Khóa luân tốt nghiệp
MỤC LỤC
Các giá trị văn hóa tinh thần như cưới hỏi, tang ma, văn nghệ, lối sống trong gia
đình, quan hệ xã hội của người Thái về cơ bản vẫn còn được gìn giữ. Các đội
văn nghệ của bản vẫn thường xuyên tập luyện các làn điệu múa, dân ca truyền
thống như: múa xòe; nhảy sạp, hát mo, hát đối đáp giao duyên... Hiện nay, bản
Lác có 4 đội văn nghệ thường xuyên biểu diễn phục vụ khách khi có yêu cầu.
Bên cạnh đó, các mối quan hệ làng bản vẫn được duy trì ổn định, các hộ gia
đình ứng xử thân thiện, giúp đỡ nhau trong việc đón tiếp khách........................61
Cảnh quan môi trường xanh, sạch, thoáng mát, khí hậu trong lành cũng chính là
một trong những yếu tố thu hút khách đến Mai Châu. Hiện nay, đường đi trong
bản đã bê tông hóa, được quét dọn sạch sẽ, thùng chứa rác đặt dọc đường đi.
Các gia đình đều xây dựng hệ thống nhà vệ sinh tự hoại và nhà tắm tiện nghi.. 61
Để góp phần giải quyết những tác động, tồn tại của hoạt động du lịch đến đời
sống của người Thái ở Mai Châu, các cấp lãnh đạo cần phải có các chính sách
phù hợp, trong đó chú trọng việc khai thác tài nguyên hợp lý, gìn giữ giá trị văn
hóa truyền thống của tộc người khỏi bị mai một. Tập trung nguồn vốn theo
hướng đồng bộ, có trọng tâm, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng tại các điểm du
lịch trọng điểm của tỉnh.......................................................................................62
i
Khóa luân tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phát triển du lịch cộng đồng là một phương thức mới để phát triển du lịch
và là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. Vào những năm đầu tiên của thế
kỷ XXI, phương thức phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở nước ta mới được
làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Đánh giá thực trạng mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Bản Lác,
huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển
mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình và vùng lân cận
trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
cộng đồng tại bản Lác, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng tại bản
Lác, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển mô hình du lịch cộng đồng
tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Loại hình du lịch cộng đồng.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Tìm hiểu về sự phát triển mô hình du lịch cộng đồng
trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa và truyền thống tại dân tộc thiểu số ở
miền núi.
Phạm vi không gian: Thực tế trọng tâm tại bản Lác, huyện Mai Châu, tỉnh
Hoà Bình
Phạm vi thời gian: Thông tin số liệu được cập nhật đến năm 2013
Thời gian nghiên cứu thực trạng từ năm 2011-2013, dự báo phát triển du
lịch cộng đồng năm 2014-2016.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2014- 5/2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Bảng hỏi dành cho khách du lịch đến bản Lác. Bảng hỏi này bao gồm 80
phiếu, mỗi phiếu có 24 câu hỏi nhằm tìm hiểu nhu cầu, mức độ và thái độ khi
đến du lịch tại bản Lác.
3
Khóa luân tốt nghiệp
- Bảng hỏi dành cho người dân ngoài bản Lác. Bảng hỏi này bao gồm 50
phiếu, mỗi phiếu có 18 câu hỏi nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng, sức hút, độ lan
tỏa của hoạt động du lịch cộng đồng tại bản Lác đến các vùng lân cận.
Để hoàn thiện số lượng bảng hỏi này, người viết lựa chọn bổ trợ bằng
phương pháp tìm hiểu tâm lí và vấn đáp với các hộ gia đình trong bản cũng như
du khách đến bản. Kết quả điều tra được dùng làm căn cứ cho việc nghiên cứu
tại chương II và chương III.
4.3. Phương pháp so sánh phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu,
thông tin từ các nguồn thứ cấp và sơ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ
phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Từ đó tổng hợp thành các nhận định, báo cáo
hoàn chỉnh nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu.
4.4. Phương pháp thu thập số liệu, thông tin
4.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
STT Kết cấu đề tài
Nội dung thu thập
Nguồn thu thập
Chương I: Một số Lí do chọn đề tài, cơ sở lí Sách báo, tạp chí,
1
cáo thông kê kinh tế xã hội giai đoạn 2010
– 2013, các số liệu
thông kê từ xã của
huyện...Thống kê của
các sở, phòng, ban có
liên quan.
Khóa luân tốt nghiệp
Chương III: Định Sự thay đổi các chiến Số
3
liệu
của
địa
hướng xây dựng lược kế hoạch với sự phát phương, thông tin từ
mô hình du lịch triển chung của của toàn sách, báo, luận văn,
cộng tại bản Lác, địa phương.
khóa luận, internet...
Mai Châu, Hòa
Bình.
4.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Tác giả đã căn cứ vào tính chất của đề tài nghiên cứu và đưa ra những
phiếu điều tra (phiếu hỏi) phục vụ cho việc thu thập số liệu sơ cấp cho đề tài của
mình. Trong đó, tác giả thực hiện phát phiếu điều tra cho 3 đối tượng. Đó là
5
Khóa luân tốt nghiệp
Khoá luận gồm có 3 phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận bao
gồm 3 chương ở phần nội dung như sau:
Chương I: Một số vấn đề cơ sở lí luận về phát triển du lịch cộng đồng
Chương II: Tìm hiểu mô hình du lịch cộng đồng tại bản Lác, Mai Châu,
Hoà Bình
Chương III: Định hướng xây dựng mô hình du lịch cộng đồng ở bản Lác,
Mai Châu, Hoà Bình
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH CỘNG ĐỒNG
1.1. Khái quát về phát triển du lịch cộng đồng
1.1.1. Các khái niệm về phát triển
Phát triển là xu hướng tự nhiên đồng thời là quyền của mỗi cá nhân, mỗi
cộng đồng hay là mỗi quốc gia.
Phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào
đều được thỏa mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hóa và
6
Khóa luân tốt nghiệp
dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống của mình, có trình độ học vấn cao,
được hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ điều kiện cho môi
trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được
đảm bảo an ninh, an toàn, không bạo lực.
Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đầu vì mục tiêu phát triển và trải qua
thời gian, khái niệm về phát triển cũng đi đến thống nhất. Phát triển kinh tế được
tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu
cầu hiểu biết và giải trí”.
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “ Du lịch là các hoạt động liên
quan đến chuyến đi của con người nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định”.
Sản phẩm du lịch là một tổng thể các dịch vụ tạo thành, các dịch vụ này
đứng riêng không thể gọi là sản phẩm du lịch, khi chúng kết hợp lại với nhau tạo
thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách.
Sản phẩm du lịch có đặc điểm như sau: Sản phẩm du lịch gắn với tài
nguyên du lịch. Sản phẩm du lịch gắn liền giữa sản xuất và tiêu dùng, thường là
không dịch chuyển được. Tính mau hỏng và không dự trữ được cũng là một đặc
điểm của sản phẩm du lịch.
1.1.3. Tài nguyên du lịch và các loại hình du lịch
Tài nguyên du lịch tự nhiên là điều kiện cần thiết cho hoạt động du lịch,
các hợp phần tự nhiên đó là vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, thực động
vật, góp phần quan trọng phát triển du lịch cộng đồng.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn
hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các
công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật
thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm
giống nhau hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự
hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng hoặc vì chúng có cùng một cách
phân phối một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp chung theo một mức giá
nào đó.
1.1.4. Các quan niệm du lịch cộng đồng
Cộng đồng – một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào
những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc
8
như cộng đồng châu Âu, cộng đồng các nước Ả Rập,... đến một hạng/kiểu xã
hội, căn cứ vào đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo như cộng
đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago. Nhỏ hơn nữa, danh
9
Khóa luân tốt nghiệp
từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay
một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lứa tuổi, giới tính,
nghề nghiệp, thân phận xã hội như nhóm những người lái xa taxi, nhóm người
khiếm thị.
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá
phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay
ngắn như phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông. Bên cạnh đó,
còn có một cách nhìn nhận khác, coi cộng đồng như một đặc thù chỉ có ở nền văn
minh con người, ở đó con người hợp tác với nhau nhờ những lợi ích chung.
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu
vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại
các tỉnh phía nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục, phát triển cộng
đồng chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội. Đến những năm 1960, 1970, hoạt
động phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển
nông thôn của sinh viên hay của phong trào Phật giáo.
Từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước cho đến nay, phát triển cộng đồng được
biết đến một cách rộng rãi hơn thông qua các chương trình viện trợ phát triển
của nước ngoài tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như
một nhân tố quyết định để chương trình đạt được hiệu quả bền vững. Các đường
lối và phương pháp cơ bản về phát triển cộng đồng đã được triển khai trên thực
tiễn ở Việt Nam, bằng các nhân sự trong nước với cả những thành công và thất
bại. Bộ môn “phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng” được giảng dạy trong
các tổ chức phi chính phủ, Hội thiên nhiên Thế giới. Du lịch dựa vào cộng đồng
bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Á, trong đó có các nước trong khu vực
ASEAN: Inđônêsia, Philipin, Thái Lan; các nước khu vực khác: Ấn Độ, Nepal,
Đài Loan. Các nước ASEAN như Indonesia, Philipin, Thái Lan đã tổ chức rất
nhiều cuộc hội thảo về xây dựng mô hình và tập huấn, đào tạo kỹ năng phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng.
Một số tên gọi thường dùng khi nói đến du lịch dựa vào cộng đồng như
Du lịch dựa vào cộng đồng (Community, based Tourism); Phát triển cộng đồng
dựa vào du lịch (Community – development in tourism); Phát triển du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng (Community, Based Ecotourism); Phát triển du lịch có
11
Khóa luân tốt nghiệp
sự tham gia của cộng đồng (Community Participation in Tourism).
Du lịch dựa vào cộng đồng là một phương thức hoạt động du lịch và có
những điều kiện, tính chất hoạt động giống như loại hình du lịch sinh thái, du
lịch bền vững như sau:
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa , gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển
bền vững, với sự tham gia tích cực cộng đồng của cộng đồng địa phương (Thế
Đạt, Du lịch và Du lịch sinh thái, 2003). Du lịch sinh thái nhấn mạnh và đề cao
yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ, bảo tồn thiên
nhiên và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa do con người tạo ra.
Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng
những nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn
quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển
các hoạt động du lịch trong tương lai, (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, Du
lịch bền vững, 2001). Du lịch bền vững hướng đến việc quản lý các nguồn
văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên
bao gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên địa chất, địa mạo, địa hình,
khí hậu, thủy văn, sinh vật, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng để phục
vu mục đích du lịch. Đó sẽ là những yếu tố thúc đẩy cho hoạt động du lịch vì nó
chứa những yếu tố có lợi cho con người và mang lại lợi ích cho con người.
Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc
nhân tạo, do con người sáng tạo ra, bao gồm tổng thể các giá trị vật chất và tinh
thần của con người. Đó là sự có mặt của những di tích lịch sử văn hóa, các lễ
hội, các đối tượng gắn với dân tộc học, nhà sàn, nhà văn hóa, các đối tượng thể
thao, phong tục tập quán, trang phục dân tộc, ẩm thực. Những tài nguyên này
cũng chính là báu vật vô giá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
Tài nguyên du lịch của một địa phương phải thường xuyên được bảo tồn
và tôn tạo, nhất là các giá trị nhân văn ngày càng hấp dẫn, được bảo tồn và phát
triển ngày càng mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc.
Như vậy, tài nguyên du lịch là điều kiện tiền đề và tiên quyết đối với việc
hình thành và phát triển các loại hình du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói
riêng. Tiếng nói riêng của mỗi điểm du lịch thông qua những sản phẩm du lịch
được truyền bá một cách rộng rãi và chuyên nghiệp. Tài nguyên du lịch cũng là
yếu tố cơ sở để hình thành và quy định loại hình sản phẩm du lịch chủ yếu cũng
như tổng quan được mức độ đa dạng, phức tạp hay đơn điệu của các sản phẩm
13
Khóa luân tốt nghiệp
du lịch. Những nơi càng nhiều tài nguyên đặc sắc, kì thú hay thậm chí là dị
thường lại càng có sức hút đối với du khách, đặc biệt là với du khách quốc tế.
1.2.2. Cơ sở vật chất – kĩ thuật
Cơ sở vật chất – kĩ thuật luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển của ngành du lịch. Cơ sở hạ tầng chính là biểu thị của bộ mặt kinh
tế - xã hội, văn hóa của vùng. Các yếu tố cơ sở hạ tầng của các điểm du lịch phải
để đảm bảo vệ sinh, tiện ích và an toàn nhất. Thực đơn vừa phong phú, đa dạng,
vừa phải đảm bảo về khâu an toàn vệ sinh thực phẩm và đa dạng khẩu vị để phù
hợp với thực khách.
Các trang thiết bị khác bao gồm những phương tiện hỗ trợ trong suốt quá
trình tham quan hay nghỉ dưỡng như phục vụ làm các sân khấu lớn hay tổ chức
cắm trại, giao lưu văn hóa văn nghệ cần được đảm bảo diễn ra an toàn và có
hiệu quả với các thiết bị cơ bản được đáp ứng tối thiểu.
Như vậy, để hoạt động du lịch diễn ra thuận lợi và hiệu quả nhất có thể,
các cơ sở du lịch phải tăng cường đầu tư và trang bị hệ thống cơ sở vật chất hạ
tầng đầy đủ, đồng bộ và theo hướng hiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
du khách.
1.2.3. Giao thông vận tải
Giao thông là huyết mạch của mỗi quốc gia, các phương tiện giao thông
vận tải là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang đến thuận lợi cho
các hoạt động du lịch. Du lịch là một quá trình di chuyển cần đến sự hỗ trợ của
các phương tiện hiện đại và các loại hình vận tải phù hợp khi vận chuyển khách,
hàng hóa phục vụ dịch vụ du lịch. Thông qua mạng lưới giao thông vận tải, đặc
biệt là các tuyến đường chính sẽ hình thành những tuyến hay mạng lưới du lịch
giúp du lịch nhanh chóng trở thành một nhu cầu cơ bản trong xã hội văn minh
và hiện đại.
Trong các phương tiện tham gia giao thông, mỗi phương tiện có những
đặc điểm riêng biệt mang đến sự thuận lợi tối ưu cho người sử dụng. Giao thông
bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn đã được lập
trình. Giao thông đường hàng không rất nhanh, tiết kiệm thời gian nhưng giá cả
khá đắt, giao thông đường thủy chậm nhưng dễ quan sát và ngắm cảnh, thưởng
ngoạn những danh lam thắng cảnh kì thú, giao thông đường sắt giá rẻ nhưng
chạy theo tuyến cố định.
Như vậy, giao thông vận tải với đa dạng các loại hình phục vụ đáp ứng
những nhu cầu phong phú và ngày càng hiện đại của con người.
1.2.4. Dịch vụ hỗ trợ du lịch
chỉ đạo và quản lí các hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương; đảm bảo
công tác an ninh trật tự tại địa phương, tạo lập hình ảnh cho địa phương mình trở
thành một điểm đến lí tưởng cho du khách trong và ngoài nước. Đồng thời, góp
phần phát triển các công trình, hạng mục liên quan tới các điều kiện phát triển
16
Khóa luân tốt nghiệp
du lịch như cơ sở hạ tầng; ưu đãi cho các tổ chức doanh nghiệp đầu tư các hạng
mục phát triển du lịch.
1.2.6. Sự tham gia của cộng đồng
Cộng đồng địa phương là một trong các nhân tố quan trọng để phát triển
du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng. Khi cộng đồng tham gia vào
làm du lịch sẽ cho ra những sản phẩm mang đậm chất văn hóa địa phương và
chất cộng đồng của điểm du lịch vùng miền đó. Từ đó giúp quảng bá về cảnh
đẹp và con người họ.
Đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào du lịch sẽ đánh
giá được mức độ ảnh hưởng của cộng đồng đến một mảng kinh tế lớn trong cơ
cấu kinh tế của từng vùng, nằm trong ngành dịch vụ. Cộng đồng dân cư ở đây
chỉ giới hạn là những người dân địa phương đang sinh sống làm ăn hoặc nằm
trong các khu vực lân cận chứa tài nguyên du lịch, không bao gồm những người
hay doanh nghiệp từ nơi khác đến làm việc hay kinh doanh.
Cộng đồng dân cư là những người tham gia vào việc tổ chức các hoạt
động du lịch phục vụ du khách và cung cấp những tiện ích cho du khách và góp
phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và bản sắc văn hóa của
cộng đồng. Cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng làm chủ thể trực tiếp
tham gia vào hoạt động du lịch. Họ là người quyết định sự tồn tại và phát triển
của du lịch cộng đồng. Cộng đồng dân cư vừa là chủ thể cung cấp dịch vụ vừa là
người quản lí và bảo tồn tài nguyên du lịch.
Trình độ văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương được xem như là một
yếu tố cơ bản khi tổ chức các hoạt động du lịch mà đặc biệt là hoạt động du lịch
cộng đồng. Họ phải hiểu được các giá trị văn hóa bản địa như các phong tục tập
quán và các thông tin tại địa phương mình, phải có hiểu biết về nhu cầu tâm lí,
đặc điểm cũng như những mong muốn hay thay đổi, kiến nghị của khách du lịch
để việc tổ chức các hoạt động du lịch ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn.
Để phục vụ tốt cho hoạt động du lịch cộng đồng thì về cơ bản người dân
cần có hiểu biết xã hội nhất định và quan tâm đến đặc điểm riêng của du khách
trong nước và du khách nướ ngoài. Họ phải biết sắp xếp, lựa chọn, cân bằng
giữa các vấn đề văn hóa bản địa và tâm lí, khả năng tiếp nhận của khách du lịch.
Đồng thời, cộng đồng dân cư cung cấp dịch vụ du lịch phải hiểu các tiêu chuẩn
cho mỗi dịch vụ và có kiến thức, kĩ năng để thực hiện các dịch vụ theo những
tiêu chuẩn đó.
18
Khóa luân tốt nghiệp
Như vậy, sự sẵn sàng tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động
du lịch có một ý nghĩa cộng đồng rất lớn lao. Nó có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ
các hoạt động du lịch phát triển và mang lại những lợi ích kinh tế, xã hội cho
chính quê hương mình.
1.2.7. Tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế
Ở đây bao gồm các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội hoạt động trong
các lĩnh vực văn hóa, phát triển du lịch, bảo tồn môi trường thiên nhiên, giáo
dục xã hội. Sự hỗ trợ của các đơn vị và tổ chức này có ý nghĩa quan trọng, góp
phần vào sự thành công của du lịch cộng đồng.
Các tổ chức phi chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể tiềm năng và
điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương và nhận định loại hình du
lịch cộng đồng là giải pháp hữu hiệu giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hóa,
mối giao lưu lâu dài với các doanh nghiệp trên cơ sở đôi bên hợp tác cùng có
lợi.
Mặt khác, cộng đồng địa phương hợp tác, học hỏi kinh nghiệm, nghiệp vụ
hoạt động du lịch từ các doanh nghiệp du lịch. Chất lượng dịch vụ do cộng đồng
địa phương cung cấp xây dựng nên chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Để
nâng cao chất lượng sản phẩm các doanh nghiệp du lịch sẽ giúp cộng đồng địa
phương về phương pháp, kinh nghiệm tạo hiệu quả trong hoạt động du lịch.
1.3. Các nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch cộng đồng
1.3.1. Dựa vào cộng đồng
Đặc thù của du lịch cộng đồng là loại hình du lịch dựa vào cộng đồng
đúng như những tên gọi của du lịch cộng đồng từ những thời kì đầu. Cộng đồng
chính là chủ thể chính của hoạt động du lịch cộng đồng. Tại sao lại nói như vậy,
họ là những người trực tiếp tham gia vào tất cả quá trình du lịch như tổ chức các
hoạt động du lịch, cung cấp các dịch vụ du lịch, bảo tồn các giá trị văn hóa
truyền thống nhằm phục vụ nhu cầu của du khách. Chính vì vậy, nguyên tắc đầu
tiên trong hoạt động du lịch cộng đồng là phải dựa vào cộng đồng mà làm du
lịch và nhờ có cộng đồng để phát triển. Đồng thời sẽ mang lại lợi ích cho cộng
đồng. Chúng ta không thể phát triển du lịch cộng đồng mà không dựa vào cộng
đồng.
Khi xây dựng những đề án du lịch hay các chương trình liên quan để thúc
đẩy hoạt động du lịch, chúng ta cần đánh giá được khả năng của cộng đồng.
Trong đó bao gồm khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của chính họ từ việc
sử dụng tài nguyên du lịch, tiềm năng du lịch của địa phương cũng như những
lợi ích mà nó mang lại. Các điều kiện, khả năng tài chính và nhân lực của cộng
20
Khóa luân tốt nghiệp
đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển du lịch. Đồng thời cũng cần phải
đánh giá sức hấp dẫn, độc đáo của những giá trị văn hóa truyền thống của cộng
Khóa luân tốt nghiệp
Trên cơ sở đó, nguyên tắc này cho phép cộng đồng cùng hưởng lợi với
các doanh nghiệp du lịch cũng như các thành phần khác tham gia vào hoạt động
kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch. Nguồn thu từ hoạt động
du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng
thời lợi ích đó cũng được chia sẻ qua nộp thuế để phát triển chung cho xã hội.
1.3.3. Người dân quyết định các hoạt động du lịch
Một trong các nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng là dựa vào cộng
đồng mà phát triển và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Mọi chương trình của
hoạt động du lịch đều được xây dựng dựa vào khả năng của cộng đồng. Chính vì
vậy, cộng đồng phải được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch
thực hiện và quản lí đầu tư để phát triển du lịch, trong một số trường hợp có thể
trao quyền làm chủ cho cộng đồng.
Cộng đồng là một thành phần, một đối tác bình đẳng trong chu trình phát
triển du lịch. Điều này cho thấy người dân được làm chủ và quyết định nhiều
vấn đề quan trọng trong phát triển du lịch cộng đồng. Cộng đồng địa phương khi
tham gia trực tiếp nhất vào hoạt động du lịch thì họ sẽ là những người am hiểu
về chính những giá trị tài nguyên du lịch cũng như những điểm mạnh, điểm
chưa được của du lịch địa phương mình. Họ tham gia lập kế hoạch, đánh giá các
phương án phát triển du lịch và đề xuất, kiến nghị vì sự phát triển chung của du
lịch quê mình, dân tộc mình.
1.3.4. Bảo tồn giá trị các tài nguyên
Nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng là người dân địa phương phải
biết kết hợp hoạt động du lịch với lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa mà họ mang
lại cho cộng đồng. Hơn thế nữa phải bảo tồn văn hóa đặc trưng của địa phương,
bảo vệ môi trường.
Những tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn có ý nghĩa quan
trọng trong việc phát triển du lịch cộng đồng mà đặc biệt là tài nguyên nhân văn
cộng đồng phát huy sáng tạo, khôi phục và gìn giữ các nét đẹp văn hóa truyền
thống để phục vụ vào mục đích phát triển du lịch. Bảo tồn những giá trị của tài
nguyên môi trường và văn hóa truyền thống cũng chính là bảo đảm sự phát triển
bền vững của du lịch.
1.4.
Các bên tham gia phát triển du lịch cộng đồng
Bảng 1.1. Các bên tham gia phát triển du lịch cộng đồng
23
Khóa luân tốt nghiệp
Các bên tham gia
Vai trò
Sự tham gia của cộng Bảo tồn, phát huy các giá trị tài nguyên du lịch,
đồng
Chính
hoạt động du lịch, sự tham gia của cộng đồng đối
quyền
phương
với việc giảm giá các sản phẩm du lịch.
địa Họ là người lãnh đạo và có vai trò tổ chức, quản
lý, tăng cường sức mạnh đoàn kết tập thể của
cộng đồng, đặc biệt phát huy vai trò, thế mạnh
mọi tiềm năng của cộng đồng trong mọi hoạt động