Phát triển du lịch cộng đồng tại làng nghề gốm phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh - Pdf 28

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng 5
1.1.2. Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề truyền thống 11
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 23
1.2.1. Trên thế giới 25
1.2.2. Ở Việt Nam 27
1.2.3. Làng nghề gốm Phù Lãng 29
1.3. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu 30
1.3.1. Quan điểm nghiên cứu 30
1.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 31
CHƢƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI
LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 34
2.1. Giới thiệu khái quát về làng gốm Phù Lãng 34
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 34
2.1.2. Điều kiện tự nhiên 36
2.1.3. Điều kiện xã hội 37
2.2. Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Phù Lãng 38
2.2.1. Tài nguyên du lịch 39
2.2.2. Khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch 60
2.2.3. Khả năng tiếp cận điểm du lịch 66

PHỤ LỤC
i
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Tên cụm từ
CĐĐP:
Cộng đồng địa phƣơng
DLCĐ:
Du lịch cộng đồng
LNTCTT:
Làng nghề thủ công truyền thống
UBND:
Ủy ban nhân dân
ii

Hình 3.1. Biểu đồ số lƣợng du khách đến Phù Lãng giai đoạn 2009 - 2013 81
Hình 3.2. Biểu đồ Doanh thu từ sản phẩm gốm Phù Lãng giai đoạn 2009 - 2013 85
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế xã hội ở nƣớc ta, bởi vì nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% lao động và
gần 80% dân số. Một trong những nội dung định hƣớng phát triển kinh tế nông thôn
do Đại hội IX đề ra là: mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp,

Tháp, đồi Lim… khiến các làng nghề thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn cho các
tour văn hóa, cộng đồng.
Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là
một trong ba trung tâm gốm cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đƣợc hình thành và
phát triển cách đây khoảng 900 năm với những sản phẩm gốm rất đa dạng và phong
phú. Song, trên thực tế, sự khai thác làng gốm Phù Lãng chƣa thực sự tƣơng xứng
với tiềm năng du lịch vốn có của làng nghề. Vì vậy, luận văn muốn đề cập sâu hơn
tới vấn đề “Phát triển du lịch cộng đồng tại làng nghề gốm Phù Lãng, huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh” với mong muốn góp phần nhỏ vào việc đƣa hình ảnh của quê
hƣơng mình tới đƣợc nhiều bạn bè hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tại làng gốm
Phù Lãng, đề tài tìm ra những giải pháp cho việc phát triển và nhân rộng mô hình
du lịch cộng đồng ở làng gốm Phù Lãng nói riêng và du lịch của tỉnh Bắc Ninh nói
chung, nhằm nâng cao mức sống của cộng đồng địa phƣơng, bảo tồn và phát huy
giá trị truyền thống và giảm áp lực tới môi trƣờng và tài nguyên trong khu vực.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề tài cần hoàn thành 4 nhiệm vụ chính sau:
- Khái quát cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu về DLCĐ tại làng nghề
truyền thống
- Đánh giá đƣợc các điều kiện phát triển DLCĐ tại làng gốm Phù Lãng
- Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại làng gốm Phù lãng
- Đƣa ra đƣợc định hƣớng và giải pháp phát triển DLCĐ tại làng nghề gốm
Phù Lãng

3
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm 3 thôn: Thƣợng Thôn, Trung thôn và Hạ
thôn thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
5. Cơ sở tài liệu thực hiện luận văn

quy hoạch phát triển DLCĐ tại làng nghề Phù Lãng. Các nghiên cứu trƣớc đó về
DLCĐ thƣờng diễn ra tại các VQG, khu bảo tồn, nghiên cứu DLCĐ tại làng gốm
Phù Lãng sẽ mang đến nguồn tƣ liệu đa dạng về tính khả thi trong triển khai hoạt
động du lịch này. Từ đó, hỗ trợ đắc lực cho công tác tổ chức và phát triển hoạt động
DLCĐ trên quy mô cả nƣớc.
Kết quả nghiên cứu và những định hƣớng, giải pháp cho việc phát triển
DLCĐ ở khu vực nghiên cứu còn có thể đƣợc ứng dụng cho các khu vực có điều
kiện tƣơng đồng, đồng thời là bài học kinh nghiệm cho việc phát triển bền vững.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 2: Các điều kiện phát triển DLCĐ tại làng gốm Phù Lãng
Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động du lịch tại làng gốm Phù Lãng
Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại làng
gốm Phù Lãng.

5
CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng
1.1.1.1. Khái niệm về du lịch cộng đồng
“Du lịch cộng đồng: Community tourism”, hay “Du lịch dựa vào cộng
đồng: Communitybáed tourism” thực chất là nói đến những phƣơng cách, quan
điểm, nguyên tắc phát triển của các loại hình du lịch bền vững có sự tham gia
của CĐĐP nơi phân bố hoặc gần nơi phân bố các nguồn tài nguyên du lịch. Khái
niệm DLCĐ cũng đã đƣợc nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức đƣa ra trong các
công trình khoa học.
Thuật ngữ Du lịch cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch làng bản từ
những năm 1970 và khách du lịch tham quan các làng bản, tìm hiểu về phong tục

kinh tế địa phương”. Từ định nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò
và lợi ích kinh tế DLCĐ đem lại cho ngƣời dân địa phƣơng.
Theo Đỗ Thanh Hoa trong Tạp chí du lịch Việt Nam “Phát huy vai trò của
CĐĐP phát triển du lịch bền vững”: “DLCĐ là một hình thái du lịch, trong đó chủ
yếu là những ngƣời dân địa phƣơng đứng ra phát triển quản lý du lịch. Kinh tế địa
phƣơng sẽ đƣợc phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch”.
Từ việc nghiên cứu các khái niệm về DLCĐ, tiến sỹ Võ Quế đã rút ra khái
niệm Phát triển DLCĐ trong cuốn sách của mình: “Du lịch cộng đồng là phương
thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để
phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường,
đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du
lịch và bảo tồn tự nhiên”[11]
Theo Bùi Thị Hải Yến trong cuốn “Du lịch cộng đồng”: “DLCĐ có thể đƣợc
hiểu là phƣơng thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó CĐĐP có sự tham gia trực
tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch. Cộng đồng
nhận đƣợc sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nƣớc và quốc tế, của
chính quyền địa phƣơng, cũng nhƣ chính phủ và nhận đƣợc phần lớn lợi nhuận thu

7
đƣợc từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên
môi trƣờng du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch phong phú, có chất lƣợng cao
và hợp lý của du khách để mọi tầng lớp dân cƣ đều có thể sử dụng tiêu dùng các sản
phẩm du lịch”.[16]
Nhƣ vậy có thể hiểu DLCĐ là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng
địa phƣơng, trong đó cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch nhƣ
khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và cộng đồng phải đƣợc hƣởng lợi
từ hoạt động du lịch để từ đó giảm tỉ lệ nghèo đói, cải thiện thu nhập và nâng cao
chất lƣợng cuộc sống.
Tóm lại, DLCĐ tại làng nghề truyền thống là hình thức du lịch mà ở đó mục
tiêu của du khách là muốn tìm hiểu về các làng nghề có lịch sử lâu đời. Các sản

trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến tham quan.
1.1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
a) Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Phát triển DLCĐ nhằm đạt đến 4 mục tiêu cơ bản về mặt kinh tế, xã hội và
môi trƣờng:
- Góp phần bảo vệ tài nguyên (tự nhiên và nhân văn) và môi trƣờng. Phát
triển DLCĐ nhằm phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, vì vậy có
đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trƣờng du lịch.
- Đóng góp vào phát triển kinh tế địa phƣơng thông qua việc tăng doanh thu
du lịch và những lợi ích kinh tế khác cho CĐĐP (tạo cơ hội việc làm tăng thu nhập
cho CĐĐP, nâng cao trình độ lao động khu vực này; địa phƣơng hƣởng lợi từ việc
phát triển hạ tầng du lịch…).
- Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng.
- Mang đến cho du khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi
trƣờng và xã hội.
b) Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển DLCĐ bao gồm:
- Có sự đồng thuận của CĐĐP và các bên tham gia (bao gồm chính quyền
địa phƣơng, cơ quan quản lý khác, các doanh nghiệp du lịch, các nhà nghiên cứu,

9
các tổ chức phi lợi nhuận và chính cộng đồng).
- Có sự đa dạng về vai trò tham gia của cộng đồng. Các thành viên của cộng
đồng sẽ tham gia vào việc lên kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch
tại cộng đồng. Ở đây, cần nhấn mạnh sự tham gia của CĐĐP vào quá trình tổ chức
và thực hiện các hoạt động du lịch. Một số trƣờng hợp có thể trao quyền làm chủ
cho cộng đồng.
- Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng: Thực tế cho thấy bất cứ
chƣơng trình du lịch nào cũng ảnh hƣởng ít nhiều đến CĐĐP. Vì thế các giá trị văn
hóa của cộng đồng phải đƣợc bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả

khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, góp phần ổn định xã hội.
Phát triển du lịch giúp CĐĐP đƣợc hƣởng lợi từ cơ sở hạ tầng xã hội (giao
thông, điện, nƣớc, bƣu chính viễn thông…). Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm
bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của
phát triển du lịch bền vững.
Mang lại lợi ích cho các thành viên cộng đồng tham gia trực tiếp cung cấp
các dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời các thành viên khác cũng đƣợc hƣởng lợi
từ sự đóng góp của du lịch.
Tạo điều kiện đẩy mạnh giao lƣu văn hóa và giao lƣu kinh tế giữa các vùng
miền, giữa Việt Nam và các nƣớc khác trên thế giới. Ý nghĩa này cũng là yếu tố
quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Việt
Nam đồng thời là cơ hội để phát triển kinh tế ở những địa phƣơng còn khó khăn.
- Đối với du lịch: phát triển DLCĐ có ý nghĩa tạo ra sự đa dạng sản phẩm
dịch vụ du lịch của các địa phƣơng, các quốc gia.
Góp phần thu hút khách du lịch.
Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên du lịch nói
riêng.
1.1.1.5. Một số hình thức tham gia phổ biến của CĐĐP trong du lịch
Nhƣ đã trình bày, DLCĐ thƣờng không tồn tại độc lập mà có tính liên kết
chặt chẽ với các loại hình du lịch khác để tạo thành những sản phẩm du lịch đảm
bảo các nội dung đã nên ở trên. Trong giai đoạn hiện nay, các dạng tham gia phổ

11
biến của cộng đồng trong hoạt động du lịch có thể kể đến nhƣ:
+ Cho khách thuê trọ và ở chung trong nhà dân;
+ Lập các nhà nghỉ bình dân dƣới sự điều hành chung của cộng đồng hoặc có
đóng góp cho cộng đồng;
+ Ngƣời dân tìm việc trong ngành du lịch nhƣ làm hƣớng dẫn viên, làm lễ
tân, nấu ăn phục vụ du khách ;
+ Tham gia các hoạt động nhƣ hƣớng dẫn, hỗ trợ các hoạt động của du khách

Với sự phát triển của khoa học – công nghệ ngày nay, việc sản xuất các sản
phẩm có tính truyền thống đã phần nào đƣợc hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới,
với nhiều nguyên liệu mới. Do vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng đƣợc nghiên
cứu và mở rộng hơn, có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Nghề truyền thống bao gồm những
nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, đƣợc truyền từ đời này
sang đời khác và còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã đƣợc cải tiến hoặc
sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhƣng vẫn tuân thủ công
nghệ truyền thống, và đặc biệt, sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc
sắc của dân tộc”. [17]
 Làng nghề
Khái niệm làng nghề đƣợc hiểu là làng tuy vẫn diễn ra các hoạt động trồng
trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ lẻ, cũng có một số nghề phụ khác (đan lát,
làm tƣơng, làm chiếu, làm tranh…) song đã nổi trội lên một nghề cổ truyền, tinh
xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phƣờng, có hội, có ông trùm, phó cả… cùng một số thợ chính và phó nhỏ, đã
chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Họ
sản xuất ra những mặt hàng thủ công, có tính mỹ nghệ. Những sản phẩm này trở
thành sản phẩm hàng hóa có quan hệ thông thƣơng với thị trƣờng trong nƣớc và tiến
tới mở rộng xuất khẩu ra thị trƣờng nƣớc ngoài. Những làng nghề này ít nhiều đã
nổi danh từ lâu, có quá khứ hàng trăm năm. Tên làng cũng có khi đã đi vào lịch sử,
vào ca dao tục ngữ… trở thành di sản văn hóa dân gian.
Nhƣ vậy, có thể thấy, làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn,
đƣợc tạo nên bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất

13
định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề
thủ công, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nƣớc ta đƣợc hình thành và phát
triển theo yêu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển của nông thôn. Các làng nghề truyền thống cũng chịu sự tác động mạnh

hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề
mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm
theo kiểu phƣờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và
các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những chế ƣớc xã hội và gia tộc. Sự liên kết,
hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng
tộc, cùng phƣờng nghề, trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp
đã hình thành ngay trên đơn vị cƣ trú, hàng xóm truyền thống của họ.
Trong khái niệm trên, làng nghề thủ công chỉ bao hàm các nghề thủ công
nghiệp. Tuy nhiên, trong đà phát triển kinh tế hiện nay thì khu vực dịch vụ lại đóng
vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ƣu thế về mặt tỷ trọng ở hầu hết các
nƣớc có nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy, nghề buôn bán dịch vụ ở nông thôn
cũng đƣợc xếp vào các làng nghề. Do đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng khu vực
làng nghề sẽ có làng một nghề, làng nhiều nghề, có làng truyền thống, làng nghề
mới.
Qua nghiên cứu thực tế và tìm hiểu về làng nghề, chúng ta có thể đƣa ra một
số khái niệm nhƣ sau:
- Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc có
một nghề chiếm ƣu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ hoặc không
đáng kể.
- Làng nhiều nghề là những làng nghề xuất hiện và tồn tại nhiều nghề, có tỷ
trọng các nghề chiếm ƣu thế gần tƣơng đƣơng nhau.
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch
sử và tồn tại cho đến ngày nay, nhƣ làng gốm Bát Tràng, làng gỗ Đồng Kỵ …
- Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của
các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới

15
chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng.
Nhƣ vậy, LNTCTT có thể quan niệm nhƣ sau: “Là làng có những người
cùng sinh sống phát triển KT – XH, có những luật lệ, giá trị văn hóa riêng, có nghề

đơn giản, thô sơ (nhƣ đục đẽo ở các làng làm nghề mộc, dùng bàn xoay để nặn gốm
sứ…).
Mặc dù ở một số làng nghề đã có sự hỗ trợ của các thiết bị máy móc nhƣng
không thể thay thế hoàn toàn đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, vì xuất phát từ
đặc thù của những sản phẩm, cũng nhƣ thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, các sản phẩm
làm ra đòi hỏi phải có sự khéo léo của bàn tay, óc sáng tạo của nghệ nhân mà máy
móc không thể thay thế đƣợc. Đây cũng chính là lợi thế để các làng nghề tận dụng
sức lao động của hầu hết mọi lứa tuổi, gắn với những công đoạn phù hợp khác
nhau. Tuy nhiên, công đoạn cuối cùng để hoàn thiện các sản phẩm lại đòi hỏi phải
có đôi bàn tay của những nghệ nhân, những ngƣời thợ cả có những bí quyết nghề
nghiệp. Vì vậy, những phƣơng thức cha truyền con nối trở thành một phần quan
trọng để tồn tại các LNTCTT.
Thị trƣờng của những sản phẩm LNTCTT chƣa thực sự ổn định, thƣờng tự
phát, chƣa có chiến lƣợc xây dựng thị trƣờng nòng cốt rõ ràng, thiếu kế hoạch
nghiên cứu và phát triển thị trƣờng tiềm năng. Mặc dù các LNTCTT ở nƣớc ta đã có
quá trình tồn tại và phát triển lâu dài, nhƣng tính đến nay, trong sự phát triển của
các làng nghề, việc xúc tiến, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều bất cập. Xuất
phát từ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sự đơn lẻ của các sản phẩm đƣợc làm ra nên
việc tiêu thụ các sản phẩm này vẫn tiến hành tại chỗ. Trƣớc đây, ở nhiều địa
phƣơng, hoạt động sản xuất của các LNTCTT còn mang tính tự cấp, tự túc hoặc thị
trƣờng tiêu thụ còn nhỏ hẹp. Hiện nay, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm thủ công phong
phú và rộng lớn hơn nhƣng các làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn khi bƣớc vào cơ
chế thị trƣờng.
1.1.2.3. Các điều kiện để phát triển làng nghề thủ công truyền thống
- “Nhất cận thị, nhì cận giang”, các LNTCTT thƣờng đƣợc phân bố ven các
sông lớn và các đô thị lớn thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên liệu và tiêu thụ
sản phẩm. Gần các nguồn nguyên liệu hoặc phân bố tại các vùng có nguồn nguyên

17
liệu để phục vụ sản xuất.

Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên
tục, đòi hỏi hoạt động dịch vụ phải diễn ra thƣờng xuyên trong việc cung ứng
nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó, dịch vụ nông thôn có điều kiện phát
triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đem lại thu nhập cao cho
ngƣời lao động. Sự phát triển lan tỏa của các LNTCTT đã mở rộng quy mô và địa
bàn sản xuất, thu hút rất nhiều lao động. Tính đến nay, cơ cấu kinh tế ở nhiều làng
nghề đạt 60 – 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20 – 30% cho nông nghiệp [7].
* Hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề tạo ra khối lượng hàng
hóa đa dạng, phong phú, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Đƣợc phân bố rộng khắp ở các vùng
nông thôn, hàng năm, các làng nghề sản xuất ra một khối lƣợng hàng hóa lớn, đóng
góp đáng kể cho nền kinh tế nói chung và kinh tế địa phƣơng nói riêng. Trong
những năm qua, tốc độ tăng trƣởng của làng nghề lên tới 20%/năm, đã thúc đẩy
hàng hóa ở nông thôn phát triển. Thực tế cho thấy, địa phƣơng nào có nhiều làng
nghề thì cũng có kinh tế hàng hóa phát triển, góp phần đáng kể vào sự gia tăng giá
trị sản phẩm cho địa phƣơng. Hiện nay, 60 – 70% sản phẩm làng nghề đƣợc tiêu thụ
trong nƣớc, 30 – 40% đƣợc xuất khẩu ra nƣớc ngoài, kim ngạch xuất khẩu tăng liên
tục và đạt 750 triệu USD năm 2007 (chƣa tính các sản phẩm mỹ nghệ - gỗ).
* Làng nghề thủ công truyền thống góp phần giải quyết việc làm, tăng thu
nhập cho dân cư nông thôn.
Ở nƣớc ta, lao động nông nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn, diện tích đất canh tác
bình quân đầu ngƣời rất thấp, tỷ lệ thời gian làm việc của lao động trong độ tuổi ở
khu vực nông thôn khoảng 82% (2007). Tuy nhiên, tình trạng thiếu việc làm ở khu
vực nông thôn khá phổ biến. Sự phục hồi và phát triển các làng nghề góp phần quan
trọng trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho số lao động dƣ thừa ở nông thôn.
Mặt khác, các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn phát triển kéo theo nhiều
nghề dịch vụ có liên quan, thu hút và tạo thêm nhiều việc làm mới. Trong những
năm qua, những làng nghề trên khắp cả nƣớc đã góp phần thu hút khoảng 11 triệu


Trích đoạn Quan điểm nghiên cứu Lịch sử hình thành và phát triển Điều kiện tự nhiên Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Phù Lãng Tài nguyên du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status