ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ TUYẾT THANH
(THÍCH ĐÀM THANH)
TƢ TƢỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT GIÁO TRONG KINH PHÁP
HOA PHẨM PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Hà Nội - 2014ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Các tư liệu, nguồn trích dẫn, ví dụ trong luận văn này đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận trong luận văn dựa trên những cứ
liệu khoa học đã được trình bày và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
Vũ Tuyết Thanh
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập phấn đấu, được các Quý Thầy giáo, Cô giáo nhiệt tình
giúp đỡ, tôi đã hoàn thành chương trình học và luận văn của mình. Để có được
kết quả này trước tiên cho phép tôi chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Triết học, các Thầy Cô giáo, cùng toàn thể
cán bộ nhân viên Khoa đã tạo mọi điều kiện chỉ bảo tận tình và cổ vũ, động viên
tôi học tập cũng như đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Cô giáo Chủ nhiệm PGS. TS. Trần Thị Kim
Oanh; tập thể lớp K20 - Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn TS. Trần Thị Hạnh.
Cô đã trực tiếp định hướng nghiên cứu cho luận văn này, đồng thời chỉ dạy cho
tôi ngay từ cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu cho đến khi luận văn hoàn thành.
Con xin thành kính tri ân Ni Sư Thích Đàm Ngân - Người Thầy khả kính đã
tác thành nên giới châu tuệ mệnh, đã giúp đỡ con về tài lực, vật lực trong suốt
quá trình học tập; Cha mẹ là người đã tạo nên hình hài cốt nhục; cùng hết thẩy
thiện hữu tri thức, đồng môn huynh đệ, pháp nữ đồng học; đàn na thiện tín đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ cho con có được thành quả ngày hôm nay.
1.4.2.Bản môn 20
Chƣơng 2: Ý NGHĨA PHẨM PHỔ HIỀN KHUYẾN PHÁT TRONG KINH
PHÁP HOA 27
2.2. Nội dung phẩm Phổ Hiền 28
2.3. Ý nghĩa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát 35
2.4. Công hạnh tu hành của Phổ Hiền Bồ Tát 40
2.5. Quả Đức của Bồ Tát Phổ Hiền 59
Chƣơng 3: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG GIẢI THOÁT
CỦA PHẨM PHỔ HIỀN KHUYẾN PHÁT 65
3.1. Tƣ tƣởng nhất Phật thừa 66
2
3.1.1. Tư tưởng thành Phật 66
3.1.2. Tư tưởng tịnh độ tông 80
3.2. Tƣ tƣởng Nhập thế 86
3. 3. Giá trị của tƣ tƣởng giải thoát trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến
phát của Kinh Pháp Hoa 93
3. 3. 1. Giá trị tư tưởng 93
3.3 2. Ý nghĩa nhân văn 98
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khi nhân loại càng phát triển cao về mặt khoa học kỹ thuật và
đời sống vật chất thì con người lại càng có xu hướng không chế ngự được tính
ích kỷ, tham lam, giận dữ, sự si mê. Lòng tham đã lấn át lương tri, lẽ phải và
phẩm chất liêm sỉ vốn có của con người. Sự đua tranh giành giật cái danh cái
lợi và lối sống thực dụng ích kỉ, buông thả xô bồ thấp hèn có nguy cơ làm lu
Kinh Pháp Hoa không những có giá trị về mặt tôn giáo mà còn có giá trị về
mặt ý nghĩa, tính chất của một tác phẩm Văn Học.
Với cách hiểu và đặt vấn đề như trên, là một Tu sĩ Phật Giáo - Học viện
thuộc chuyên ngành Tôn giáo của khoa Triết học trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Hà Nội, tôi mạnh dạn đề xuất đề tài "Tư tưởng giải
thoát của Phật Giáo qua phẩm Phổ Hiền Bồ Tát trong Kinh Pháp Hoa" làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kinh Pháp Hoa, tên đầy đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, là một trong
những bộ Kinh Đại thừa quan trọng nhất được được lưu hành rộng rãi ở
Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Tây Tạng và Việt Nam. Nhiều Dân tộc
trên thế giới tán ngưỡng và lấy Kinh giáo này làm Giáo Pháp căn bản. Kinh
chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Đại thừa Phật Giáo, đó là Giáo Pháp
về sự chuyển hóa của Phật tính và khả năng giải thoát. Mỗi người tùy trình độ
tu chứng khác nhau mà cảm nhận về Kinh và lý giải Kinh khác nhau.
Ở Việt Nam chúng ta thấy không những các Tùng Lâm, Tự Viện, Tịnh
Thất… mà ngay cả tại gia Phật tử cũng thụ trì đọc tụng và tu hành theo Kinh
Pháp Hoa. Điều này cho thấy Kinh Pháp Hoa là linh hồn của Đạo Phật bởi
trong Kinh Pháp Hoa luôn luôn hướng tới những điều nhân văn tốt đẹp.
Cùng với Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Pháp Hoa là bộ Kinh tối thượng
mà Phật thuyết lúc sắp nhập Niết- bàn, Phật nói "Kinh này là Vua của các
Kinh" (Chúng Kinh chi vương), ẩn chứa những điều cốt lõi của Đạo Phật. Do
5
vậy, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Kinh Pháp Hoa, tuy
nhiên các công trình ấy phần lớn là Hán ngữ, Nhật ngữ, hay Anh ngữ và đã
có một số rất ít được dịch ra Việt ngữ. Ở Việt Nam sự nghiệp dịch Kinh có từ
rất sớm, theo Lịch đại Tam Bảo ký, bộ Kinh Pháp Hoa Tam Muội đã được
Ngài Chi Cương Lương tiếp tục hợp tác với các học giả Việt Nam dịch ra chữ
Hán tại đất Giao Châu vào năm 260, nhưng bản dịch đó đã thất truyền. Hiện
nay.
- Giá trị về mặt tư tưởng và ý nghĩa của phẩm Phổ Hiền đối với xã hội
ngày nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Nội dung tư tưởng cơ bản Phật giáo , đặc biệt là tư tưởng giải thoát của
Phật giáo , vấn đề đó được thể hiện trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát
của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đặt nó trong cơ cấu tổng thể của Kinh với 28
phẩm (Bản Việt dịch của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, do Phật Học viện Quốc
tế xuất bản năm 1988, Phật lịch 2530; có tham khảo bản dịch của Hòa
Thượng Thích Thông Bửu do Nhà xuất bản Tôn giáo xuất bản năm 2002)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quan điểm cơ bản của triết học Phật Giáo trong quá trình nhận biết,
nắm bắt sự vật và tu chứng là "Trong Lí có Sự, trong Sự có Lí" (lí luận và
thực tiễn có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau), cho nên trong quá
trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng đề cập tới những luận điểm căn bản
trong Kinh Hoa Nghiêm, được coi như những tiền đề lí luận trong việc thực
hành Bồ Tát đạo theo tinh thần Pháp Hoa.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng Pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
7
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng lý luận mác xít về tôn
giáo học , đường lối chính sách của Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam
về tín ngưỡng tôn giáo.
Luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu về
tư tưởng giải thoát của Phật giáo trong kinh Pháp Hoa.
5.2. Phương Pháp nghiên cứu
Luận văn còn vận dụng các phương Pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng
hợp, lôgich, lịch sử, so sánh và khảo sát thực tế.
Thế Thân Bồ Tát chẳng những đã dẫn dụ Kinh Pháp Hoa trong bộ Nhiếp Đại
thừa luận mà còn soạn ra bộ Pháp Hoa Luận để làm nền tảng cho các chú giải
về sau. Nguyên bản Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Phạn không rõ có còn không,
nhưng vào khoảng đầu thế kỷ 19, Ông Hamilton, công sứ người Anh tìm thấy
ở Népal một bộ Kinh bằng chữ Phạn viết trên lá bối trong một động đá. Sau
đó có 19 bản Pháp Hoa khác chép tay bằng Phạn ngữ được phái đoàn người
Nhật, Anh, Pháp, Đức tìm thấy. Các phái đoàn thám hiểm Nhật, Anh, Đức và
Nga đi sang vùng Kotan ở Trung Á tìm thêm được sáu bộ Kinh Pháp Hoa
bằng Phạn ngữ và một bộ Kinh ở Kucha (quê của Ngài Cưu Ma La Thập).
Đến 1932 một bộ Kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy ở vùng Kashmir nối
9
liền với Afganistan, bộ Kinh này gồm có 2/3 bằng chữ Phạn và 1/3 chữ Magadhi
là loại chữ cổ nhất của nước Ma Kiệt Đà.
1.1.1. Kinh Pháp Hoa bằng chữ Hán
Người đầu tiên dịch Kinh này ra chữ Hán là Ngài Chi Khiêm, cư sĩ nước
Ngô thời Tam Quốc (225 - 253 TL). Trong thư mục Trung Hoa có rất nhiều
tác phẩm nói về lịch sử Kinh Pháp Hoa như là: Xuất Tam Tạng Ký Tập,
Chúng Kinh Mục Lục, Lịch Đại Tam Bảo Ký, Cổ Kim Dịch Kinh Mục Lục,
Đại Đường Nội Điển Lục, Đại Châu San Định Chúng Kinh Mục Lục, Khai
Nguyên Thích Giáo Lục, Trinh Nguyên Tân Định Thích Kinh Mục Lục.
- Chính PhápKinh Pháp Hoa:
Xuất Tam Tạng ký tập: Bộ Pháp Hoa có 10 quyển chia thành 27 phẩm
do Ngài Pháp Hộ dịch vào đời Thái Khương năm thứ 7 tháng 8 (286 TL).
Lịch Đại Tam Bảo Ký: Có 10 quyển do Ngài Trương Sĩ Minh, Trương
Trọng Chính, Pháp Hiển, Đàm Thuyên dịch vào năm thứ 7 đời Thái Đường.
Đại Đường Nội Điển Lục: 10 quyển, 189 tờ do Ngài Trúc Pháp Hộ
dịch tại Trường An, đời Tây Tấn niên hiệu Thái Khương.
Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỷ: 10 quyển do Đàm Ma La Sát người nước
Nhục Chi dịch tại Lạc Dương, đời Tây Tấn, Vua Võ Đế, niên hiệu Thái Thủy
1.1.2. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Việt Nam
Người Việt Nam phiên dịch Kinh Pháp Hoa rất sớm và phát triển mạnh
nhất vào thời kỳ Bắc thuộc. Lịch sử Kinh Pháp Hoa ở Việt Nam có thể chia
thành 3 thời kỳ khác nhau:
+ Thời kỳ chữ Hán: Bộ Kinh sáu quyển được dịch ra Hán văn tại Đạo
Tràng Giao Châu vào năm 256.
+ Thời kỳ chữ Nôm: Pháp Hoa Kinh bằng chữ Nôm, hiện vẫn còn ở
Đông Dương Văn Khố Tokyo.
+ Thời kỳ Quốc ngữ: Cư sĩ Đoàn Trung Còn dịch bộ Kinh Pháp Hoa
vào năm 1937. Mười năm sau bộ Kinh Pháp Hoa được Hòa Thượng Trí Tịnh
11
dịch ra. Đây là bộ Kinh được thông dụng phổ biến nhất ở nước ta và đã được
đông đảo quần chúng tụng đọc tại Chùa hay ở nhà Cư sĩ. Điều này chứng tỏ
Kinh Pháp Hoa đã trở thành nguồn sống tinh thần không thể thiếu của người
xuất gia nói riêng và của cả Dân tộc hiền hòa hiếu nghĩa như Dân tộc Việt
Nam nói chung. Ngày nay Pháp Hoa Kinh được nhiều Hòa Thượng, Thượng
Tọa, các nhà học giả và dịch giải như Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Hòa
Thượng Thích Trí Quảng, Hòa Thượng Thích Từ Thông, Hòa Thượng Thích
Trí Quang, Cố Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, Trượng Tọa Thích Thiện Trí
và Cư sĩ Mai Thọ Truyền…
1.2. Ý nghĩa của tên Kinh Pháp Hoa
So với các Kinh khác, đề Kinh Pháp Hoa có tính riêng đặc biệt:
- Kinh Pháp Hoa này do hai vạn Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh
thuyết Pháp. Nghĩa là Chư Phật quá khứ đã thuyết rồi, đây là đặc điểm khác
hơn các Kinh khác.
- Ở phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát, Phật nói khi Ngài còn là Bồ Tát
Thường Bất Khinh, Ngài còn nghe Phật Oai Âm Vương thuyết Pháp Hoa.
- Đến phẩm Đề Bà Đạt Đa, Phật cho biết khi xưa, Ngài làm Chuyển
Luân Thánh Vương, đã từng học Kinh với Bồ Đề Đạt Đa.
Sen, là một loài hoa mọc từ bùn vươn lên nhưng sắc hương của nó luôn nhẹ
nhàng thanh khiết, và bao gồm những đặc tính cao quý mà ở các loài hoa khác
không thể có được. Cho nên Kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy Hoa Sen làm biểu
tượng, vì Hoa Sen có nhiều đặc điểm. Hoa Sen ở trong bùn lầy nhơ nhớp mà
vẫn không bị hôi tanh, vẫn đẹp thơm tinh khiết. Cũng vậy, trong thân Ngũ uẩn
nhơ uế này luôn hằng hữu một Pháp thân thanh tịnh, hay Kinh Pháp Hoa còn
gọi là tri kiến Phật.
Hoa Sen còn có nghĩa là nhân quả đồng thời, khi chưa nở đã có quả rồi,
nên gọi là hoa quả đồng thời, khi hoa nở thì quả cũng hiển bày. Như vậy, đại
tuệ bình đẳng, thật tướng bình đẳng, từ trong nhân đã có quả, và từ trong quả
đã có nhân, nhân quả đồng thời.
13
Sự hiển lộ đồng thời của cánh, nhụy, gương, hạt đã tượng trưng đầy đủ ý
nghĩa nhân quả đồng thời một cách trọn vẹn.
Căn cứ vào sự hiển lộ đồng thời của nhân quả, khẳng định rằng: chúng
sinh mặc dù đang rong ruổi theo trần nhưng tri kiến Phật đã tự tròn đầy trong
sáng vô thủy, vô chung.
Chúng sinh tuy căn tính bất đồng, bị vô minh tham ái chấp thủ, làm lu
mờ tâm tính nhưng bản thể chân thường kia vẫn không hề mai một, dù trong
thân ngũ ấm kia luôn bị thiêu đốt bởi lửa tham, sân, si, phiền não, luôn bị
ngập chìm trong dục vọng, nhưng không vì vậy mà Phật tính kia bị mất đi hay
nhiễm theo Pháp bất thiện.
Chính vì những đặc tính đáng quý đó mà Đức Phật đã mượn Hoa Sen để
đặt cho tên Kinh.
Kinh (Sutra) nguyên nghĩa là một sợi dây hay một sợi chỉ dọc trong
ngành dệt. Người Ấn Độ ngày xưa có thói quen trang điểm tóc mình bằng
những bông hoa đẹp xâu bằng một sợi dây. Ở đây cũng vậy, giáo lý Thâm
diệu xuyên suốt của Đức Thế Tôn được góp nhặt lại thành những tác phẩm
gọi là Kinh.
Hoa là"Khai quyền hiển thực" (Khai phá trừ bỏ cái nhận thức sai lầm để hiển
bày ra cái chân thực). Đứng về phía chúng sinh thì nói giáo lý "Khai tam hiển
nhất": nghĩa là khai triển ra tam thừa là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát
rồi tụ về nhất Phật thừa. Về phía Phật thì nói giáo lý "Khai tích hiển bản" (Phá
trừ cái mê chấp về thật hiện tiền để thấy Phật từ muôn kiếp trước), Đức Phật
Thích Ca từ khi thành đạo, đến lúc 80 tuổi Ngài nhập Niết Bàn, đó chỉ là
phương tiện quyền hiện ra trên cõi đời này, chứ thực ra Pháp thân của Ngài
vẫn thường trụ và đã thành Phật từ những kiếp xa xưa mới chính là bản Phật.
Đó là nghĩa Khai tích hiển bản.
Tư tưởng Nhất Phật thừa này có một sức mạnh mãnh liệt để xóa bỏ mọi
thiên chấp của các bộ phái trong quá khứ về Phật đạo. Mặt khác, chỉ ra tư
tưởng này mới có khả năng hệ thống hóa mọi cấp độ Tâm linh thể nghiệm
Phật Giáo trong cuộc sống. Đây chính là mục tiêu tối hậu của Đức Phật. Như
15
vậy, chính những điểm đặc thù trên mà các nhà nghiên cứu Phật học đều suy
tôn Kinh Pháp Hoa lên ngôi vị Pháp Vương "Chúng Kinh chi Vương", là Vua
của tất cả các Kinh vậy. Như vậy, phần giáo lý của Kinh Pháp Hoa thì bàn về
nghĩa Pháp thân thường trụ, hay Phật thân thường trụ, nêu rõ mục đích cứu
cánh của giáo nghĩa Đại thừa, nghĩa là tất cả chúng sinh, ai cũng có thể
thành Phật.
1.4. Khái lƣợc nội dung Kinh Pháp Hoa
Kinh Pháp Hoa gồm bảy quyển, được chia làm hai mươi tám phẩm. Từ
thời xưa, các học giả Phật học đã chia Kinh Pháp Hoa theo nhiều cách để hiểu
Kinh cho rõ hơn và dễ thực hành.
Trong Kinh Pháp Hoa, chủ đề chính của Kinh được chia thành hai
phần, đó là tích môn và bản môn. Tích môn và bản môn này là lập trường căn
bản của Kinh Pháp Hoa được mở rộng. Do vậy, muốn nghiên cứu tư tưởng
Kinh Pháp Hoa, thiết tưởng không thể không nghiên cứu hai môn này.
1.4.1. Tích môn
theo tinh thần Hoa Nghiêm thì tất cả đồng ở trong Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na,
lúc ấy Tâm Phật và Tâm của những vị trong hội chúng thông đạt với nhau, thể
nhập vào thế giới bao la mầu nhiệm của Pháp Hoa để nghe Pháp.
Điểm nổi bật trong phẩm tựa là có sự hiện diện của hai Bồ Tát: Di Lặc
và Văn Thù, hai vị này biểu tượng của lòng Từ bi (Di Lặc) và Trí tuệ (Văn
Thù). Vì Từ bi nên Phật Phương Tiện nói Pháp chỉ bày, vì Trí tuệmuốn cho
chúng sinh trở về bản thể Như Lai Tạng hay Pháp thân thường trú nên Phật
thuyết Pháp Hoa. Sau khi viên mãn hạnh nguyện, Phật nhập Niết bàn, đây là
truyền thống ba đời Chư Phật, tức là đã hoàn thành xong hạnh nguyện thì
không còn đối đãi, bặt ngôn ngữ dứt suy lường, là chỗ không còn vướng bận
của ý niệm về tôi và của tôi, hay các phương tiện của "Hóa Thành" mà cứu
kính. Đó là trọn vẹn của cuộc đời giáo hóa của Chư Phật, từ các phương tiện
đến Thật Tướng các Pháp tư nghì, bất sinh, bất diệt. Đức Phật đã dung thông
lý và sự, kết hợp hiện tượng giới và bản thể giới mà làm tròn nhân hạnh của
Ngài. Hạnh nguyện của bậc Tự Giác - Giác Tha, Giác Hạnh viên mãn.
17
*Phẩm phương tiện:
Gọi là Pháp thuyết Châu, trình bày về tri kiến Phật. Đây chính là trung
Tâm của Tích môn, đối tượng thính chúng trong Pháp hội này là những vị Bồ
Tát thượng trí. Ngài Xá Lợi Phất biểu trưng cho Trí tuệ đệ nhất, làm thượng
thủ trong hội chúng mới có thể lãnh hội được.
*Từ Phẩm ba đến Phẩm sáu:
Là phẩm Thụ ký: gọi là dụ thuyết Châu. Có nghĩa là thay vì nói thẳng
những điều cần nói như ở phẩm Phương Tiện. Ở đây Phật dùng ba thí dụ để
nói về ba cõi con người trải qua là: nhà lửa, đứa con khốn cùng và cây thuốc
để diễn bày Tri Kiến Phật. Nhờ đó, hàng trung căn tín giải được: "Chư Phật là
Phật đã thành, chúng ta là Phật sẽ thành", tuy còn ở trong ba cõi nhà lửa mà tự
tin biết chắc được như vậy, cố Tâm vượt khỏi, chẳng tham luyến chỗ vui chơi
của trẻ con, Tâm chẳng rong ruổi mong cầu, chẳng khởi vọng nghiệp, duyên
Hiện Bảo Tháp của Phật Đa Bảo là biểu thị cho Phật, Phật tính có sẵn
trong Tâm phiền não của chúng sinh, khi mê thì vọng động duyên theo khách
trần, khi tỉnh thì bản lai diện mục tự hiển bày, tức tất cả chúng sinh đều có
Phật tính, Phật tính chính là Giác tính. Nên cần được biết một cách rõ ràng, lìa
các thứ ngăn che, tức hội được cảnh giới Chư Phật. Các Pháp đều ở trong
Tâm, tùy Tâm biến hiện. Ở phẩm này ý nói: Tháp là từ dưới đất mà xây lên,
đất là Tâm địa của mỗi chúng sinh; Phật Đa Bảo ngồi trong tháp biểu tượng
cho Pháp, ví Pháp là Tâm, mà Tâm là Pháp. Tháp Bảo ở đây là dụ cho Pháp ở
trong Tâm của mỗi người. Theo Ngài Từ Ân kiến giải ý nghĩa Phật quá khứ
Đa Bảo và Phật Thích Ca hiện tại ngồi chung Pháp tọa là cổ kim bình đẳng
bất nhị. Phật xưa và nay không khác, ba cõi mười phương Chư Phật hiểu biết
chân lý, vận dụng chân lý và cuộc sống đều giống nhau. Trong Tâm của mỗi
người đều chứa đầy đủ tất cả công đức (từ, bi, hỷ, xả) Tâm đó là Tâm Phật
nhưng chưa hoàn thiện nảy nở như Tâm Phật.
Đức Phật Thích Ca đạt đến sự thành tựu cao quý ấy tức đạt đến nhân
cách hoàn thiện, Tâm cùng với Phật Đa Bảo không khác. Phật Đa Bảo từ dưới
đất hiện lên biểu tượng ý nghĩa: Đức Phật Đa Bảo một vị Phật quá khứ mà
19
không diệt, Đức Phật Thích Ca sinh mà không sinh. Hai vị ngồi cùng tọa vì là
không sinh diệt, Đức Đa Bảo biểu hiện cho Phật tính có phần trong đất phiền
não của mỗi chúng sinh, khi gặp hội Pháp Hoa thì hiển lộ.
*Phẩm mười hai Đề Bà Đạt Đa:
Trong nhiều Kinh khác đều nói Đề Bà Đạt Đa là một người phạm trọng
tội ngũ nghịch, sẽ đọa vô gián địa ngục vì nghiệp chướng quá sâu dày. Nhưng
đến Kinh Pháp Hoa Phật cho biết Đề Bà Đạt Đa từ vộ lượng kiếp là thiện tri
thức của Ngài, giúp Ngài thành Phật qua việc Ông đã nói là Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, chứng tỏ Kinh này có năng lực đã làm cho Ngài thành Phật. Và
những người phạm ngũ nghịch tội với Phật như Đề Bà Đạt Đa cũng là người
trợ duyên cho Ngài trên lộ trình tiến đến quả Phật. Việc Long Nữ phát Tâm tu
Bản môn là giáo lý biểu hiện mối quan hệ giữa Đức Phật và con người
tức là sự cứu độ con người của Đức Phật. Sự cứu độ này tùy thuộc vào lòng
Từ bi của Đức Phật và lòng Từ bi này là tinh thần chủ yếu của Bản môn.
Pháp thân thường trú nơi mỗi con người từ xưa đến nay chưa từng sinh
diệt, không hạn cuộc bởi thời gian, không gian, không đến, không đi, không
hoại,… vì vậy mà Phật nói "Tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật". Tư tưởng
này, Kinh Pháp Hoa thì gọi là "Tri Kiến Phật". Kinh Lăng Nghiêm thì gọi là
"Chân Tâm thường trú", "Như Lai Tạng" Thiền Tông thì gọi là "Vô sư trí",
"Bản lai diện mục", "Ôngchủ" đều chỉ cho thụ lượng của Như Lai hay Pháp
thân thường trú nơi mỗi chúng sinh, đó chính là tông chỉ của Bản môn.
*Phẩm Tùng địa dũng xuất thứ mười lăm:
Do công phu tu hành, trở về Phật tính, tự nhiên thân này chứng được
"Vô sư trí", Trí này phát xuất từ Pháp thân, nên Bồ Tát từ "Đất đi lên", Trí
này do công năng tu hành có khả năng chống lại sinh tử, từ nơi Chân tính mà
có nên không bị sinh diệt chi phối, vì vậy Đức Phật phủ nhận Bồ Tát ở tha
phương duy trì, truyền bá Kinh Pháp Hoa ở cõi này, mà chỉ có Bồ Tát từ đất
đi lên mà thôi, vì Bồ Tát tha phương là Trí hữu dư, do học tập được, vì còn
phân biệt, nếu còn phân biệt thì sinh tử, sinh diệt, nên không có khả năng bảo vệ
Phật tính chính mình.
21
*Phẩm Như Lai Thụ Lượng thứ mười sáu:
Khi đã có Vô sư trí thì mới có thể nhận rõ được Pháp thân (Phật tính)
mà Pháp thân thì bất sinh, bất diệt, hằng hữu, vĩnh cửu, không bị thời gian
chi phối, Pháp thân có sẵn ở thân này, nhưng mọi người không nhận ra, khi
Vô sư trí phát sinh thì được Pháp thân. Vì vậy mà khó tin, khó nghĩ bàn, đó
cũng là thân Phật vậy, nếu tin nhận, thì không thể nào lường được, đó chính là
thân Kim Cương vậy.
*Phẩm Phân Biệt Công Đức thứ mười bảy:
Đối với Pháp thân thì bất biến, nếu người nào tin nhận là đã trở về với