ khai khai nộp
phải nộp đã nộp
đúng
hạn
Số
tờ
khai nộp
quá hạn
qui định
Số
tờ
khai quá
hạn mức
1
Số
tờ
khai quá
hạn mức
2 và 3
Năm 2009
Công ty 3.554
TNHH
3.513
10
4
Tổng
6.559
6.426
4.568
1.795
1.331
464
Công ty 4.554
TNHH
4.324
3.027
1.296
1.014
8.560
8.089
5.688
2.399
1.849
650
Năm 2010
(Nguồn: Phòng KK-KTT)
Qua biểu trên có thể thấy năm 2010 tỷ lệ nộp tờ khai đạt 94,5% thấp
hơn so với năm 2009 đạt 97,9%, đồng thời có sự gia tăng số lượng tờ khai
nộp quá hạn, cụ thể : tỉ lệ tờ khai quá hạn mức 1 của năm 2010 so với năm
2009 là 139%, tỉ lệ tờ khai quá hạn mức 2 và 3 của năm 2010 so với năm
2009 là 140,1%, tỉ lệ số tờ khai phải nộp năm 2010 so với năm 2009 là
130,5% . Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2010 đã có nhiều DNNQD được
thành lập và đi vào hoạt động ngay trong năm, số lượng tờ khai đã nộp có sự
Nguyễn Hồng Anh
25
K45/02.01