LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các phòng Ban chức năng của
trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn tại trường.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Địa lí – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng daỵ
và cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại
khoa.
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
PGS.TS Đặng Văn Đức, người đã hướng dẫn tận tình chu đáo, chỉ bảo tác
giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường cùng các thầy cô trường
THPT Vĩnh Bảo, Vĩnh Bảo, Hải Phòng và trường THPT Trần Hưng Đạo, An
Lão, Hải Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả tiến hành
thực nghiệm tại trường.
Cuối cùng , tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều
kiện giúp đỡ về mặt tư liệu, đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành luận văn.
Hà Nội , tháng 9 năm 2015
Học viên thực hiện
Tô Thị Phượng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
Dạy học điện tử
Giáo viên
Học sinh
Hypertext Markup Language
Powerpoint
Phương pháp dạy học
Quá trình dạy học
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Đối chứng
Trung ương
MỤC LỤC
.......................................................................................................................152
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
Phát triển giáo dục là chìa khóa, là đòn bẩy tạo nên sự phát triển nhanh
chóng và bền vững cho đất nước trong thời gian tới và lâu dài về sau. Quan
điểm này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ba chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII): “ Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc
sách hàng đầu”. Trong những năm qua, giáo dục nước ta đã có nhiều đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của học sinh.
Phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, trong đó việc giúp các em có khả năng
tự chiếm lĩnh tri thức là một trong những phương pháp cần thiết. Vì dù giáo
viên có truyền đạt kiến thức nhiều đến đâu cũng không thể hết được kho tàng
kiến thức của nhân loại.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, có một số kiến thức khái niệm,
hiện tượng khá trừu tượng học sinh gặp nhiều khó khăn trong khi phải tìm
hiểu bản chất hiện tượng đó. Tuy nhiên, với những ưu thế về khả năng đồ họa,
mô phỏng mà các phương tiện dạy học đem lại sẽ hỗ trợ khắc phục những khó
khăn trên. Qua bài giảng dưới dạng Web, giáo viên có thể phát huy tất cả các
giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, làm cho học sinh
nhận biết được các mối quan hệ giữa các hiện tượng, tái hiện được những
khái niệm, quy luật,…làm cơ sở cho việc áp dụng kiến thức đã học vào trong
thực tế đời sống sản xuất.
Các Website phục vụ cho công tác giáo dục ngày càng nhiều. Vì vậy
theo dự đoán của chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trong một vài
năm tới, bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc các hình
thức đưa thông tin đến rộng rãi công chúng bằng các phương tiện ICT
(Information and Communication Technology) thì tổ chức, đoàn thể đó sẽ trở
nên lạc hậu.
6
Đối với bộ môn Địa lí là môn học có rất nhiều lợi thế để có thể ứng
học Địa lí lớp 12.
Xây dựng quy trình thiết kế Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12.
Sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12.
Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài
2.2.
nghiên cứu.
3.
3.1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
7
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng và sử dụng
Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển
3.2.
4.
năng lực học sinh.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên của đề tài hướng tới việc:
Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12- THPT
Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THPT của TP. Hải Phòng,
Hải Dương, Hà Nội.
Giả thiết khoa học
hoặc tính lịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, học sinh cần xác
định quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận. Học sinh tìm được
những thông tin, dữ liệu cần thiết qua trang kết nối Internet links đã được giáo
viên lựa chọn từ trước. Webquest ban đầu của họ được xây dựng bao gồm
một số bước cụ thể, từ giới thiệu nhiệm vụ, đến đánh giá quá trình học tập.
Ngày nay, Webquest đã được sử dụng rộng rãi trên Thế Giới, trong
giáo dục phổ thông cũng như trong đại học. Thông thường, Webquest sẽ đưa
ra một danh sách các đường liên kết để hỗ trợ người học hoàn thành một vài
hoạt động. Người học thường đóng một vai trò nào đó. Họ có thể học theo
nhóm và mỗi cá nhân sẽ đảm đương một trách nhiệm như quan sát, thu thập
thông tin, ghi chép, báo cáo, trình bày,…
Một số cuốn sách nghiên cứu về Webquest đã xuất bản như: “ Using
Webquests in the Social Studies Classroom” ( Sử dụng Webquest trong dạy học
các môn khoa học xã hội) của tác giả : Margaret M.Thombs, Maureen M. Gillis,
Alan S. Canestrari, cung cấp các biện pháp thực tế để sử dụng Webquest nhằm
tối ưu hóa việc học các môn khoa học xã hội, đòi hỏi mức độ tư duy cao của học
sinh, thúc đẩy hơn sự hiểu biết của nền văn minh xã hội; “The World Is Open”
( Thế giới mở) của tác giả Curtis J. Bonk, khám phá các thay đổi mạnh mẽ của
thế giới đang ảnh hưởng đến người học trong đó có việc khai thác Internet nói
chung và sử dụng thông tin trên các trang Web nói riêng…
Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình khoa học, luận án nghiên cứu về
Webquest và hiệu quả của việc sử dụng Webquest như: Luận án nghiên cứu
“The Webquest creation process” (Quá trìn tạo Webquest) của Roberts,
Leanne M. , 2005, “Webquest design strategies” (Các kĩ thuật xây dựng
Webquest) của Frazze, James Phillip vào năm 2004. C ác đề tài này đã nghiên
9
cứu về các vấn đề cơ sở, lí luận và thực tiễn của quá trình tạo Webquest., các
“Phương pháp dạy học địa lí” của Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn
Trọng Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn, Nxb Giáo dục năm
1996; Tài liệu “ Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực hóa
hoạt động người học” cuả Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng (2001);
Sách “ Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” của Đặng Văn Đức,
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Đại học sư phạm (2003). Trong những tài liệu
này, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề đổi mới PPDH, phát huy tính tích
cực của học sinh. Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lí luận của vấn đề, hướng
dẫn cách khai thác từng loại phương pháp theo từng bước đi cụ thể và đưa ra
một vài ví dụ minh họa.
Một số tài liệu đề cập đến Webquest như: “ Một số vấn đề chung về đổi
mới PPDH ở trường THPT (Dự án phát triển giáo dục THPT của Bộ Giáo dục
và đào tạo)”- Nguyễn Văn Cường và Bern Meier, 2010; Đĩa CD “ CNTT Cho
day học tích cực”, NXB Giáo dục, 2010; “Xây dựng và sử dụng Webquest
trong dạy học Địa lí lớp 10 THPT” – Luận văn thạc sỹ 2014 của Nguyễn Thị
Hồng. Hầu hết các tài liệu này đề cập tới các vấn đề liên quan đến Webquest
và xây dựng một số ví dụ minh họa.
6.
6.1.
6.1.1.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Dựa vào quan điểm này nhằm thiết kế và xây dựng Webquest hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu của đổi mới quá trình dạy học. đó là một quá trình dưới sự
hướng dẫn, tổ chức điều khiển của người giáo viên, học sinh tự giác, tích cực,
chủ động, sáng tạo, biết tự tổ chức, tự điều khiền hoạt động nhận thức học tập
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống - cấu trúc
Phương pháp này được sử dụng để đặt vấn đề nghiên cứu vào trong
một hệ thống cấu trúc, đầu ra và đầu vào nhằm định hướng mục tiêu đặt ra đó
là xây dựng Webquest bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 12,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh và đạt được mục tiếu giáo dục đó là
phát triển năng lực của học sinh và góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
6.2.2.
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu những yếu tố tác động
đến tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập dưới sự tác
động của CNTT và truyền thông, từ đó đưa ra những công cụ thích hợp.
12
Nghiên cứu tài liệu lí luận về xây dựng và sử dụng Webquest trong việc
phát triển năng lực của học sinh và đổi mới phương pháp dạy học.
6.2.3.
Phương pháp quan sát điều tra
Phương pháp quan sát nhằm tiếp cận tình hình thực tế, nắm được thực
trạng của việc sử dụng hệ thống mạng và máy tính phục vụ giảng dạy ở các
trường phổ thông.
Nhiệm vụ điều tra quan sát là tìm hiểu thái độ, tình hình của giáo viên
và học sinh thông qua việc trao đổi, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá
chính xác việc sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, mạng máy tính
Sử dụng các phiếu điều tra để lấy thông tin nhanh về việc ứng dụng
CNNT trong dạy học và sửn dụng Webquest vào trong dạy học ở lớp 12 –
THPT (chương trình cơ bản)
Qua thực nghiệm rút ra những nhận xét cần thiết liện quan đến các giải
pháp đề xuất trong nội dung của đề tài. Kết quả thực nghiệm là cơ sở để kiểm
chứng tính khả thi của đề tài.
7.
Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các
phiếu điều tra…Phần nội dung gồm:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng
Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 –THPT theo định hướng phát triển năng
lực
Chương II: Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12
– THPT theo định hướng phát triển năng lực.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
14
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG VÀ SỬ DỤNG WENQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12
– THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.
Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh đối với bộ môn địa lí.
1.1.2.
Định hướng phát triển năng lực
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một
mô hình của chương trình định hướng kết quả đầu ra. Giáo dục định hướng
phát triển năng lực là công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển
đầu ra. Đồng thời cũng là mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông
qua các nhóm năng lực. Trước hết cần hiểu khái niệm năng lực: Khái niệm
năng lực có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Ngày
nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có nhiều loại
năng lực khác nhau. Năng lực hành động là một loại năng lực.Khái niệm phát
triển năng lực ở đây cũng được hiểu là phát triển năng lực hành động.
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành
động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã
hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như
sự sẵn sàng hành động.
Dựa vào khái niệm năng lực hình thành nên mô hình cấu trúc năng lực với
4 năng lực chính là : Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã
hội, năng lực cá thể. Các thành phần gặp nhau tạo thành năng lực hành động
Trong đó:
+ Năng lực chuyên môn: là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn cũng như đánh giá kết quả một cách có độc lập, có phương pháp và
chính xác về mặt chuyên môn (bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích
tổng hợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ một cách có hệ
thống và quá trình)
16
Học phương
Học giao tiếp xã
17
Học tự trải
chuyên môn
pháp – chiến
hội
nghiệm - đánh
Các tri thức
lược
Lập kế hoạch làm
chuyên môn (các
việc, kế hoạch học nhóm, tạo điều
mạnh và yếu, kế
khái niệm, phạm
trân trọng các giá
trị , các chuẩn
đạo đức, các giá
trị văn hóa
quyết xung đột
Năng lực
chuyên môn
Năng lực phương Năng lực xã hội
Năng lực cá thể
pháp
Khi yêu cầu của xã hội thay đổi, cần đến sự năng động, tư duy sáng tạo,
tích cực chủ động…của người học thì điều đầu tiên, cần thiết là người học
phải nhận thức được vai trò trung tâm của mình trong hoạt động nhận thức và
tiếp cận chân lí khoa học cũng như yêu cầu của xã hội đối với bản thân các
em ( để có thể tiếp tục học tập lên trình độ cao hơn hay đáp ứng những công
việc từ đơn giản đến phức tạp của xã hội).
Khi nhận thức được người học chính là trung tâm của quá trình dạy
học, của việc tiếp cận, lĩnh hội tri thức và kĩ năng sẽ giúp người học có thái
độ đúng đắn với việc học của mình. Bản thân các em sẽ nhận thức được trách
nhiệm của mình trong quá trình học tập, thay đổi thói quen thụ động, trông
chờ vào kiến thức do giáo viên cung cấp, mà phải luôn tích cực, chủ động tìm
kiếm, phát hiện tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
kinh nghiệm cho bản thân. Rèn luyện cho các em các kĩ năng cần thiết trong
19
cuộc sống (phát hiện vấn đề, trình bày vấn đề, kĩ năng giao tiếp, giải quyết
vấn đề, kĩ năng tranh luận…). Từ đó các em phát triển được năng lực cá nhân
và năng lực xã hội.
Các phương pháp dạy học tích cực hướng đến thay đổi mục tiêu giáo
dục, thay đổi mục tiêu học tập: học để làm thay vì học để thi. Mục tiêu quan
trọng và cuối cùng của đổi mới dạy học là người học có được năng lực cần
thiết đáp ứng yêu cầu của xã hội. Mặc dù thi cử là vấn đề không thể xóa bỏ,
tuy nhiên đích đến cuối cùng của người học là không phải là các kì thi mà là
các em có đủ năng lực cần thiết để tồn tại trong xã hội ( cả về năng lực
chuyên môn, phương pháp, năng lực cá nhân và năng lực xã hội), trở thành
những con người có ích trong xã hội. Ý thức được điều này thì sẽ tăng thêm
động lực và thấy được trách nhiệm của bản thân để rèn luyện, điều chỉnh hoạt
động học tập cho phù hợp.
Như vậy: Để dạy học tích cực đạt hiểu quả thì tinh thần, thái độ và ý
thức về mục tiêu, vai trò phương pháp học tập của người học đóng vai trò
quan trọng, góp phần hoàn thiện “sản phẩm” của quá trình dạy học. Dưới sự
chỉ đạo của giáo viên, học sinh dần dần có được những phẩm chất và năng lực
thích ứng với phương pháp dạy học tích cực, xác định đúng mục đích học
tập , tự giác trong học tập, biết tự học và tranh thủ mọi lúc và mọi nơi, bằng
mọi cách, phát triển các loại hình tư duy,…đáp ứng các yêu cầu của xã hội.
1.1.3.
Công nghệ thông tin và truyền thông
1.1.3.1.
Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ có nghĩa đơn giản là kĩ thuật hoặc công cụ và những
phương pháp có thể áp dụng để giải quyết vấn đề cụ thể hoặc thực hiện mục
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu
là máy tính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các
nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội”.
Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin.
Học là qúa trình tiếp thu thông tin có định hướng và có sự tái tạo, phát triển
21
thông tin. Vì vậy những người dạy (hay máy phát in) đều nhằm mục đích là
phát ra được nhiều thông tin với lượng thông tin lớn liên quan đến môn học,
đến mục đích dạy học. Con người học như một máy thu có nhiều cửa vào (tai,
mắt, mũi, da…) phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, phải biết lưu trữ
thông tin trong bộ nhớ trong (não) hay bộ nhớ ngoài (sách, vở…).Mỗi loại
cửa này tiếp nhận một loại mã hóa thông tin riêng biệt bằng một phương tiện
truyền thông riêng biệt.
Phương tiện truyền thông có thể là:
Phương tiện truyền thông
Văn bản (text)
Tiếng nói (speech)
Âm thanh (sound)
ảnh tĩnh (still image)
ảnh động (animation graphic)
Phim (move)
Đồ họa (graphic)
Phương tiện tiếp nhận thông tin
Mắt
Tai
Tai
Thầy giáo
Các thông tin về sự tiến bộ học tập
Học sinh
Thông tin phản hổi
(uốn nắn, hướng dẫn…)
Sơ đồ 1.1.3.2: Quá trình dạy học – ba kênh truyền thông
CNTT & TT là bước tiến vĩ đại của công nghệ. Ứng dụng CNTT & TT
trong dạy học là một tất yếu trong việc đổi mới PPDH. Một trong những yêu
cầu đặt ra trong nhà trường phổ thông hiện nay là HS phải tiếp cận được và
phải biết tiếp cận với máy tính và các công nghệ hiện đại khác.
Những năm gần đây, sự tích hợp của công nghệ thông tin và truyền
thông trong giảng dạy đã mở ra nhiều khả năng ứng dụng, tạo bước phát triển
mới làm thay đổi xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng:
Công nghệ thông tin đã ảnh hưởng sâu sắc tới Giáo dục và Đào tạo trên
rất nhiều khía cạnh. Chính vì vậy mà việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật
vào việc đổi mới phương tiện và phương pháp dạy học địa lí ngày càng thể
hiện được tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.
Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin mà cụ thể là
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một chủ đề lớn
được
UNESCO chính thức đưa ra thành một chương trình trước ngưỡng cửa của
thế kỉ XXI. Ứng dụng CNTT & TT trong dạy học, vai trò của người thầy trở
nên khó khăn hơn rất nhiều và nặng nề hơn nhiều. Nếu như người thầy trước
23
24
thông đa phương tiện và công nghệ mạng, đặc biệt là mạng internet. Hai công
nghệ này đã giúp cho người ta thực hiện:
+ Học ở mọi nơi.
+ Học ở mọi lúc.
+ Học suốt đời.
+ Dạy cho mọi người và mọi trình độ tiếp thu khác nhau.
+ Thay đổi vai trò của người dạy và người học, đổi mới cách dạy và học.
Công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão và ngày càng đóng vai
trò quan trọng ở tất cả lĩnh vực trong đó có giáo dục đào tạo. Nó ảnh hưởng
sâu sắc tới việc đổi mới phương pháp dạy học.
Việc thay đổi quan điểm dạy học không chạy theo thành tích cùng với
những đòi hỏi bức thiết phải đổi mới của xã hội đó dẫn đến hệ quả tất yếu là
phải đổi mới phương pháp dạy học. Người giáo viên Địa lí phải thay đổi
phương pháp cũng giống như người đầu bếp phải thay đổi cách chế biến
“món ăn” sao cho phù hợp khẩu vị của những học trò “suy dinh dưỡng” và “
biếng ăn”, để chúng thưởng thức môn học một cách vui vẻ và hào hứng. Và
với công nghệ thông tin, người thầy có thể tạo ra những món ăn hấp dẫn và bổ
dưỡng, tức là giờ học lí thú mà nếu chỉ sử dụng bảng đen và phấn trắng thì
khó mà thực hiện được. Với các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính ,
máy chiếu và một số phần mềm tiện ích, người thầy có thể làm cho học sinh
quan tâm nhiều đến môn Địa lí mà không phải ép buộc chúng. Phương pháp
dạy học mới với sự trợ giúp của Công nghệ thông tin đó mang đến cho giờ
dạy và học Địa lí một không khí mới.
Với nhiêu tính năng, thiết kế bài giảng sử dụng máy vi tính và công
nghệ truyền thông đa phương tiện có vai trò to lớn đối với quá trình dạy và
học. Giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh học tập chứ không đơn giản là
người phát thông tin vào đầu học sinh. Học sinh có thể lấy thông tin từ nhiều