Bài tập lớn hình sự 2 - Pdf 34

BÀI 03
Chiều ngày 17 tháng 9 năm 2003, Đ cùng C đang ngồi uống nước thì có
một em bé mời mua vé số. C lấy 15.000 đồng mua 3 tờ vé số. Trong khi C trả
tiền thì Đ nhận lấy 3 từ vé số từ người bán và đút cất vào túi quần của mình và
nói: ‘ Để tôi cầm cho may mắn, nếu trúng thưởng thì tối nay lại đi nhậu nhé” .
C chỉ cười và không có phản ứng gì. Sáng hôm sau khi dò vé số biết trúng
thưởng, Đ đã đi nhận thưởng 150 triệu đồng rồi gọi điện cho C và nói : “3 tờ vé
số hôm qua trượt hết rồi” rồi đi mua một chiếc xe máy. Sau đó, Đ mời C đến
nhà ăn khao xe mới. C nghi ngờ, đi hỏi và biết được ba tờ vé số mà mình mua
trúng thưởng trị giá 150 triệu đồng. C yêu cầu D trả lại số tiền trúng thưởng
nhưng Đ kiên quyết từ chối và nói dối là vé không trúng thưởng nên đã xé bỏ. C
đề nghị cơ quan công an điều tra và vụ việc được xác định đúng như đã nêu trên.
Hỏi:
1. Hành vi phạm tội của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?
2. Tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao?
3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực
hiện.


NỘI DUNG
1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?
Trả lời: Hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì:
Xét hành vi của Đ trong tình huống và Điều 139 BLHS 1999 “ Người nào
bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm
trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn
đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm…”. Trong hành vi do Đ thực hiện đã có đầy đủ dấu hiệu cấu
thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điều 139 BLHS 1999.
Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản người khác
bằng thủ đoạn gian dối.
a. Về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu. Trong
trường hợp này thì khách thể của tội phạm do Đ thực hiện là quan hệ sở hữu
của C đối với số tiền 150 triệu đồng mà Đ chiếm đoạt.
Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng giống với đối
tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu khác đó là tài sản. Cụ thể ở đây là
số tiền 150 triệu đồng của C bị Đ chiếm đoạt.
b. Về mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan:
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành khi thỏa mãn một trong các
dấu hiệu sau:
- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 500.000 đồng trở lên;
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.


Hành vi của Đ đã thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất của hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản ( số tiền mà Đ chiếm đoạt có trị giá lớn hơn
500.000 đồng).
Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. Giữa
hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện
để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là
kết quả của hành vi lừa dối.
Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin
giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong
muốn người khác tin đó là sự thật. Ở đây, Đ hoàn toàn biết những thông tin

Hậu quả:
“Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã
hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự” . Việc xác định hậu quả của tội phạm
có ý nghĩa trong việc định tội cũng như quyết định hình phạt cho Đ.
Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá
trị tài sản bị chiếm đoạt. Hậu quả do hành vi cuả Đ gây ra là những thiệt hại cho
quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất. Trong trường hợp này,
số tiền 150 triệu đồng đáng ra thuộc về C đã bị Đ chiếm đoạt. Đ dùng số tiền đó
mua cho mình một chiếc xe máy mới.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả:
Quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng, trong đó
hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm
phát sinh hiện tượng khác được gọi là kết quả. Trong trường hợp này, hành vi
nói dối của Đ về kết quả xổ số với C “3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” và hành
vi chiếm đoạt 150 triệu của Đ có mối quan hệ nhân quả với nhau.
c. Về mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của Đ khi thực hiện tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của
mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó. Đ nhận thức rõ được tính chất nguy
hiểm của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội
và cũng nhận thức được hậu quả do hành vi đó gây ra.


- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, có nghĩa là hậu
quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp
với mục đích. Ở đây Đ mong muốn mình chiếm đoạt được tiền của C. Hậu quả
này phù hợp với mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội của Đ.
Động cơ và mục đích phạm tội của Đ có tính vụ lợi. Đ vì muốn chiếm đoạt số
tiền của C.
d. Về chủ thể của tội phạm

dấu hiệu "...tài sản của người khác có giá trị từ...". Đây chính là dấu hiệu mô tả
hậu quả của hành vi phạm tội. Vì vậy căn cứ vào khái niệm CTTP ta xác định
được tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" có cấu thành tội phạm vật chất, chứ không
phải là căn cứ vào việc người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa.
Việc người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản chỉ có ý nghĩa xác định họ
phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt.
“Gian dối là đặc trưng cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng
không phải là dấu hiệu duy nhất của tội phạm, mà ngoài thủ đoạn gian dối,
người phạm tội còn phải có hành vi chiếm đoạt tài sản thì mới đủ yếu tố cấu
thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu chỉ có thủ đoạn gian dối nhưng hông
có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà
tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội sử dụng trái phép tài sản hoặc chỉ là quan hệ dân sự, kinh tế...”
Trong tình huống này, tội phạm mà Đ thực hiện ở giai đoạn hoàn thành.
Khi đó, Đ đã chiếm đoạt được tài sản của C. C đã bị mất quyền sở hữu về mặt
thực tế đối với tài sản của mình là số tiền 150 triệu đồng trúng giải từ 3 tờ vé số.
Hành vi của Đ đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội. Phần thưởng trúng giải
đáng ra là của C bị Đ chiếm đoạt. Chương trình Xổ số kiến thiết ích nước - lợi
nhà với nhiều ý nghĩa tốt đẹp, mang tính xây dựng bị Đ lợi dụng làm cách thức
để lừa dối C.
Như vậy, tội phạm mà Đ đã thực hiện là tội phạm có cấu thành vật chất.


3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực
hiện.
Trả lời:
Điều 26 BLHS 1999 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi ích của
người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do tòa án phán quyết”
Trong trường hợp này, hành vi của Đ thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Lừa

ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009.
9. Lê Đăng Doanh, “Sự khác nhau giữa tội lừa đảo tài sản (Điều 139 BLHS)
với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)”, Tạp chí
toà án nhân dân, số 11/2005.
10.http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php
%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=6163.




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status