MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tổ chức môi trường vui chơi của trẻ trong trường, lớp mẫu giáo có ý
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm kỹ.
năng - xã hội, khả năng thẩm mỹ, sáng tạo của trẻ. Vì vậy, các trường mầm
non luôn quan tâm sắp xếp, trang trí môi trường học tập trong và ngoài lớp
học sinh động, hấp dẫn theo chủ đề và phù hợp lứa tuổi của trẻ. Xây dựng môi
trường giáo dục theo chủ đề ở các trường mầm non là một biện pháp hữu hiệu
nhằm xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, giúp trẻ háo hức
khi đến trường, có tác dụng hỗ trợ giáo dục, kích thích trẻ chủ động tích cực
tham gia vào các bài học theo chương trình giáo dục mầm non mới và nó
cũng phù hợp với tinh thần đổi mới phương pháp giáo dục trẻ theo hướng tích
cực là chuyển từ hoạt động thụ động sang việc tổ chức hướng dẫn trẻ hoạt
động chủ động, độc lập, tự giác, phát triển nặng lực của mỗi cá nhân trẻ. Cô
giáo giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của trẻ, cô là cố vấn khuyến
khích động viên, có thể cùng tham gia với trẻ tạo ra quá trình hoạt động tích
cực của trẻ.
Chính vì vậy tạo môi trường hoạt động tốt là nhằm tạo cơ hội cho trẻ
tìm tòi khám phá trải nghiệm củng cố những kiến thức đã lĩnh hội được qua
hoạt động học, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Nó còn giúp trẻ
giảm bớt căng thẳng mệt mỏi trong quá trình học tập và cung cấp nhiều hơn
kinh nghiệm hơn trong cuộc sống.
Tạo môi trường hoạt động cho trẻ vui chơi còn hình thành ở trẻ tình
cảm tốt đẹp với trường lớp, cô giáo, bạn bè, ông bà, bố mẹ và những kỹ năng
cần thiết trong quá trình ứng xử giao tiếp với mọi người.
Môi trường vui chơi cho trẻ được thể hiện rõ nét nhất khi trẻ tham gia
vào trò chơi đóng vai theo chủ đề. Trò chơi có ý nghĩa rất lớn đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ và đặc biệt trẻ được trải nghiệm và thể
hiện bản thân mình. Vì vậy, xây dựng môi trường vui chơi qua trò chơi đóng
vai theo chủ đề là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện trẻ.
Nếu đề xuất được hệ thống các biện pháp xây dựng môi trường qua trò
chơi đóng vai theo chủ đề 1 cách hợp lí thì sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tổ
chức hoạt động vui chơi của trẻ cho giáo sinh.
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hình thành kỹ năng xây dựng
môi trường vui chơi qua trò chơi đóng vai theo chủ cho giáo sinh.
5.2. Khảo sát thực trạng việc xây dựng môi trường vui chơi của giáo
sinh và giáo viên trường TCSP Mẫu giáo – Nhà trẻ Hà Nội.
5.3. Đề xuất các biện pháp hình thành kỹ năng xây dựng môi trường
vui chơi cho giáo sinh trường TCSP Mẫu giáo – Nhà trẻ Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Hình thành kỹ năng xây dựng môi trường vui chơi qua các loại trò
chơi khác nhau, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi cơ bản
hình thành kỹ năng xây dựng môi trường tốt nhất thông qua tổ chức cho giáo
sinh tập dạy ở trên lớp, tập dạy ở trường mầm non và thực tập sư phạm.
- Nghiên cứu đối tượng giáo sinh năm thứ hai (120 giáo sinh) của
trường TCSP Mẫu giáo – Nhà trẻ Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2013 đến hết tháng 5 năm 2014.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập thông tin, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa các tư
liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
Các nhà Tâm lý học và Giáo dục học như Vưgôtxki, A.N.Lêônchiev,
A.P Uxova, Ph.I.Rucopxkaia, Đ.V Menzerkaia, A.X. Makarencô…đều nói
đến vai trò quan trọng của việc xây dựng môi trường vui chơi cho trẻ. Các
nhà giáo dục đã khẳng định môi trường vật chất trong trường, lớp mẫu giáo
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển về thể lưc, trí lực, và tình cảm của
trẻ thơ và có ảnh hưởng đến hành vi của cả người lớn và trẻ em. Thông qua
chơi cùng với môi trường chơi được chuẩn bị đã giúp trẻ lĩnh hội được kinh
nghiệm lịch sử - xã hội và nó chỉ trở thành phương tiện giáo dục khi có sự
hướng dẫn sư phạm đúng đắn. Các tác giả đã nghiên cứu dưới nhiều khía
cạnh
- Về phát triển xã hội: Giúp trẻ phát triển khả năng tự kiểm soát vi
,ứng xử của bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh và khả năng giải quyết tình
huống thông qua vai chơi hoàn cảnh chơi,qua đó cung cấp và phát triển ở trẻ
những kiến thức chức năng về môi trường xung quanh đặc biệt hình thành ở trẻ
tình cảm thân thiết với mọi người, tin cậy ở người lớn, bạn bè và tin cậy vào bản
thân, biết sử dụng hợp lí đồ dùng sinh hoạt phù hợp với từng hoạt động.
- Phát triển cá nhân: tăng cường sự phát triển những suy nghĩ về bản
thân như là một con người co đầy đủ khả năng,tự tin vào bản thân và biết giải
quyết vấn đề thông qua tình huống nảy sinh qua môi trường vui chơi, trẻ học
5
cách giải quyết nhiệm vụ, tìm kiếm phương tiện thích hợp nhất để thực hiện
dự định đưa ra, trẻ huy động tất cả tri thức của mình và biểu lộ ra bằng lời
nói. Vì vậy, giáo viên phải chuẩn bị môi trường chơi tốt cho trẻ để thông qua
đó giúp trẻ biết luôn phải tự tạo ra hoàn cảnh chơi, sử dụng vật thay thế, sử
dụng các kí hiệu tượng trưng… giúp cho trẻ hứng thú nhận thức về thế giới
xung quanh, giúp trẻ hoạt động tích cực tìm kiếm để hoàn thành nhiệm vụ
được giao trong nhóm chơi.
- Phát triển thể lực: thông qua môi trường vật chất được chuẩn bị cùng
hoạt hằng ngày” [ 37;Tr.137]. Ở trường mẫu giáo, hết thảy mọi thứ đều phải
thích hợp với việc phát triển tính độc lập của trẻ, sử dụng tính tích cực của các
em và dạy cho các em tinh thần tự phục vụ ngay từ nhỏ, trong đó môi trường vui
chơi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kỹ năng xã hội cho trẻ.
Trong cuốn ''Đồ chơi - trò chơi và kỷ luật '' của các tác giả Bearit,
Tudor, Gard đã khẳng định trò chơi có chức năng giáo dục cho trẻ nếp sống
văn hoá, thói quen ngăn nắp, tính kỷ luật, tình bạn bè, sự chia sẻ, tình cảm,
giúp trẻ tích luỹ những khái niệm về các mối quan hệ xã hội, từ đó giúp trẻ dễ
dàng bước vào cuộc sống.
Nhà sư phạm người Séc J.A. Kômenxki đã khẳng định chơi là phương
tiện, là con đường giúp trẻ xích lại gần nhau, tạo ra niềm vui sướng chung
cùng bạn bè. Từ đó ông khuyên các bậc cha mẹ và cô giáo cần có thái độ
đúng mức trong việc hướng dẫn trẻ chơi nhằm phát huy vai trò tích cực của
hoạt động chơi đối với sự phát triển của trẻ.
Trong cuốn “ Tâm lí học trẻ em” Đ.V Encônhin lại cho rằng khi có sự
phân công lao động theo lứa tuổi, vị trí của đứa trẻ trong xã hội cũng có sự
thay đổi, lúc này người lớn nghĩ ra và làm cho trẻ những đồ chơi - tạo dáng
bên ngoài của đồ chơi giống như công cụ lao động nhưng trẻ không thể luyện
tập như công cụ lao động mà chỉ có thể miêu tả được của lao động mà thôi.
Đặc biệt khi nghiên cứu về môi trường vui chơi của trẻ, không thể
không nhắc đến tác giả Maria Montessori. Maria Montessori sinh ra ở
Chiaravelle nước Ý. Bà là phụ nữ đầu tiên tốt nghiệp y khoa đại học Rome
(1894). Năm 1899, Bà bắt đầu nghiên cứu và các vấn đề giáo dục trẻ và bà
đặc biệt nhất mạnh đến tầm quan trọng của môi trường vui chơi đối với sự
phát triển của trẻ. Theo phương pháp giáo dục Montessori thì xây dựng môi
7
trường, thiết kế môi trường là đáp ứng nhu cầu của trẻ. Trong môi trường đó
8
dụng chúng trong hoạt động của mình, qua đó giúp trẻ có ý thức thận trọng,
cẩn thận trong sử dụng đồ dùng học cụ.
Khi nói về “Môi trường được chuẩn bị” Bà cũng đặc biệt nhấn mạnh
đến sự phân chia khu vực dành riêng cho sinh hoạt mà các em thường thấy ở
nhà (sinh hoạt thực tiễn) Khi thiết kế khu vực này cần sát sao văn hoá gia
đình để qua đó trẻ thấy quen thuộc như là ở nhà các em. Tất cả sinh hoạt đó
cho trẻ cơ hội làm có mục đích, có ý nghĩa bởi vì “thông qua sinh hoạt đó trẻ
phát triển vận động có phối hợp, tính tự lập và sự tập trung tư tưởng, qua đó
phát triển nhân cách của đứa trẻ”[38;T51]. Khu vực hoạt động thực tiễn chia
3 khu vực: Thứ nhất chăm sóc cho bản thân. Thứ hai chăm sóc môi trường:
môi trường trong lớp và ngoài sâu: Bao gồm chăm sóc cây, hoa, thú vật, rửa
li, rửa cốc. Thứ ba là khu vực để thực hành bài tập phong cách tác phong
thanh lịch. Những bài tập này bao gồm sự tập luyện vận động có phối hợp và
đưa yếu tố sinh hoạt tập thể vào trong môi trường đó.
Trong môi trường Montessori, Bà cũng chú ý đặc biệt đến đồ dùng học
cụ. Bác sĩ Maria Montessori thiết kế ra một số học cụ giác quan. Bà đề ra
những bài tập, học cụ riêng cho giác quan. Trong ngôi nhà của Montessori
không thiết ra học cụ mới vì học cụ trong môi trường Montessori đã được
thiết kế, thử nghiệm một cách rất khoa học. Bà đã loại ra nhiều đồ chơi không
đáp ứng được nhu cầu của đứa trẻ, bà cho rằng thông qua sinh hoả học cụ đó
trao cho trẻ chìa khoá để trẻ tự khám phá ra điều mới. Học cụ giác quan tạo ra
ấn tượng vì môi trường một cách thông suốt giúp trẻ tính luyện giác quan một
cách tinh tế hơn. Bà nhấn mạnh việc tinh luyện các giác quan làm nền tảng cơ
bản phát triển trí khôn của trẻ.
Các bộ học cụ được thiết kế khoa học về kích cơ, màu sắc chất liệu, các
bộ học cụ không phải là “món đồ chơi” mà các bộ học cụ này “đáp ứng được
nhu cầu phát triển”.
bạn khác vì trẻ đang tự kiến tạo bản thân.
Trong ngôi nhà Montessori trẻ có tự do về thời gian, trẻ có tất cả thời
gian mà nó cần để hoàn thành công việc. Trẻ có tự do vận động, di chuyển
nhưng không tự do không có nghĩa là trẻ muốn làm gì thì làm. Theo quan
10
điểm của bà sự tự do của trẻ phải hài hoà với sự tự do của nhóm an toàn cho
cá nhân cũng là an toàn cho nhóm, ở đây thể hiện rất rõ vai trò của người lớn.
Vậy vai trò của người lớn là gì? Người lớn phải chuẩn bị môi trường
đáp ứng của trẻ, đảm bảo sự tự do trong bối cảnh của môi trường đó. Người
lớn phải sắp xếp, duy trì môi trường, nếu học cụ vỡ, hỏng phải lấy ra khôi môi
trường, những học cụ không đáp ứng được hoạt động của trẻ cũng phải loại
bỏ khỏi môi trường Montessori . Người lớn giúp trẻ nhận ra rằng: Người lớn
trong môi trường đó là người hiểu và đáp ứng được nhu cầu của trẻ, qua đó
cũng thể hiện sự tôn trọng của người lớn đối với sự phát triển của trẻ, sắp xếp
môi trường với sự thận trọng lòng yêu thương.
Theo bác sĩ Montessori, loại bỏ những học cụ không phù hợp là rất
quan trọng, tốt cho sự phát triển toàn diện của trẻ, bà cho rằng nhiều học cụ
tốt nhưng môi trường hỗn độn thì cũng không thể tạo ra sự phát triển và điều
đó chứng tỏ người lớn không hiểu được môi trường hoạt động dành cho trẻ.
Ngay cả khi trong môi trường đó mà không có đầy đủ học cụ nhưng biết áp
dụng những học cụ đó một cách đúng đắn, có nguyên tắc vào trong đời sống
của trẻ thì có thể tạo ra kết quả to lớn và rất có ý nghĩa. Bà quan niệm đứa trẻ
có tâm thức khác tâm thức của người lớn. Đứa trẻ có trí tuệ thấm hút. Với trí
tuệ thấm hút đó, trẻ hấp thụ tất cả ấn tượng trong môi trường nó sống, nó tiếp
thu và điều ấy trở thành một phần của bản thân đứa trẻ. Vì vậy, người lớn cho
trẻ cơ hội để trẻ trải nghiệm thực, trật tự trong môi trường, hỗ trợ cho trí tuệ
thấm hút, khi trẻ được thực nghiệm, trải nghiệm cũng là lúc trẻ thấm hút
tương tác về mặt xã hội trong môi trường đó, trải nghiệm tích cực trong giao
tự do làm việc, tự do sinh hoạt, mỗi bài tập trong ngôi nhà trẻ mời gọi trẻ để
có sự lựa chọn sinh hoạt phù hợp với mình.
Cùng với sự tự do vận động là sự tự do về thời gian. Đứa trẻ có toàn
thời gian để thực hiện công việc, muốn làm bao lâu tuỳ thích, không có quyền
“dẹp hoạt động”, cất dụng cụ sinh hoạt của đứa trẻ.
Trẻ trong môi trường Montessori có sự tự do quan sát, cũng có khi trẻ
ngồi ở một chỗ không làm gì chỉ ăn uống, nói chuyện với bạn.
Một giới hạn trong môi trường Montessori, mỗi sinh hoạt chỉ có 1 bộ
học cụ tương ứng mà thôi, nó giúp trẻ dễ dàng lựa chọn hoạt động sinh hoạt
12
cụ thể, điều này không làm chờ đợi, khi bạn dùng xong thì mới đến lượt mình
sử dụng, qua đó các em còn học được tính tôn trọng người khác. Một giới hạn
khác trong môi trường Montessori sau khi dùng xong trẻ phải dọn dẹp trả về
vị trí cũ, bởi vì khi trẻ làm như vậy nó mới cảm thấy đã hoàn thành công việc
của mình. Ở khía cạnh khác mang tính xã hội của hành động này đó là một
người bạn khác khi cần bộ học cụ này thì đã có sẵn sàng. Bà Montessori có
nhận xét nhóm trẻ trong ngôi nhà trẻ đã trưởng thành hợp tác với nhau hơn,
thích nghi tốt, có kỉ luật nội tại từ bên trong vì trong ngôi nhà trẻ đó có tự do
và giới hạn được đưa ra.
1.1.2. Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết, Đào Thanh Âm,
Đinh Văn Vang, Chương trình giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và Đào
tạo, của Vụ giáo dục mầm non, Viện giáo dục…cũng đều nêu bật vai trò của
môi trường hoạt động đối với sự phát triển của trẻ. Việc xây dựng và tổ chức
tốt môi trường hoạt động giúp trẻ phát triển hài hòa cả về thể chất lẫn tâm lý,
qua đó góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn sách ''Giáo dục trẻ mẫu giáo
trong nhóm bạn bè '' phân tích vai trò chủ đạo của vui chơi trong phát triển
tạo. Theo tác giả thì giáo viên có vai trò quan trọng trong hoạt động vui chơi của
trẻ, bởi chính cô là người tổ chức, định hướng dẫn dắt trẻ trong quá trình chơi, vì
vậy cô phải tạo ra môi trường chơi phù hợp với chủ đề giáo dục,với nội dung
chơi,với độ tuổi của trẻ nhằm kích thích hứng thú chơi của trẻ.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, trong cuốn “Phát triển và tổ chức thực
hiện chương trình giáo dục mầm non”: Việc xây dựng môi trường trong giáo
dục trong mầm non thực sự cần thiết và quan trọng. “Nó được ví như người
giáo viên thứ hai trong công tác tổ chức hướng dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa
mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ, thông qua đó, nhân cách của trẻ
được hình thành và phát triển toàn diện” [11; Tr.107]. Tác giả cho rằng một
môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí các khu vực trong lớp thuận tiện có ý
nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất của trẻ, mà còn thỏa mãn
nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực
sáng tạo. Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh đến cách sử dụng môi trường vui
14
chơi. Cần khai thác triệt để tác dụng của tranh ảnh,đồ dùng đồ chơi, tránh tình
trạng xây dựng môi trường chỉ mới mục đích trang trí. Muốn vậy, giáo viên
phải xác định rõ mục đích sử dụng của mỗi loại đồ dùng, đồ chơi là để cung
cấp, củng cố kiến thức cho trẻ hay để giúp trẻ thiết lập các mối quan hệ trong
khi chơi, thỏa mãn nhu cầu vui chơi.
Tác giả Trần Thị Lan Hương trong tài liệu “Tổ chức môi trường giáo
dục trong trường mầm non” cho rằng: “tất cả những giáo viên nào nhận thức
được sức mạnh của môi trường sẽ đủ khả năng sắp xếp môi trường trong và
ngoài nhóm chuyển đến trẻ thông điệp mà họ mong muốn” [13; Tr.13]. Đối
với trẻ mọi yếu tố của môi trường đều quan trọng. Diện tích phòng nhóm, sân
chơi, màu tường, loại bàn ghế, sân nhà, độ chiếu sáng, đồ dùng…đều có tác
dụng ảnh hưởng đến hoạt động học tập và sinh hoạt của trẻ. Cô giáo có thể
đạt được rất nhiều điều thông qua việc sắp xếp bố trí phòng nhóm và sân chơi,
muốn được học cần được tổ chức dưới hình thức vui chơi “học mà chơi, chơi
mà học”.
Trong vui chơi con người sử dụng rất nhiều chơi, tuỳ vào góc độ tiếp
cận mà có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về trò chơi:
- Theo Từ điển tiếng Việt, chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui,
được bày ra trước mắt mọi người, chữ “chơi” để chỉ những hoạt động lúc nhàn
rỗi, ngoài giờ làm việc, có mục đích giải trí. Từ đó “trò chơi” được hiểu là những
hình thức hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu giải trí của con người.
- G.V Plêkhanốp cho rằng: trò chơi là một hình thức hoạt động, gắn
liền với lao động của xã hội loài người, ông đã lý giải mối quan hệ giữa vui
chơi của trẻ em và lao động của con người như là nguồn gốc xã hội nảy sinh
trò chơi.
Các nhà Giáo dục học, Tâm lí học theo trường phái sinh học như
K.Groos, CKoll …cho rằng chơi là do bản năng là sự giải tỏa năng lượng dư
thừa và trò chơi của trẻ em giống như trò chơi của động vật nhỏ.
Những quan điểm về chơi như thế, ở phương Tây đã xuất hiện và phát
triển thuyết “Giáo dục tự do” theo nguyên tắc: cứ để cho trẻ được hành động
theo ý muốn của nó,người lớn không được can thiệp vào công việc của trẻ.
- Một số nhà khoa học khác như: Tăng Bồi Viêm (Trung Quốc),
Nguyễn Toán, Lê Anh Thơ (Việt Nam ) thì cho rằng: trò chơi là một bộ phận
16
của nền văn hoá xã hội, là một phương tiện để giáo dục con người, trước hết
là giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng.
- Theo quan điểm của giáo dục học, thì trò chơi là hình thức thể hiện
cuộc sống, là phương tiện phát triển nhân cách cho con ngươi. Đối với trẻ em
trò chơi là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hoạt động của người lớn, qua vui
chơi, thể lực, trí tuệ, đạo đức được hình thành.
- Theo tác giả Ngô Ngọc Thanh trò chơi là hoạt động trình diễn bằng
qua đó trẻ bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình. Khi chơi, trẻ sống một cuộc sống
thực chính trong hoạt động chơi, trẻ thực sự là một chủ thể tích cực hoạt
động, giao tiếp và chủ động vận dụng các kinh nghiệm đã có để củng cố, khái
quát thành kiến thức để hình thành nhân cách. Vì vậy, trò chơi là một hoạt
động tự lực và sáng tạo của trẻ cần được người lớn tổ chức hướng dẫn. Trò
chơi là một hình thức đặc thù độc đáo của trẻ em để thực hiện tác động tương
hỗ giữa chủ thể với môi trường xung quanh.
1.2.2 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Bước vào tuổi mẫu giáo, trẻ có thể tham gia vào nhiều trò chơi khác
nhau như: trò chơi dân gian, trò chơi vận động, trò chơi học tập, trò chơi đóng
vai..., trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề (TCĐVTCĐ) giữ vị trí trung
tâm. TCĐVTCĐ sẽ tạo ra cái mới, những nét đặc trưng trong tâm lí trẻ, giúp
trẻ tập luyện các hành vi nhân cách như người lớn.
- TCĐVTCĐ là loại trò chơi mô phỏng các hoạt động trong cuộc sống
sinh hoạt của người lớn, trẻ đóng vai một nhân vật nào đó để thực hiện chức
năng xã hội của nhân vật đó, bằng những hành động mang tính tượng trưng.
Trong TCĐVTCĐ trẻ em tái tạo lại những ấn tượng, những xúc cảm
mà trẻ thu nhận được từ cuộc sống, từ môi trường xã hội nhờ sự tham gia tích
cực của trí tưởng tượng.
Khi trẻ chơi TCĐVTCĐ, điều hấp dẫn nhất đối với trẻ là chúng được
thoả mãn nguyện vọng được chơi, được sống và hoạt động giống như người
lớn. Ví dụ: Trò chơi “Gia đình” - trẻ đóng vai là bố, mẹ, con... bố, mẹ yêu
thương con, chăm sóc con, lo lắng khi con ốm đau. Con ngoan biết nghe lời bố
mẹ, lễ phép, kính trọng bố mẹ... Trò chơi “Bệnh viện” trẻ đóng vai bác sĩ, y tá,
18
bệnh nhân...Bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân, y tá phụ giúp và làm theo chỉ
dẫn của bác sĩ; bệnh nhân phục tùng ý kiến của y tá, bác sĩ... nghĩa là trẻ mô
phỏng lại các hành động, lời nói, mối quan hệ của các vai trong trò chơi, đây là
em đóng vai các nhân vật, tái tạo lại những hành động và cảm xúc của nhân
vật để thỏa mãn nhu cầu vui chơi của mình.
Đặc trưng của TCĐVTCĐ:
- Trò chơi ĐVTCĐ là một dạng hoạt động mang tính tự do, tự nguyện.
Vui chơi của trẻ là hoạt động giúp trẻ thoả mãn nhu cầu được chơi, được làm
giống người lớn, là hoạt động không tạo ra sản phẩm và hành động chơi
không nhất thiết phải theo một phương thức nhất định. Khác với hoạt động
lao động và hoạt động học tập, động cơ của hoạt động này là kết quả của hoạt
động. Song với TCĐVTCĐ, động cơ chơi nằm ngay trong hành động chơi.
Khi chơi trẻ không quan tâm tới bất kỳ lợi ích nào mà trẻ chơi chỉ để cho vui,
thích thì trẻ chơi, chơi thì phải vui và ngược lại nếu không vui, không thích
thì không chơi. Chính vì vậy, trò chơi mang tính tự nguyện rất cao.
- TCĐVTCĐ là một dạng hoạt động mang tính tự lập. Trong khi trẻ
chơi, trẻ thể hiện rõ ý thức là chủ hành vi, trẻ tích cực, hoạt động hết mình
không phụ thuộc vào cô giáo hay các bạn. Khi tham gia chơi trẻ tự chọn chủ
đề chơi, tự nghĩ ra nội dung chơi, tự phân vai và nhận vai chơi không có sự áp
đặt của cô hay của các bạn, trẻ tự biết thoả thuận đưa ra những quy định khi
chơi. Đặc biệt trong quá trình chơi tuỳ vào vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết đã
có của trẻ mà trẻ tự biết đánh giá để điều chỉnh hành vi của mình, nhắc nhở
điều chỉnh hành vi của bạn cho phù hợp với vai chơi. Lúc này người lớn chỉ
giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình chơi của trẻ, là
điểm tựa cho trẻ chơi sao cho vừa thoả mãn nhu cầu muốn được làm giống
như người lớn, vừa đảm bảo được yêu cầu giáo dục đề ra. Qua đây cho thấy,
trò chơi càng mang tính chất tự nguyện cao bao nhiêu thì càng phát huy ở trẻ
tính độc lập, tự lực, tự chủ, chủ động của trẻ bấy nhiêu.
- Trò chơi ĐVTCĐ cần có nhiều trẻ tham gia chơi (là loại trò chơi
mang tính tập thể), có nhiều bạn cùng chơi, cùng hoạt động với nhau. Đây là
một nét tiêu biểu trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo, một nét đặc trưng
20
nảy sinh hoàn cảnh chơi. Từ vai chơi, hành động chơi đến đồ chơi đều là giả
21
vờ song lại rất thực đối trẻ vì nó phản ánh hoàn cảnh thực của cuộc sống, nó
giúp trẻ thỏa mãn nguyện vọng sống, giao tiếp và làm việc theo kiểu của
người lớn. Qua môi trường vui chơi, không gian chơi, đồ dùng đồ chơi được
sắp xếp bố trí phù hợp với trò chơi, vai chơi đã giúp trẻ say mê chơi hết mình.
Khi chơi, trẻ đắm mình trong hoàn cảnh chơi, bộc lộ và trải nghiệm xúc cảm
tình cảm của minh trong vai chơi. Đồng thời, qua vai chơi cùng với sự tương
tác của trẻ với bạn cùng chơi, tương tác với môi trường chơi đã giúp trẻ phát
triển kỹ năng của cá nhân cũng như kỹ năng xã hội, trẻ thể hiện tình cảm
muôn mầu muôn vẻ của mình với thế giới xung quanh. Trong trò chơi, từ đồ
dùng, hoàn cảnh chơi đều là mô phỏng, giả vờ, nhưng chính tính ước lệ tượng
trưng đó đã giúp trẻ lớn hơn, trưởng thành hơn, hành vi quan hệ xã hội cũng
được chuẩn mực hơn
1.2.3. Khái niệm kỹ năng:
Theo từ điển Tiếng Việt kỹ năng là “khả năng vận dụng những kiến
thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [35; Tr.236]
Theo tài liệu của tổ chức UNICEF thì cho rằng: “Kỹ năng sống là các
kỹ năng thiết thực mà người ta cần để có cuộc sống an toàn khỏe mạng và
hiệu quả ”[40; Tr.1]
Ta có thể hiểu kỹ năng có hai mức độ. Thứ nhất là kỹ năng sơ đẳng ban
đầu: là cách thức thực hiện các thao tác cơ bản trên cơ sở những tri thức nhằm
đạt kết quả hành động. Thứ hai là kỹ năng thành thạo: được hình thành trên
cơ sở lĩnh hội các tri thức và kinh nghiệm thực hiện các thao tác – là cách
thức thực hiện các thao tác một cách chuẩn xác và thành thạo.
Như vậy ở mức độ thứ hai kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của
hành động mà còn biểu hiện năng lực của con người. Theo quan niệm này thì kỹ
năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích.
khác nhau đó là sự khác nhau về nội dung chơi.
Mỗi chủ đề có nội dung chơi khác nhau, cùng một chủ đề chơi nhưng
nội dung phản ánh cũng khác nhau. Nội dung chơi chính là những hành động,
hành vi ứng xử, các quan hệ xã hội mà trẻ nhận thức được và phản ánh vào
trò chơi. Nội dung chơi được trẻ thể hiện bằng những thao tác, hành vi với đồ
vật theo đặc trưng của chủ đề. Chủ đề nào sẽ có nội dung ấy. Ví dụ: Chủ đề
23
“B¸c sÜ” thì phải có nội dung là khám bệnh, phải có bác sĩ, bệnh nhân... tương
ứng với nội dung là hành động chơi, bác sĩ phải có kim tiêm, biết tiêm, có
thuốc, áo blue trắng, ®eo tai nghe kh¸m bÖnh cho bÖnh nh©n...
- Yếu tố thứ hai là vai chơi và hành động chơi.
Vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên TCĐVTCĐ. Không có vai
chơi thì không thể có trò chơi. Trò chơi có thành công hay không phụ thuộc
phần lớn vào vai chơi. Trẻ nhập vai càng giống với đời thực bao nhiêu thì trò
chơi càng thành công bấy nhiêu. Khi chơi TCĐVTCĐ trẻ sẽ nhận một vai
chơi, ướm mình vào một nhân vật nào đó để bắt chước thực hiện hành động
của vai chơi. Khi đóng vai trẻ phải bộc lộ hết khả năng của mình, trẻ phải
nhập vai, thể hiện vai đúng thật cả về hành động, xúc cảm tình cảm của vai,
hành vi và ứng xử của vai chơi, c¸ch sö dông ®å dïng, ®å ch¬i. Qua việc
đóng vai tạo cho trẻ con đường nhập vào cuộc sống thực của người lớn và
cũng là cuộc sống thực trong tương lai đang chờ đón trẻ. Việc nhập vai thành
công hay không trong khi chơi tạo cơ sở, tiền đề để hình thành và phát triển
các quá trình tâm lí nói chung và xúc cảm tình cảm nói riêng của người, đồng
thời qua đó hình thành ở trẻ những phẩm chất nhân cách của người như trung
thực, thật thà.... và giúp trẻ có cơ hội được rèn luyện, lĩnh hội và trải nghiệm
khả năng ứng xử trong xã hội, có cơ hội được thể hiện, bộc lộ mình, nhận biết
mình trong nhóm bạn bè cùng hoạt động, cùng chơi. Và đặc biệt trẻ được tiếp
xúc làm quen với hoạt động lao động của người lớn thông những đồ dùng mô
cuc sng xó hi nh hc sinh phi nghe li ca cụ giỏo; cha m bit quan tõm n
con cỏi; mua hng thỡ phi tr tin... Nh úng vai tr t ch, t nguyn thc hin
tt cỏc chun mc ca i sng xó hi v dn chuyn nhng chun mc ú vo bờn
trong i sng tõm lớ ca mỡnh qua ú to ra cu trỳc tõm lớ mi trong nhõn cỏch
ca tr - mt nhõn cỏch xó hi.
TCVTC luụn tn ti hai mi quan h qua li, ú l quan h thc v quan
h chi. Quan h thc l quan h gia cỏc tr nh tham gia vo trũ chi, nhng
ngi bn cựng thc hin nhng cụng vic chung. chi tr phi trao i vi
nhau v ch chi, ni dung chi, phõn vai chi, nhng qui nh chi v gii
quyt nhng tỡnh hung ny sinh trong quỏ trỡnh chi. Quan h chi l mi quan h
25