Xây dưng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống ở hai cuộc cách mạng: Cách mạng khoa học - kĩ thuật
và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão
với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh
vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao khi loài
người bước vào thế kỉ XXI.
Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communications
Technology – ITC) không ngừng tác động mạnh mẽ đến giáo dục và đào tạo.
Làm thay đổi cách suy nghĩ của giáo viên và học sinh. Quá trình dạy hoc trở
nên tích cực hơn, sinh động hơn, linh hoạt hơn, trực quan hơn khi nó được
gắn liền với những phương tiện nghe nhìn hiện đại. Công nghệ thông tin
truyền thông vừa như một phương tiện vừa như một nhân tố mới trong quá
trình dạy học, chi phối toàn bộ quá trình này nhằm đạt đến mục tiêu nhanh
nhất và hiệu quả nhất. Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màu
sắc, sống động phản ánh sự đa dạng của thế giới, Internet đã trở thành một
công cụ hỗ trợ tích cực trong việc dạy và học Địa lí ở trường phổ thông. Tuy
nhiên, làm thế nào để khai thác Internet một cách có hiệu quả đang là vấn đề
đặt ra đối với giáo viên.
Đặc biệt đối với môn Địa lí là môn học luôn đòi hỏi tính cập nhập về nội
dung và hình thức, nên kĩ năng khai thác internet một cách hiệu quả đang là
vấn đề đặt ra đối với giáo viên. Đặc biệt đối với môn Địa lí là môn học luôn
đòi hỏi tính cập nhập về nội dung kiến thức, nên kĩ năng khai thác Internet
làm sao có hiệu quả nhất có vai trò ngày càng quan trọng.
Trước những biến đổi về thời đại mới, một yêu cầu đặt ra đối với con người
là muốn chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại phải tự chủ, sáng tạo và có tư
duy khoa học. Trước tình hình đó đã đã đặt ra cho nền giáo dục nước ta phảu
có những đổi mới căn ản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với sự

1


2


chương trình Địa lí có nhiều nội dung không có sự mô phỏng hình ảnh, âm
thanh…thì học sinh khó có thể hình dung, tiếp thu kiến thức được. Chính việc
sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông là một xu thế
tất yếu của đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại tích cực.
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xây dưng và sử dụng Webquest
trong dạy học Địa lí 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực” làm
đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí
lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực học sinh trong học tập,
góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở
trường phổ thông.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng
Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát
triển năng lực.
- Xác định yêu cầu và nguyên tắc xây dựng và sư dụng Webquest
trong dạy học Địa lí lớp 12.
- Xây dựng quy trình thiết kế Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12.
- Sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12.
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi
của đề tài nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng và sử

Để khắc phục những nhược điểm trên đây của việc học qua mạng, người ta đã
phát triển phương pháp Webquest. Năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại học
San Diego University (Mỹ) đã xây dựng Webquest trong dạy học.
Các đại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ). Ý tưởng
của họ là đưa ra cho học sinh một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc
tính lịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, học sinh cần xác định
quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận. Học sinh tìm được
những thông tin, dữ liệu cần thiết qua trang kết nối Internet links đã được giáo

4


viên lựa chọn từ trước. Webquest ban đầu của họ được xây dựng bao gồm
một số bước cụ thể, từ giới thiệu nhiệm vụ, đến đánh giá quá trình học tập.
Ngày nay, Webquest đã được sử dụng rộng rãi trên Thế Giới, trong giáo dục
phổ thông cũng như trong đại học. Thông thường, Webquest sẽ đưa ra một
danh sách các đường liên kết để hỗ trợ người học hoàn thành một vài hoạt
động. Người học thường đóng một vai trò nào đó. Họ có thể học theo nhóm
và mỗi cá nhân sẽ đảm đương một trách nhiệm như quan sát, thu thập thông
tin, ghi chép, báo cáo, trình bày,…
Một số cuốn sách nghiên cứu về Webquest đã xuất bản như: “ Using
Webquests in the Social Studies Classroom” ( Sử dụng Webquest trong dạy
học các môn khoa học xã hội) của tác giả : Margaret M.Thombs, Maureen M.
Gillis, Alan S. Canestrari, cung cấp các biện pháp thực tế để sử dụng
Webquest nhằm tối ưu hóa việc học các môn khoa học xã hội, đòi hỏi mức độ
tư duy cao của học sinh, thúc đẩy hơn sự hiểu biết của nền văn minh xã hội;
“The World Is Open” ( Thế giới mở) của tác giả Curtis J. Bonk, khám phá
các thay đổi mạnh mẽ của thế giới đang ảnh hưởng đến người học trong đó có
việc khai thác Internet nói chung và sử dụng thông tin trên các trang Web nói
riêng…

Nguyễn Thị Thu Anh (2005)…Nội dung các luận văn này đề cập đến vấn đề
đổi mới theo xu hướng CNTT cụ thể là sử dụng các chương trình, phần mềm
máy tính để thiết kế các bài giảng Địa lí ở THPT, xây dựng Website tư liệu
phục vụ cho giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông…
Bên cạnh đó còn có rất nhiều sách, giáo trình đề cập tới đổi mới PPDH và ứng
dụng CNTT vào dạy học Địa lí: sách dịch “Phát huy tính tích cực cuả học
sinh như thế nào?”, tác giả I.F.Khrlamop, Nxb Giáo dục năm 1979; “Phương
pháp dạy học địa lí” của Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc,
Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn, Nxb Giáo dục năm 1996; Tài liệu “
Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực hóa hoạt động
người học” cuả Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng (2001); Sách “
Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” của Đặng Văn Đức,
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Đại học sư phạm (2003). Trong những tài liệu
này, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề đổi mới PPDH, phát huy tính tích
cực của học sinh. Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lí luận của vấn đề, hướng

6


dẫn cách khai thác từng loại phương pháp theo từng bước đi cụ thể và đưa ra
một vài ví dụ minh họa.
Ở Việt Nam, có một số tài liệu đề cập đến Webquest như: “ Một số vấn đề
chung về đổi mới PPDH ở trường THPT (Dự án phát triển giáo dục THPT
của Bộ Giáo dục và đào tạo)”- Nguyễn Văn Cường và Bern Meier, 2010; Đĩa
CD “ CNTT Cho day học tích cực”, NXB Giáo dục, 2010; “Xây dựng và sử
dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 10 THPT” – Luận văn thạc sỹ 2014
của Nguyễn Thị Hồng. Hầu hết các tài liệu này đề cập tới các vấn đề liên
quan đến Webquest và xây dựng một số ví dụ minh họa.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu

Phương pháp này được sử dụng để đặt vấn đề nghiên cứu vào trong một hệ
thống cấu trúc, đầu ra và đầu vào nhằm định hướng mục tiêu đặt ra đó là xây
dựng Webquest bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 12, phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh và đạt được mục tiếu giáo dục đó là
phát triển năng lực của học sinh và góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
6.2.2. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu những yếu tố tác động đến
tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập dưới sự tác động
của CNTT và truyền thông, từ đó đưa ra những công cụ thích hợp.
Nghiên cứu tài liệu lí luận về xây dựng và sử dụng Webquest trong việc phát
triển năng lực của học sinh và đổi mới phương pháp dạy học.
6.2.3. Phương pháp quan sát điều tra
Phương pháp quan sát nhằm tiếp cận tình hình thực tế, nắm được thực trạng
của việc sử dụng hệ thống mạng và máy tính phục vụ giảng dạy ở các trường
phổ thông.
Nhiệm vụ điều tra quan sát là tìm hiểu thái độ, tình hình của giáo viên và học
sinh thông qua việc trao đổi, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá chính
xác việc sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, mạng máy tính vào
giờ học. Trên cơ sở đó xem xét những điều kiện cần và đủ, những thuận lợi
8


cũng như những hạn chế của việc khai thác và ứng dụng Webquest vào trong
dạy học lớp 12 của giáo viên và học sinh.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Vận dụng lí thuyết xác suất và thống kê toán học để phân tích, xử lí các kết
quả thu được sau khi thực nghiệm sư phạm nhằm xác định xu hướng phát
triển của các đối tượng và làm tăng tính chính xác, khách quan cho kết quả
nghiên cứu của đề tài.
6.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

triển năng lực
Chương II: Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học Địa lí lớp 12
– THPT theo định hướng phát triển năng lực.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG VÀ SỬ DỤNG WENQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12
– THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy
học Địa lí lớp 12 – THPT theo định hướng phát triển năng lực
1.1.1. Những vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học Địa Lí
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa. Phương pháp dạy học
10


là một phạm trù của khoa học giáo dục. Việc đổi mới phương pháp giáo dục
cần dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục. Khoa học giáo dục
là lĩnh vực rất rộng lớn và phù hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau. Vì vậy
việc đổi mới phương pháp học cũng được tiếp cận dưới nhiều cách tiếp cận
khác nhau. Có thể sơ đồ hóa cơ sở đổi mới phương pháp dạy học như sau:
( sơ đồ trang 55)
Dựa trên khái niệm chung về phương pháp dạy học có thể hiểu như sau: Đổi
mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng
cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, phát triển
năng lực của học sinh.
Các nghiên cứu thực tiễn dạy học dạy học ở trường Trung học phổ thông
cũng chỉ ra một số vấn đề cụ thể sau đây về mặt phương pháp dạy học:
+ Phương pháp thuyết trình, thông báo tri thức của giáo viên vẫn là phương

thức nhân loại, có khả năng lĩnh hội khối lượng lớn thông tin luôn biến động
và sắp xếp chúng để vận động linh hoạt, sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của
đất nướ, đáp ứng nhu cầu của xã hội…Chính vì vậy cần phải đổi mới phương
pháp dạy học.
Có thể nhận thấy vai trò và vị trí của môn Địa lý trong thực hiện mục tiêu
giáo dục: Với mục tiêu chung của ngành giáo dục đó là: Phát triển toàn diện
đức – trí – thể - mỹ, các kĩ năng cơ bản. Đồng thời hình thành nhân cách con
người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân, có khả
năng học tập suốt đời…thì với bộ môn địa lý góp phần quan trọng trong việc
cung cấp kiến thức phổ thông, cơ bản về Trái Đất và hoạt động của con
người, bồi dưỡng năng lực tư duy. Rèn luyện kĩ năng ứng xử phù hợp với tự
nhiên và xã hội, yêu cầu của đất nước với thời đại.Bồi dưỡng ý thức trách
nhiệm, long ham hiểu biết khoa học, tình yêu quê hương, đất nước.Như vậy
Địa lý là môn học không thể thiếu trong nhà trường, góp phần quan trọng vào
mục tiêu giáo dục phổ thông.

12


Tuy nhiên điều đáng tiếc là trên thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học địa
lí diễn ra còn rất chậm chạp, chưa đáp ứng những yêu cầu của cải cách giáo
dục và làm cho chất lượng dạy học địa lí của các trường phổ thông hiện nay:
+ Một số giáo viên chưa thực sự thấm nhuần bản chất, hướng và cách thức đỏi
mới phương pháp dạy học Địa lí: Phổ biến trong cách dạy hiện nay vẫn là
thuyết trình, liệt kê kiến thức, thầy nói nhiều mà không kiểm soát được kiến
thức của học sinh, không kiểm soát được việc học của trò. Trong nhiều giờ
học địa lí, học sinh ít có cơ hội để xây dựng nên kiến thức của mình.Các em ít
có điều kiện để suy xét thảo luận và sử dụng các ý tưởng nhằm sắp xếp cấu
trúc những ý tưởng đó thành những ý tưởng mà các em tự xử lý.
+ Việc tạo động cơ và gây hứng thú cho học sinh và thực hiện các hình thức,

dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,…bồi dưỡng phương pháp tự
học rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Chiến lược phát triển
giáo dục 2001- 2010 ( Ban hành kèm theo quyết số 201/2001/QD – TTg ngày
28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), mục 5.2: “ Đổi mới và hiện
đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động,
thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy phân tích, tổng
hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự
chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập…”
Biện pháp đổi mới : Đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ giữa các yếu tố,
các bộ phận cấu thành quá trình dạy học: nhà quản lí, giáo viên, học sinh.. Đổi
mới có trọng tâm, trọng điểm và từng bước vững chắc.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập tự
chủ của học sinh chống lạ thói quen học tập thụ động. Phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Bồi dưỡng phương pháp tư học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui hứng thú cho học sinh đối với bộ môn địa lí.
1.1.2. Định hướng phát triển năng lực

14


Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một mô
hình của chương trình định hướng kết quả đầu ra. Giáo dục định hướng
phát triển năng lực là công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển
đầu ra. Đồng thời cũng là mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông
qua các nhóm năng lực. Trước hết cần hiểu khái niệm năng lực: Khái niệm
năng lực có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có

+ Năng lực cá thể: là khả năng xác định, suy nghĩ, đánh giá được những cơ
hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng
khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện
thực hóa cho kế hoạch đó. Những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và
động cơ chi phối các hành vi ứng xử.
Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực: Trước hết, người giáo viên
phải xác định mục đích học tập, phải mô tả được yêu cầu trình độ đầu ra
một cách rõ ràng theo các thành phần năng lực. Sau đó cần xác định các
nội dung dạy học: học nội dung chuyên môn, học phương pháp chiến lược,
học giao tiếp, học tự trải nghiệm, tự đánh giá. Cụ thể như sau:

Học

nội

dung Học

chuyên môn
• Các

tri

pháp

phương Học giao tiếp xã Học


chiến hội

tự

Thu
thập,
xử

• Các kĩ năng
ứng xử, tinh thần
thông
tin,
trình
chuyên môn
trách nhiệm và
bày tri thức
khả năng giải
quyết xung đột

16

hoạch PT cá thể
Thái độ tự trọng,
trân trọng các giá
trị , các chuẩn đạo
đức, các giá trị
văn hóa


Năng lực chuyên Năng
môn

lực Năng lực xã hội


hết sức cần thiết.
17


Có nhiều nguồn thông tin khác nhau để giúp người học tự học, tự nghiên
cứu. Để trang bị kiến thức cho mình người học sẽ phải rèn luyện các kĩ
năng tìm kiếm và chọn lọc thông tin một cách nhanh chóng, phù hợp, khả
năng tự đánh giá mức độ chính xác và tin cậy của thông tin…việc tự trang
bị thêm vốn kiến thức sẽ giúp người học rèn luyện khả năng tự học, tự
nghiên cứu suốt đời. Đây là một trong những mục tiêu của dạy học tích
cực. Đồng thời với việc tìm kiếm thông tin là việc tiếp cận với nhiều hình
thức học tập phong phú qua hệ thống mạng internet ( học từ xa, làm bài
tập trực tuyến, trao đổi chia sẻ kiến thức với thầy cô, bạn bè…). Người
học sẽ được tham gia một cách chủ động và tích cực vào các hoạt động
khám phá tri thức do GV tổ chức ( tham gia động não trả lời câu hỏi, tham
gia vào việc học nhóm…) để biến vốn tri thức của xã hội thành tri thức
của bản thân, giúp các em phát triển năng lực chuyên môn và năng lực
phương pháp. Điều này giáo viên không thể làm thay các em.
Các phương pháp dạy học tích cực còn giúp các em tự tin, mạnh dạn phát
biểu, trao đổi ý kiến với tinh thần xây dựng, mạnh dạn, sáng tạo hơn trong
suy nghĩ và hành động. Tâm lí e ngại, sợ giáo viên, sợ sai lầm,..đã làm hạn
chế những ý kiến phát biểu, tranh luận mang tính xây dựng, lại quay về
với truyền thụ một chiều. Do đó cần rèn luyện cho các em tinh thần học
tập tích cực, giúp các em vượt qua chính bản thân mình, tự học và rút ra
bài học kinh nghiệm cho bản thân. Rèn luyện cho các em các kĩ năng cần
thiết trong cuộc sống (phát hiện vấn đề, trình bày vấn đề, kĩ năng giao
tiếp, giải quyết vấn đề, kĩ năng tranh luận…). Từ đó các em phát triển
được năng lực cá nhân và năng lực xã hội.
Các phương pháp dạy học tích cực hướng các em đến thay đổi mục tiêu
giáo dục, thay đổi mục tiêu học tập: học để làm thay vì học để thi. Mục

các lĩnh vực của đời sống và xã hội. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ
những thập niên cuối thế kỉ XX đến nay đã tạo ra một khối lượng thông tin
khổng lồ,vượt các giới hạn về không gian và thời gian. Chính vì thế khả năng
thu nhận, xử lí để hiểu biết thông tin một cách nhanh chóng và chính xác là
yêu cầu quan trọng hơn nhiều so với trước đây. Điều đó cũng có nghĩa là phải
thay đổi những tiêu chí đào tạo trong xã hội thông tin hiện nay, cần phải thay
19


khả năng ghi nhớ bằng khả năng tìm kiếm, thu nhận và xử lí thông tin để đạt
tới một mục tiêu đặt ra.
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT, (tiếng anh: Information Technology),
là một thuật ngữ rộng bao quát gồm phương pháp, phương tiện, kĩ thuật máy
tính, viễn thông, kĩ thuật lập trình…để khai thác và sử dụng các nguồn thông
tin phong phú và đa dạng phục vụ lợi ích của con người
Công nghệ thông tin là một ngành kĩ thuật vận dụng tất cả các tiến bộ về khoa
học, công nghệ, điện tử, toán học, quản trị học…để thu thập, biến đổi, truyền
tải, lữu trữ, phân tích, suy luận, sắp xếp thông tin…phục vụ lợi ích co người.
Cụ thể : máy tính, internet, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa…đều
thuộc lĩnh vực của CNTT
Ở Việt Nam thì khái niệm công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong
nghị quyết 49/CP kí ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của
Chính phủ Việt Nam, như sau: “ Công nghệ thông tin là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu là máy
tính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài
nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực đời sống xã
hội”.
Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin. Học là
qúa trình tiếp thu thông tin có định hướng và có sự tái tạo, phát triển thông
tin. Vì vậy những người dạy (hay máy phát in) đều nhằm mục đích là phát ra

phương tiện truyền thông có thể đưa thông tin vào các cửa này. Cho nên cùng
một bài học viết dươi dạng văn bản, nếu ta chỉ truyển nội dung văn bản tới
người học thì lượng tin sẽ rât ít, người học sẽ kém hứng thú. Hoặc nếu chỉ
truyền tin bài học theo một chiều, không có sự hỏi đáp khi tin tức chưa được
máy thu tiếp nhận đúng thì đương nhiên thông tin thu được của người học sẽ
méo mó, sai lệch dẫn đến người học hiểu sai bài
Quá trình đó có thể được miêu tả như sau:

Phương tiện
Thầy giáo

Thông tin

Phương pháp

Hình 2 : Sơ đồ quá trình dạy và học của thầy và trò

21

Học sinh


1.1.3.2. Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông đối với
dạy học Địa lí.
Các thông tin để học

Thầy giáo

Các thông tin về sự tiến bộ học tập


học như: băng hình, máy chiếu, máy vi tính,..Đã giúp cho việc dạy học đạt
được kết quả cao.
Chính vì sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay, địa lí cũng giống như
các môn học khác, với lượng kiến thức mới phong phú và nhu cầu lĩnh hội tri
thức của học sinh ngày càng thì người giáo viên ngoài việc sử dụng các
phương pháp giảng dạy truyền thống cần phải có nhiều phương pháp mới
sao cho phù hợp. Việc áp dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại vào
các môn học nói chung và môn Địa lí nói riêng là yêu cầu có tính khách quan
và cấp thiết
Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin là một chủ đề lớn
được UNESCO đưa ra thành chương trình trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 và
UNESCO dự đoán sẽ có sự thay đổi căn bản nền giáo dục đầu thế kỷ 21 do
ảnh hưởng của công nghệ thông tin.
Dạy và học thực chất là quá trình thực hiện việc phát và thu thông tin. Học là
một quá trình tiếp thu thông tin có định hướng và có sự tái tạo, phát triển
thông tin.Vì vậy những người dạy đều có mụch đích chung là phát ra được
nhiều thông tin với lượng thông tin lớn liên quan đến môn học mụch đích dạy
học.
Công nghệ thông tin hiên nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học,
đặc biệt là việc dạy và học từ xa.Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng một
23


cách có hiệu quả cao nhất cho giáo dục và đào tạo là Công nghệ truyền thông
đa phương tiện và công nghệ mạng, đặc biệt là mạng internet. Hai công nghệ
này đã giúp cho người ta thực hiện:
+ Học ở mọi nơi
+ Học ở mọi lúc
+ Học suốt đời
+ Dạy cho mọi người và mọi trình độ tiếp thu khác nhau

Với nhiêu tính năng, thiết kế bài giảng sử dụng máy vi tính và công nghệ
truyền thông đa phương tiện có vai trò to lớn đối với quá trình dạy và học.
Giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh học tập chứ không đơn giản là
người phát thông tin vào đầu học sinh. Học sinh có thể lấy thông tin từ nhiều
nguồn phong phú khác nhau như sách, Internet, CD- CROM,..Học sinh phải
biết đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn đơn thuần chỉ nhận thông tin
một chiều và thụ động vì nguồn thông tin bạt ngàn. Thầy giáo cũng đóng vai
trò là người thường xuyên vì sự nâng cao dân trí của chính người thầy, với
mạng máy tính người thầy có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy và việc học của mình.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong dạy và học Địa
lí là phù hợp và cần thiết vì những lí do sau:
+ Phù hợp với yêu cầu của thời đại: Việc ứng dụng công nghệ thôn tin vào
trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triển
của thời đại. UNESCO cũng đã dự đoán trước ngưỡng của thế kỉ 21 “sẽ có
một sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ 21 do ảnh
hường của CNTT”. Và khẩu hiệu cho nền giáo dục thế kỉ 21được khẳng định
là : “ Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dành cho mọi nguời và với
mọi trình độ tiêp thu khác nhau”
+ Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là phù hợp với chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Bọ Giáo dục và Đào tao cũng xác định con
đường phát triển cho giáo dục Việt Nam là dựa trên “ dựa trên công nghệ
thông tin” và “ nó là phương tiện để thúc đẩy cuộc cách mạng về phương
pháp dạy và học” – nghĩa là thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường.
Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định “ cấm sử
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status