TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA TRƯỜNG PHÁI VEDANTA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI ẤN ĐỘ - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-----------------------

BÙI THỊ MAI HỒNG

TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA TRƯỜNG PHÁI VEDANTA
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
NGƯỜI ẤN ĐỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH ẤN ĐỘ HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2011-X

Hà Nội - 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-----------------------

BÙI THỊ MAI HỒNG

TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA TRƯỜNG PHÁI VEDANTA
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
NGƯỜI ẤN ĐỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
A. Mở đầu..........................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.........................................................................................................2
3. Đóng góp của đề tài...................................................................................................................2
4. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................................3
6. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................................3
B. Nội dung........................................................................................................................................4
Chương 1. Khái lược tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ trung đại....................................4
1.1 Điều kiện hình thành của các trường phái triết học Ấn Độ......................................................4
Kinh tế - Chính trị - Xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển
của các trường phái triết học Ấn Độ..........................................................................................4
1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ..............................................9
Chương 2. Tư tưởng giải thoát của trường phái Vedanta..............................................................16
2.1 Nguồn gốc, lịch sử hình thành của trường phái Vedanta......................................................16
2.2 Nội dung tư tưởng giải thoát trong trường phái Vedanta.....................................................20
Chương 3. Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát của trường phái Vedanta đến đời sống tinh thần
người dân Ấn Độ.............................................................................................................................26
3.1. Ảnh hưởng đến sự củng cố chế độ phân biệt đẳng cấp và hình thành hệ thống các vị thần ở
Ấn Độ...........................................................................................................................................26
3.2. Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát đến các phép bí tích và thói quen ăn chay của người Ấn
Độ................................................................................................................................................41
3.3. Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát đếnnghi lễ hành hương của các tín đồ Hindu giáo.......45
3.4. Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát đến nghi lễ tang ma của người Ấn Độ......................47
C. Kết luận.......................................................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................58



2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều nhà nghiên cứu triết học, những người quan tâm đến triết
học cổ đại đều chắc chắn có tìm hiểu về các trường phái triết học cổ đại và
các tư tưởng giải thoát của những trường phái ấy của Ấn Độ bao gồm cả
trường phái chính thống và không chính thống. Có thể kể đến các nhà triết
học nổi tiếng như Triết Học Bà La Môn (Brahmanism) - Giảng Viên Thích Lệ
Thọ, hay Quyển Triết học Ấn Độ của tác giải Nguyễn Ước, NXB Giáo Dục,
200, hay quyển “Tư tưởng triết học và đời sống văn hóa Ấn Độ” của giáo sư
Nguyễn Đức Đoàn, hay có những bài luận của các sinh viên cao học triết học
có viết đến những đề tài về nghiên cứu tư tưởng giải thoát trong triết học
Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam, hoặc là tiểu luận khái
quát về tư tưởng giải thoát của Ấn Độ cổ đại. Tuy nhiên, vẫn chưa có 1 học
giả hoặc nhà nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu sâu về tư tưởng giải thoát
của 1 trường phái triết học và nêu bật ảnh hưởng của nó đến đời sồng tinh
thần người dân Ấn Độ. Chính vì vậy,với giới hạn về thời gian, tài liệu, người
viết với đề tài này, mong muốn đóng góp chút công sức nghiên cứu của mình
để làm hiểu rõ hơn những đặc điểm trong tư tưởng giải thoát của trường phái
Vedanta và những tác động của nó đến xã hội Ấn Độ.
3. Đóng góp của đề tài
Đóng góp lớn nhất của đề tài là làm sáng tỏ và chỉ rõ được tư tưởng giải
thoát của trường phái Vedanta có ảnh hưởng sâu sắc như thế nào trong lối
sống, đời sống tinh thần, lễ nghi của người dân Ấn Độ, đặc biệt là sự ảnh
hưởng sâu sắc và trực tiếp nhất đối với những tín đồ theo Hindu giáo – một
tôn giáo lấy hệ thống tư tưởng triết học của Vedanta làm nền tảng. Công trình
nghiên cứu này còn góp phần tìm hiểu thêm về lịch sử Ấn Độ cổ trung đại.

2


B. Nội dung
Chương 1. Khái lược tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ
trung đại
1.1 Điều kiện hình thành của các trường phái triết học Ấn Độ
Kinh tế - Chính trị - Xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự
hình thành và phát triển của các trường phái triết học Ấn Độ.
Ấn Độ là một bán đảo lớn - một "tiểu lục địa" nằm ở miền Nam châu Á,
phía Tây Nam và Đông Nam giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc là dãy Hymalaya
hùng vĩ án ngữ theo một vòng cung dài 2.600km.
Điều kiện thiên nhiên và khí hậu của Ấn Độ rất phức tạp. Địa hình vừa
có nhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với 2 con sông lớn gắn
với người dân Ấn Độ tự bao đời đó là con sông Ấn với sông Hằng đã tạo nên
những vùng đồng bằng trù phú, có vùng khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, có vùng
lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại cũng có những vùng sa mạc khô cằn, nóng
nực. Tính đa dạng, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế
lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí
người Ấn Độ cổ.
Ấn Độ còn là nơi giao thoa nhiều nền văn hóa do vị trí nằm 3 mặt giáp
biển, và là nơi trung chuyển đi từ Âu sang Á nên rất thuận lợi trong việc trao
đổi kinh tế, giao lưu văn hóa. Người Ấn Độ cổ ngày xưa cũng đã có trao đổi
thương mại với người Hy Lạp…
Có thể nói, vị trí địa lí của Ấn Độ khiến Ấn Độ nằm ở thế nửa kín
nửa hở, rất nhanh nhạy để giao lưu văn hóa nhưng cũng rất bảo thủ, trì
trệ, lạc hậu.
Sự phát triển của xã hội Ấn Độ cổ đại có thể được chia thành ba
thời kỳ sau.
Thứ nhất là thời kỳ văn minh sông Ấn (Hay nền văn minh Harappa )
Xuất hiện vào khoảng giữa thiên niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II tr. CN. Qua
4



công xã rất yếu ớt. Đó cũng là nguyên nhân làm xã hội ấn độ phát triển rất
chậm chạp và trì trệ.
Về mặt xã hội, thời kỳ này đã xuất hiện chế độ đẳng cấp (varna - màu
sắc, chủng tính) góp phần quy định cơ cấu xã hội và ảnh hưởng đến hình thái
tư tưởng ấn độ cổ đại. Đó là chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc,
màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn
nhân...được hình thành trong thời kỳ người Arya chinh phục, thống trị người
Dravida, cũng như trong cả quá trình phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc giữa
quý tộc và thường dân Arya. Theo thánh điển Bàlamôn và bộ luật Manu, xã
hội ấn độ cổ đại chia thành bốn đẳng cấp lớn: Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ,
lễ sư Bàlamôn (Brahmana); thứ hai là đẳng cấp vương công, vua chúa, tướng
lĩnh, võ sĩ (Kshatriya); thứ ba là đẳng cấp thương nhân, điền chủ và thường
dân Arya (Vaishya); thứ tư là đẳng cấp tiện dân và nô lệ (Shudra). Ngoài bốn
đẳng cấp trên còn có những người bị coi là ngoài lề đẳng cấp xã hội. Đó là
tầng lớp người cùng đinh, hạ đẳng (Paria) như người Chandala.
Thời kỳ Vêđa cũng là thời kỳ hình thành các tôn giáo lớn mà tư tưởng
và tín ngưỡng của nó ảnh hưởng đậm nét tới đời sống tinh thần xã hội ấn độ
cổ đại, như đạo Rig - Vêđa, đạo Bàlamôn, sau đó là đạo Phật, đao Jaina...
Thời kì thứ 3 là từ thế kỷ VI đến thế kỷ I tr. CN. Các quốc gia chiếm
hữu nô lệ đã thực sự phát triển, thường xuyên thôn tính lẫn nhau dẫn đến sự
hình thành các quốc gia lớn, các vương triều thống nhất ở ấn độ như
Magadha, Maurya. Trong thời kỳ này nền kinh tế, xã hội và văn hóa ấn độ có
những bước phát triển tiến bộ vượt bậc. Mặc dù nền kinh tế tự nhiên vẫn
chiếm ưu thế, nhưng thương nghiệp, buôn bán cũng phát triển hình thành một
tầng lớp mới trong cơ cấu giai cấp xã hội ấn độ - tầng lớp thương nhân và thợ
thủ công. Tiền kim loại xuất hiện, nhiều thành phố trở thành trung tâm công
thương nghiệp quan trọng. Nhiều con đường thương mại thủy và bộ nối liền
6



ở Ba Tư. Tới khoảng 1200TCN, một số nhóm tư tế Aryan mới phối hợp với
các nghi thức và kinh lễ bản địa san định để ghi nhớ và sử dụng trong các
cuộc tế lễ.
Tới năm 800 TCN, những tụng thi được gom thành 4 cuốn kinh mà
ngày nay được biết tới là các kinh Veda. Veda gồm 4 bộ kinh: Rig Veda,
Sama Veda, Yajur Vedaa và Arthava Veda
Nhìn chung, trong các tập Veda thời kỳ tiền Veda tập trung phản ánh
ước vọng của nhân dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức
ăn, gia súc… đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo,
chưa có những khái quát mang tính triết học. Tuy nhiên qua các tập Veda đã
thể hiện sự phát triển của tư duy trửu tượng trong đó người ta đã thừa nhận
một nguyên lí vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra thiên nhiên, trong tinh
thần và các nghi lễ. Nguồn gốc của thế giới được xem như 1 quả trứng, nổi
bồng bềnh trên biển cả hỗn độn, làm thành hình ảnh nổi tiếng nhất trong lễ tế
thần ngã vũ trụ. Từ cuối thời kỳ Veda, những giải thích, quan niệm mang tính
huyển thoại đã trở nên không còn phù hợp nữa. Theo nội dung cuốn Arthava
Veda đã hình thành các tư tưởng nói tới asat (phi hữu thể hoặc phi thực) và
sat (hữu thể hoặc có thực), trong đó con người tâm linh chuyển dịch mục đích
từ asat tới sat.
Thuật ngữ asat chỉ toàn bộ lãnh vực “không thể biết được” những cái
nằm bên ngoài hữu thể đều thể không hiểu được bằng ngôn từ và tư tưởng,
chũng vượt ra ngoài mọi định nghĩa. Về sau, đó là cái “ hư không tuyệt đối”
mang tính phi nhị nguyên Vedanta. Ngược lại, sat là thực thể tuyệt đối vĩnh
hằng và đồng nhất với Brahman. Chúng ta thấy có sự chuyển dịch trong cách
Brahmana, từ cũng tế như một phương tiện bảo đảm cho thần linh hành động
sang tới tập trung vào chi tiết của tự thân lễ tế. Nghi lễ bắt đầu được xem là
hiện thân của vũ trụ và duy trì vũ trụ, biểu hiện cho chính thực tại và thực tại
tuyệt đối chính là Brahman. Như thế, có thể thừa nhận rằng có thể lấy nghi
8



Brahman là đồng nhất. Nhưng vì mê mờ không thấy được cái chân tướng ấy
nên con người đã bị tách khỏi cái tính đồng nhất kia, để rồi phải lăn lộn trôi
dạt trong bể khổ sinh tử. Do ý hướng muốn xa lìa giả tướng để trở về với chân
tướng đã phát sinh ra tư tưởng giải thoát.
Nếu như tư tưởng triết học phương Tây chú ý đến lý luận, nhận thức
thế giới xung quanh, tìm chân lý bằng suy luận logic và thực nghiệm, thì triết
học phương Đông, nhất là triết học Ấn Độ, là triết học của đời sống, là đạo lí.
Nó chú ý đến sự tương ứng tương đồng giữa nội tâm và ngoại giới, bằng nhận
thức trực giác, thực nghiệm tâm linh.
Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở dây trói buộc của những
hoặc nghiệp. Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới. Vậy giải thoát là lìa khỏi
mọi trói buộc và được tự tại, là thể của Niết bàn.
Trạng thái giải thoát được mô tả bằng nhiều đặc tính khác. Trước hết,
giải thoát là vượt ra ngoài sự chi phối của thời gian, vì sống và chết là những
hiện tượng trong thời gian. Giải thoát là trạng thái chân như, vượt lên trên mọi
giới hạn của thời gian, không gian và hiện tượng. Giải thoát là vượt ra ngoài
sự chi phối của định luật nghiệp báo, vì giải thoát là tuyệt đối tự do, tất cả mọi
hành động của bậc giải thoát, dù xấu dù tốt cũng đều là những hành động vô
tư, không tạo nghiệp. Nói cách khác, giải thoát là trạng thái tâm hồn tuyệt đối
hạnh phúc vì không biết lo sợ buồn phiền, tuyệt đối sáng suốt vì là nền tảng
của mọi sự hiểu biết. 1 Giải thoát có nhiều hình thái khác nhau. Upanishad nói
tới 4 hình thái giải thoát: Hoàn toàn đồng hóa với Brahman vô ngã thanh
tịnh; Cộng thông với Thượng đế hữu ngã; Hòa hợp với tinh thần vũ trụ; Và
tham dự vào hoạt động điều hành vạn vật ở thế gian. Nhưng dù ở cấp độ nào:
Giải thoát tức thời hay giải thoát lần lần; dù ở hình thức nào: Giải thoát tại thế
hay giải thoát sau khi chết, thì cứu cánh lý tưởng của giải thoát vẫn là thực tại
tuyệt đối đồng nhất Atman-Brahman, một trạng thái ý thức không đối tượng,
1

độ siêu nghiệm.
Các phái chính thống đề cao giải thoát bằng tự thân mình. Việc thờ
thần, tế lễ chỉ là nấc thang để đạt đến giác ngộ giải thoát.
11


Các trường phái triết học phi chính thống đều cho rằng cuộc đời này là
giả tạm và chúng sinh cứ phải sống trong đau khổ vì lòng tham dục vô bờ
bến. Dục có nghĩa là thèm khát, ham muốn và đam mê, bắt nguồn từ vô minh,
khiến con người tự mình trói buộc với những xung đột và khổ đau do không
bao giờ thoả mãn, nên phải luân hồi triền miên trong vòng sinh tử. Nếu muốn,
con người có thể tu tập để đi đến chỗ giải thoát khỏi vòng luân hồi nghiệp
báo, mà vào một nơi nào đó không sinh không diệt, đời đời không có đau khổ
mà chỉ có an lạc. Nơi đó, Bà La Môn giáo gọi là Brahman tức là Đại Ngã.
Phật giáo tạm gọi là Niết Bàn, là Chân Như.
Vì Atman là đồng nhất với Brahman nên về bản chất, linh hồn cũng tồn
tại vĩnh viễn và tuyệt đối, bất diệt như tinh thần vũ trụ tối cao. Nhưng do linh
hồn bất tử được thể hiện trong thể xác con người nên con người ta cứ lầm
tưởng rằng linh hồn các biệt là cái khác với linh hồn vũ trụ tối cao. Những
tình cảm, ý chí, dục vọng và những hành động của thể xác nhằm thỏa mãn
mọi ham muốn của con người trong đời sống trần tục đã che lấp đi bản tính
chân thực của mình, gây nên những hậu quả giam hãm, ràng buộc linh hồn bất
tử đầu tahi vào hết thân xác này đến thân xác khác, với các hình thức khác
nhau từ kiếp này sang kiếp khác, gọi là luân hồi (Samsara).
Theo tư tưởng nghiệp báo (Karma) và luân hồi, Upanishad cho rằng: “
Người ta sẽ trở nên tốt vì hành động tốt và trở nên xấu vì hành động xấu” 2. Và
“ Những người có hành vi tốt đẹp sẽ đầu thai vào kiếp tốt đẹp; hoặc thành Bà
la môn, hoặc thành người quý tộc hoặc thành thương nhân. Những kẻ có hành
vi xấu xa sẽ phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như kiếp chó, lợn hay những
kẻ tôi tớ, nô lệ”3.

Có thể khái quát đặc điểm triết học Ấn Độ thành những điểm cơ
bản sau:
Thứ nhất, triết học ấn độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không
mang tính cách mạng nghĩa là các nhà triết học thường kế tục mà không gạt
bỏ hệ thống triết học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra
4

The Upanishads, vol 1, Katha Upanishad I,2,23, Bonanza Boos, New York, 1949, Doãn

Chính, (1999), Lịch sử triết học cổ đại Ấn Độ, NXB Thanh niên, Tr.125.

13


một hệ thống triết học mới. Các luận thuyết triết học đầu tiên là kinh thánh
Veda, một trong những bộ kinh cổ của Ấn Độ. Các luận thuyết triết học sau
thường dựa vào các luận thuyết triết học trước. Các nhà triết học sau thường
là kế thừa và phát triển các quan điểm của các nhà triết học trước mà không
nhằm mục đích tạo ra thứu triết học mới. Đa số các hệ thống triết học dựa vào
tri thức đã có trong Veda, nhưng mức độ nội dung của nó đã được thay đổi.
Đây là một điểm hết sức đặc biệt của hệ thổng triết học Ấn Độ, nó phản ánh
sự trì trệ của xã hội Ấn Độ cổ đại.
Thứ hai, triết học ấn độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở
tín ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo.
Thứ ba, các hệ thống triết học - tôn giáo ở ấn độ cổ đại đều quan tâm
tới vấn đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo dù cách tiếp
cận của mỗi trường phái là khác nhau. Mục đích của triết học Ấn Độ là để đạt
đến sự giải thoát, trừ bỏ chủ nghĩa duy vật. Với mục đích giải thoát nên mỗi
hệ thống triết học Ấn Độ là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát.
Triết học Ấn Độ quan tâm đến nhiều vấn đề, nhưng vấn đề chủ yếu là vấn đề

Cho tới ngày nay, triết hệ Vedanta vẫn ảnh hưởng rất bao quát và sâu
sắc. Có thể hiểu từ ngữ Vedanta theo hai nghĩa. Nghĩa gốc của nó là “cuối
thời kinh Veda” tức là chuyển qua thời kỳ các Upanishad. Tự thân từ ngữ
Vedanta có nghĩa là cứu cánh và mục đích của kinh Veda. Như thế, triết hệ
Vedanta quan tâm ưu tiên tới Brahman, thực tại tối hậu được mô tả trong các
Upanishad. Vedanta là kết hợp của chữ “Veda” và “anta”. Chữ “anta” có
nghĩa là “kết cuộc”. Vedanta nghĩa đen là hoàn thiện kinh Veda. Do đó triết
hệ Vedanta cũng tự xem mình có nghĩa vụ cung cấp liên tục các thông giải
triết lí cho những tư liệu rộng lớn và muôn hình muôn vẻ trong kinh Veda.
Triết học Veđanta thừa nhận sự tồn tại của linh hồn vũ trụ Brahman vĩnh hằng
và Atman – linh hồn cá nhân. Mục đích tu đạo là giải thoát atman khỏi sự vây
hãm ràng buộc của ham muốn nhục dục thể xác, để Atman nhận ra bản tính
thần thánh và quay về với Brahman bằng con đường tu luyện, suy tư, chiêm
nghiệm tâm linh. Cái siêu hình của Veđanta nằm ở cái vĩnh hằng của
Brahman, và duy tâm của Veđanta thể hiện ở việc coi vật chất chỉ là ảo ảnh
do vô minh mang lại, linh hồn mới tồn tại và chi phối. Triết học Veđanta
mang đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm khách quan siêu hình.
Triết lý căn bản nhất của Veda và Upanishad mà Vedanta lấy làm cơ sở cho
học thuyết triết học của mình đó là tư tưởng cho rằng bản chất sâu xa của mọi
cái tồn tại, từ đó vạn vật trong vũ trụ nảy sinh và hòa nhập về với nó khi tiêu
tan, đó là tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Brahman là thực thể duy nhất,
tuyệt đối và vĩnh viễn, bất diệt và vô hình. “Brahman là nguồn sáng của mọi
nguồn sáng”5, là nguồn sống, linh hồn của vũ trụ. Linh hồn cá biệt chỉ là sự
hiện thân của Brahman trong mỗi chúng sinh, chỉ có thể tri giác Brahman
5

Shri Aurobindo, (1973), Áo Nghĩa Thư Upanishad, An Tiêm, Sài Gòn, Tr.297 dẫn theo, PTS. Doãn Chính,
(1998) sách Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, NXB Chính trị Quốc gia, Tr.295.

16



nhà thông thái Ấn Độ sống khoảng thế kỷ thứ nhất TCN hoặc thế kỷ 2 hay 3
SCN. Sách lưu truyền và được tiếp tục chú giải qua nhiều đời hiền triết.
Bộ chú giải sau cùng và nổi tiếng nhất có tên là Vedanta, của Sankara.
Tuy nhà hiền triết và thánh nhân ấy chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi 32 năm,
nhưng ông được đánh giá là triết gia vĩ đại nhất của Ấn Độ. Trong bộ
Vedanta, nghĩa là hoàn thiện kinh Veda, Sankara nêu ý kiến của mình về các
Upanishad, kinh Bhagavad-Gita và kinh Brahmasutra. Ông cho rằng thế giới
thông thường như chúng ta tri giác, trong thực tế, chỉ là maya, hư ảo. Thực tại
căn bản và duy nhất là Brahman. Đây là lối tiếp cận được đặt tên là advaita:
phi nhị nguyên, nghĩa là không có hai thực tại, chỉ một thôi. Trường phái này
cho rằng thực thể tinh thần của vũ trụ là tuyệt đối.Họ cũng đưa ra quy luật vô
thường, tức là không có gì là vĩnh viễn cả. Nhận thức về sự vật là giả, là ảo vì
không có gì là vĩnh hằng.
Con người cần phải hiểu được vũ trụ tối cao và hòa nhập tinh thần của
vũ trụ gọi là giải thoát. Con đường giải thoát đó là đừng tin vào cảm giác, vào
vĩnh hằng, thỏa mãn được nhận thức mà mình đang sống.
Con người cũng như là các vật đều là vô thường, ảo tướng bởi vì thực
tướng đều do vũ trụ, con người không thể nhận thức được. Tất cả đều nằm
trong vô thường. Cho nên con người chỉ có một cách duy nhất là vượt qua cảm
giác, suy luận để đến với trực giác trí tuệ.
Phái này hình dung ra 2 thế giới: đó là thế giới của vũ trụ thì tinh khiết
và thế giới khách quan, linh hồn con người bị giam hãm trong thể xác, nó bị
nhào lặn trong cái không của thời gian.
Vì thế con người phải rèn luyện cái nhận thức trực giác trí tuệ, thực
nghiệm tâm linh. Khi con người hòa nhập được với tinh thần vũ trụ thì con
người có thể bỏ được mọi mê hoặc, từ bỏ được mọi dục vọng, không còn so
sánh, tư lợi , không còn băn khoăn. Khi chút bỏ hết sự so sánh phân biệt thì lúc
đó sẽ thanh thản, tự tại.

bản chất, linh hồn Atman là đồng nhất với hồn vũ trụ tối cao. Nhưng vì linh
hồn hiện thân trong mỗi nhục thể của chúng sinh nên người ta lầm tưởng rằng
linh hồn cá biệt là cái khác với linh hồn tối cao, nó cũng có sinh có diệt như
19


thể xác con người. Trong thể xác có vật chất và linh hồn. Linh hồn của cá nhân
lại chịu sự chi phối của linh hồn vũ trụ. Linh hồn vũ trụ mang bản chất cao cả,
linh hồn cá nhân lại chi phối thể xác.
Chi phái này vẫn chủ trương rằng con người giải thoát bằng cách từ
bỏ ham muốn, dục vọng để đưa linh hồn cá nhân của mình đến với linh hồn
vũ trụ.
Xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng của mình, Veđanta thừa nhận về sự
đồng nhất giữa linh hồn cá biệt với linh hồn tối cao Brahman và sự siêu thoát
linh hồn của người khỏi nghiệp báo, luân hồi.
2.2 Nội dung tư tưởng giải thoát trong trường phái Vedanta
Giải thoát theo môn phái Advaita là phải nhận thức được bản thể tối
cao, và hòa nhập với bản thể tối cao đó. Nhưng muốn linh hồn con người
đồng nhất với linh hồn vũ trụ tối cao, con người ta không thể dùng nhận thức
cảm giác và suy luận logic, tức lí trí, mà phải bằng nhận thức trực giác, chiêm
nghiệm, vén mở nội tâm, thực nghiệm tâm linh lâu dài. Vì ngũ quan và tri
năng của ta bị lôi kéo bởi thế giới hiện tượng hữu hình, hữu hạn, thường biến
như ảo ảnh phù du, nên ta không thấy rõ cái linh hồn vũ trụ tối cao, tuyệt đối
duy nhất, bất biến sau mọi linh hồn cá thể. Thực chất thì linh hồn không phải
là một thực thể riêng rẽ của ta, do ta, mặc dù nó hiện thân trong thân xác của
ta. Chúng chỉ là sự biểu hiện khác nhau của linh hồn vũ trụ tối cao trong mỗi
chúng sinh mà thôi. Phải vượt qua thế giới hiện tượng đó bằng nhận thức trực
giác, “thực nghiệm tâm linh”, con người ta mới đạt tới một thế giới bản chất
chân thực, tuyệt đối bất biến – đó chính là linh hồn sáng tạo vũ trụ tối cao
Brahman. Theo Shankara, khi đã nhận thức được bản chất của linh hồn và bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status