HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ MINH PHƯỢNG
§¶NG VËN §éNG TRÝ THøC TRONG §ÊU TRANH
GI¶I PHãNG D¢N TéC Tõ N¡M 1930 §ÕN N¡M 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ MINH PHƯỢNG
§¶NG VËN §éNG TRÝ THøC TRONG §ÊU TRANH
GI¶I PHãNG D¢N TéC Tõ N¡M 1930 §ÕN N¡M 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. HỒ THỊ TỐ LƯƠNG
2. PGS.TS. TRẦN TRỌNG THƠ
HÀ NỘI - 2015
23
Chương 2: ĐẢNG VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1939
24
2.1. Đặc điểm cơ bản và những hoạt động của trí thức Việt Nam trước
khi thành lập Đảng
24
2.2. Chủ trương và công tác vận động trí thức của Đảng từ năm 1930
đến năm 1939
39
Chương 3: ĐẢNG VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC TỪ NĂM 1939 ĐẾN NĂM 1945
69
3.1. Đảng đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu
69
3.2. Đảng vận động, tập hợp trí thức vào Mặt trận dân tộc thống nhất
hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc
77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội.
CTVĐTT : Công tác vận động trí thức
ĐNTT
: Đội ngũ trí thức
NXB
: Nhà xuất bản
SET
: Section d’Excursion et de Tourisme
(Đoàn Du ngoạn và Du lịch)
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trí thức là tầng lớp quan trọng của xã hội, là lực lượng sáng tạo và truyền bá
truyền thống qúy báu của dân tộc, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; trong
công tác vận động, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia phong trào cách mạng
do Đảng lãnh đạo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, trong thời kỳ
1930 - 1945, công tác vận động, tập hợp trí thức của một số cấp bộ Đảng cũng bộc
lộ một số sai lầm, hạn chế, nhất là những quan điểm tả khuynh, giáo điều trong
đánh giá trí thức.
Hiện thực lịch sử vận động trí thức thời kỳ 1930 - 1945 rất phong phú và
sinh động, đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, song, đến nay vẫn
còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng rõ, nhất là quá trình Đảng vận
động trí thức hướng đến mục tiêu đấu tranh giành chính quyền cần phải được
nghiên cứu toàn diện và thấu đáo. Việc nhìn nhận, đánh giá một số phong trào yêu
nước của trí thức, sự đóng góp của trí thức vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc cũng cần được nghiên cứu, luận giải để đánh giá xác đáng, tương xứng với
những đóng góp của trí thức đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng Cộng sản Việt
Nam càng coi trọng và đánh giá cao những đóng góp của đội ngũ trí thức (ĐNTT)
đối với dân tộc; đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để phát huy tốt hơn vai trò của
ĐNTT. CTVĐTT của Đảng được coi là một cơ sở quan trọng để phát triển nền
khoa học - công nghệ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN); là một
nhân tố quan trọng, bảo đảm sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc phục
vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong bối cảnh nhân loại đang tiến
những bước dài vào thời đại của văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức. Hội nghị
lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã nhấn mạnh phải xây dựng cơ
chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của ĐNTT; xây dựng
chiến lược phát triển ĐNTT đến năm 2020. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
3
4
- Khẳng định những thành công, phân tích hạn chế của Đảng trong vận động
trí thức thời kỳ 1930 - 1945.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTVĐTT của Đảng trong cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945. Đó là những quan điểm, chủ trương,
chính sách trí vận của Đảng, Nguyễn Ái Quốc; những hoạt động lãnh đạo của các
cấp bộ Đảng về vận động, tập hợp trí thức; những tổ chức, phong trào, hoạt động và
đóng góp của trí thức từ năm 1930 đến năm 1945.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian, luận án giới hạn trong phạm vi 15 năm, từ đầu năm 1930
đến tháng 8 năm 1945. Tuy nhiên, để trình bày nội dung chính được lôgíc và khoa
học, đề tài mở rộng thêm thời gian trước năm 1930, nhằm nêu bật những đóng góp
to lớn của những trí thức yêu nước đối với sự ra đời của Đảng.
Phạm vi không gian, luận án nghiên cứu CTVĐTT trên phạm vi cả nước,
trong đó, trọng tâm là những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà
Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn - là những nơi tập trung đông đảo lực lượng trí thức;
trong một số trường hợp có đề cập đến hoạt động của trí thức khi họ hoạt động ở
nước ngoài.
Phạm vi nội dung, luận án tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển nhận thức của Đảng về CTVĐTT; các khuynh hướng tư tưởng của trí
thức và các nhóm trí thức; sự chuyển biến về tư tưởng của trí thức và những
đóng góp của trí thức vào tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng thời
kỳ 1930 - 1945.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Về khoa học:
Làm sáng tỏ công tác trí vận của Đảng thời kỳ 1930 - 1945, những quan
điểm của Đảng, của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong việc hoạch định đường
lối, chủ trương, chính sách về công tác trí vận.
Đánh giá vai trò của công tác trí vận và những đóng góp của trí thức đối với
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945.
6
Về thực tiễn:
Hệ thống hóa quan điểm của Đảng về trí thức và CTVĐTT thời kỳ 1930 1945, góp phần xóa dần những “khoảng trống” trong lịch sử Đảng.
Cung cấp thêm những luận cứ khoa học, tư liệu, tài liệu trong việc vận động
trí thức tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Góp phần vào việc nghiên cứu,
giảng dạy và tuyên truyền Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm toàn diện và sâu
sắc, góp phần vào công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho ĐNTT, nhất là
ĐNTT trẻ; động viên họ cống hiến tài năng và trí tuệ cho đất nước trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả có
liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4
chương, 9 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
CTVĐTT. Một số giáo trình về lịch sử Đảng của Trường Chuyên khoa Lịch sử
Đảng trước đây, của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh), của Viện Lịch sử Đảng, của Bộ Giáo dục và Đào tạo
khi biên soạn về thời kỳ 1930 - 1945 cũng phản ánh một cách khái lược về
CTVĐTT của Đảng.
Từ tháng 9/1962, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tư số 97 về việc
thành lập Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng các khu, tỉnh, thành phố. Đến nay, hầu
hết các tỉnh, thành phố trong cả nước đã hoàn thành việc nghiên cứu, biên soạn
và xuất bản lịch sử Đảng bộ cấp tỉnh, thành phố. Có thể kể đến các công trình
tiêu biểu sau:
Tác phẩm Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, tập 1 (1930 - 1945) [3] là
công trình khảo cứu qui mô, toàn diện về lịch sử của Đảng bộ Thừa Thiên Huế
từ năm 1930 đến năm 1945. Trong khi khắc họa bức tranh toàn cảnh về những
ngày lịch sử sôi động chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm
1945 ở Huế, tác phẩm đã đề cập đến sự ra đời của Trường Thanh niên Tiền
Tuyến, quá trình “Việt Minh hóa” những thanh niên, trí thức của Trường như:
Nguyễn Tấn, Nguyễn Kèn, Lê Khánh Khang v.v.. khi họ được bổ sung vào Ban
Chấp hành Việt Minh Nguyễn Tri Phương và những đóng góp của các học viên
Trường Thanh niên Tiền Tuyến ở Huế trước và sau ngày khởi nghĩa giành chính
quyền thành công ở Huế (ngày 23/8/1945).
Cuốn Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1930 - 2000) [135] với dung
lượng hơn 900 trang được chia làm 3 phần, gồm 6 chương, công trình miêu tả,
phân tích, đánh giá những đóng góp của những trí thức trong chi bộ cộng sản đầu
tiên (tháng 3/1929), hoạt động của Tổng Hội Sinh viên Đông Dương dưới sự
lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ. Một bức tranh khá toàn diện về hoạt động của
những nhân sĩ, trí thức như Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp, Nghiêm Xuân Yêm,
9
phong trào cách mạng giải phóng dân tộc chưa được tìm hiểu thấu đáo và chưa
có những đánh giá xác đáng.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về lịch sử dân tộc, về các danh
nhân văn hóa có đề cập đến trí thức và công tác vận động trí thức của Đảng
thời kỳ 1930 - 1945
Vai trò hết sức quan trọng của trí thức đã được khẳng định trong tiến trình
lịch sử của dân tộc, đặc biệt trong lịch sử hiện đại, khi trí thức Việt Nam chính là
một lực lượng không thể thiếu trong liên minh công - nông - trí, một liên minh
hùng mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên những chiến công vang dội
trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nếu chỉ tính riêng từ năm 1975 đến nay,
liên quan đến CTVĐTT của Đảng trong thời kỳ 1930 - 1945, bên cạnh những
công trình nghiên cứu lịch sử Đảng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử, văn hóa dân tộc đã được công bố.
Tác phẩm Thanh niên Tiền phong và các phong trào học sinh, sinh viên,
trí thức Sài Gòn 1939 - 1945 của Huỳnh Văn Tiểng, Bùi Đức Tịnh [164] làm rõ
hoạt động sôi nổi của phong trào học sinh, sinh viên, trí thức thời kỳ 1930 - 1945
qua hai cuộc đấu tranh năm 1937, 1939 tại trường Petrus Ký, phong trào Câu lạc
bộ học sinh, trại hè Suối Lồ Ô, Section d’Excursion et de Tourisme (Đoàn Du
ngoạn và Du lịch) (S.E.T). Bên cạnh đó, tác phẩm còn là tài liệu quý khi khắc
họa toàn bộ quá trình ra đời, hệ thống tổ chức, hoạt động của tổ chức Thanh niên
Tiền Phong. Đây là một sự sáng tạo của Xứ ủy Nam Kỳ nhằm tập hợp, qui tụ
những trí thức lớn tại Nam Kỳ vào trong một tổ chức dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của Đảng, là lực lượng quan trọng trong cuộc đấu tranh giành chính quyền tại
Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cuốn sách Một số vấn đề về trí thức Việt Nam của Nguyễn Thanh Tuấn
[169] cung cấp cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về người trí thức Việt
Nam qua các chặng đường lịch sử, chỉ ra đặc điểm cũng như xu hướng phát triển
12
trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương trong phong trào Đông Dương Đại
hội, cuộc vận động dân chủ trên địa hạt báo chí công khai và phong trào Đại hội
báo giới, cuộc vận động tranh cử vào hội đồng quản hạt Nam Kỳ, cuộc đấu tranh
vì các quyền dân sinh, dân chủ của quần chúng.
Tác phẩm Nội các Trần Trọng Kim - Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của
Phạm Hồng Tung [184] đề cập đến sự ra đời, hoạt động, tổ chức của hai tổ chức
hoạt động công khai là Thanh niên Tiền Phong ở Sài Gòn và Trường Thanh niên
Tiền Tuyến ở Huế. Hai tổ chức này gắn liền với tên tuổi của những trí thức đã
đứng trong hàng ngũ của Đảng như Phạm Ngọc Thạch, hoặc được “Việt Minh
hóa”, trở thành những cán bộ cấp cao của Đảng trong bộ máy chính quyền nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng Tháng Tám như: Luật sư Phan
Anh, Giáo sư Tạ Quang Bửu v.v..
Cuốn sách của Trịnh Nhu, Trần Trọng Thơ với nhan đề Cách mạng Tháng
Tám 1945 thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam [130] khắc họa
những nét cơ bản hoạt động của phong trào học sinh, sinh viên trong Tổng Hội
Sinh viên Đông Dương gắn liền với tên tuổi của Dương Đức Hiền, Lưu Hữu
Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, v.v.... Bên cạnh đó, tác phẩm còn dành
một dung lượng lớn về quá trình “Việt Minh hóa” của những trí thức trong
Trường Thanh niên Tiền tuyến, sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ (Tiền Phong)
đối với tổ chức Thanh niên Tiền Phong, đánh giá những đóng góp to lớn của trí
thức Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám và trong việc thành lập chính phủ
lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Luận án Các cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hóa ở
Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945 của Nguyễn Thị Thanh Thủy [163] đi sâu tìm
hiểu, nghiên cứu các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam trong quá trình phi thực
dân hóa. Tuy nhiên, bên cạnh việc phân tích, lí giải, đặt các cuộc vận động dân
thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? của Nguyễn Ngọc Thiện
[158]; Lịch sử nhà tù Côn Đảo (1862 - 1975) của Nguyễn Đình Thống, Nguyễn
Linh và Hồ Sỹ Hành [159], Luận án Tiến sĩ Lịch sử Phong trào yêu nước của
14
giáo chức và học sinh, sinh viên Hà Nội từ năm 1888 đến năm 1945 của Lê Thị
Thu Hương [74] v.v…
Ngoài các công trình trên, những bài viết nghiên cứu về các chiến sĩ cộng
sản, những trí thức tên tuổi trong các hồi ký đã được xuất bản cũng là nguồn tư
liệu phong phú về CTVĐTT của Đảng trong thời kỳ 1930 - 1945. Tiêu biểu là
các tác phẩm:
Hồi ký Đào Duy Anh (Nhớ nghĩ chiều hôm) của Đào Duy Anh [1]. Tác
giả đã dành trọn mục XV để bàn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của trí thức Việt
Nam đối với dân tộc và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo.
Trên cơ sở phân kỳ lịch sử hình thành, phát triển của trí thức thành hai thời kỳ
lớn: thời kỳ phong kiến và thời kỳ hiện đại, tác giả đã lí giải một cách thấu đáo
nhiều vấn đề liên quan đến trí thức Việt Nam từ thời Trần đến những năm sau
Cách mạng Tháng Tám. Trong tác phẩm, tác giả có những nhận định hết sức
sâu sắc về trí thức Việt Nam: trí thức Việt Nam có nguồn nước mạch ngầm
chảy bất tận không bao giờ tắt đó chính là ý thức dân tộc, là thái độ, tình cảm,
là ý chí tranh đấu, là tinh thần hăng hái đi theo cách mạng và kháng chiến dưới
sự lãnh đạo của Đảng để hướng đến độc lập cho Tổ quốc và sự tự do cho những
người cần lao trong xã hội.
Hồi ký Thanh Nghị tập 1, quyển 1: Báo Thanh nghị và nhóm Thanh Nghị
của Vũ Đình Hòe [64] đã khắc họa một bức tranh toàn cảnh về quá trình ra đời,
tổ chức, hoạt động của nhóm Thanh Nghị và báo Thanh Nghị gắn liền với tên
tuổi của những trí thức Vũ Đình Hòe, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Hoàng Thúc
Tấn, Lê Huy Vân. Đặc biệt, tập Hồi ký này liên tục được tái bản nhiều lần vào
cả trong và ngoài nước về trí thức, tập trung nghiên cứu quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, vai trò của trí thức trong
lịch sử Việt Nam, các tổ chức trí thức, các nhân vật trí thức v.v… trong đó có đề
cập đến những quan điểm, đến CTVĐTT của Đảng trong thời kỳ 1930 - 1945.
Có thể kể đến một số công trình sau:
Trong tác phẩm The Rise of Nationalism in Vietnam 1900 - 1941(Sự trỗi
dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam 1900 - 1941), tác giả William J. Duiker
[208] trong khi đề cập đến những trí thức Pháp tham gia giảng dạy tại các trường
16
Pháp - Việt đã đề cập đến hoạt động của trí thức, học sinh, sinh viên trong tổ
chức Hội truyền bá Quốc ngữ để dạy chữ Quốc ngữ cho nhân dân Việt Nam, qua
đó dùng chữ Quốc ngữ để đưa văn hóa Việt Nam ra ngoài biên giới đến với
người nước ngoài.
Các công trình nghiên cứu lịch sử của các tác giả như: Yves Gra,
L’histoire de la Guerre d’Indochine (Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương)
[213]; Stein Tonesson, The Vietnamese revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi
Minh and de Gaulle in a World at War (Cách mạng Việt Nam năm 1945:
Rudơven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong một thế giới chiến tranh) [212];
Daniel Hémery, Saigon 1925-1945 (Sài Gòn 1925 - 1945) [207]; v.v.. Khi viết
về "cuộc chiến tranh Đông Dương”, nghiên cứu về phong trào cách mạng ở
Việt Nam, những nhà cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương v.v..
có đề cập và đưa ra những quan điểm nhìn nhận, đánh giá về CTVĐTT của
Đảng thời kỳ 1930 - 1945, về Mặt trận Việt Minh, về Xứ ủy Giải phóng và Xứ
ủy Tiền Phong trong những năm 1943 - 1945. Nhìn chung, các tác phẩm của
các nhà nghiên cứu trên đều đánh giá cao vai trò của Đảng Cộng sản Đông
Dương trong việc đoàn kết toàn dân, vận động đông đảo quần chúng nhân dân,
học sinh, sinh viên, trí thức tham gia vào các tổ chức như: Hội truyền bá Quốc
Tác phẩm Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng của Phạm Tất Dong
[29] nghiên cứu những nội dung cơ bản về quan điểm, chủ trương của Đảng đối
với trí thức và CTVĐTT của Đảng thời kỳ 1930 - 1945. Bên cạnh những nhận
định, đánh giá chủ trương của Đảng trong vấn đề tập hợp, qui tụ, đoàn kết trí
thức ngay từ tổ chức tiền thân của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
đến Mặt trận Việt Minh, tác phẩm còn đề cập đến “những khúc quanh của lịch
sử” khi Xứ ủy Trung kỳ đề ra chủ trương “thanh Đảng”; những chủ trương, biện
pháp của Đảng để khắc phục những hạn chế trong nhận thức của Xứ ủy Trung
Kỳ về chủ trương “thanh Đảng” trong Chỉ thị của Trung ương gửi Xứ ủy Trung
Kỳ về vấn đề thanh đảng Trung Kỳ; sự kiện năm 1944 Đảng giúp đỡ những nhân
sĩ, trí thức thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam và lãnh đạo bộ phận trí thức trở
18
thành một lực lượng quan trọng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tác phẩm Một số vấn đề về trí thức Việt Nam của Nguyễn Văn Khánh và
Nguyễn Quốc Bảo [79] là một công trình chuyên khảo công phu về trí thức Việt
Nam. Các tác giả đã lí giải từ lí luận đến thực tiễn để khẳng định vai trò của trí
thức Việt Nam trong lịch sử dân tộc trên các lĩnh vực, đặc biệt là trong công
cuộc giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945. Tác phẩm gồm 4 nội dung lớn. Ở
nội dung thứ nhất, các tác giả đã đề cập đến những nội dung rất cơ bản trong
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức.
Nội dung thứ hai với tiêu đề: “Sự hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam
trong lịch sử”, người đọc lại được các tác giả dẫn dắt đi sâu lí giải bối cảnh lịch
sử, điều kiện hình thành lớp thanh niên trí thức tài năng những năm 1920, đến
bước chuyển về lập trường tư tưởng, chính trị của trí thức Việt Nam trước và sau
khi thành lập Đảng. Ở nội dung thứ ba “trí thức Việt Nam với sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc”, các tác giả đã phân tích sâu từ các tổ chức chính trị sơ
trí thức, tiểu tư sản từ khi ra đời đến năm 1964. Ở nội dung chương 1, tác giả đã
phân tích hoạt động của các nhóm và tổ chức khác nhau của trí thức như tổ chức
Hướng đạo sinh của Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, nhóm trí thức của Dương
Đức Hiền, nhóm trí thức cấp tiến trong Thanh Nghị v.v.. đến hệ thống tổ chức,
Điều lệ của Đảng Dân chủ Việt Nam để khái quát thành luận điểm: được sự giúp
đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngay sau khi ra đời, Đảng Dân chủ Việt
Nam đã tự nguyện đấu tranh theo đường lối và sự lãnh đạo của Đảng, là một
thành viên tích cực của Mặt trận dân tộc thống nhất, là hiện thân sống động của
công tác trí vận của Đảng giai đoạn tiền khởi nghĩa.
Tác phẩm Góp phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước
1945 của tác giả Chương Thâu [156] cung cấp cho người đọc một bức tranh khá
toàn cảnh về lược sử Nho giáo Việt Nam, về trí thức Việt Nam trong giai đoạn giao
thời đầu thế kỷ XX, trí thức Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Luận văn Chủ trương của Đảng về vận động, tập hợp tầng lớp trí thức
thời kỳ 1930 - 1954 của Nguyễn Thu Hải [53] đã làm rõ chủ trương của Đảng
20
Cộng sản Việt Nam trong CTVĐTT thời kỳ 1930 - 1954, dựng lại một cách
khách quan quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về công tác trí vận. Tác giả
còn bước đầu rút ra những thành công và hạn chế, kinh nghiệm chủ yếu từ quá
trình Đảng lãnh đạo, tập hợp trí thức thời kỳ 1930 - 1954.
Tác giả Trần Viết Nghĩa trong cuốn sách Trí thức Việt Nam đối diện với
văn minh phương Tây thời Pháp thuộc [121] đã làm rõ sự hình thành của tầng
lớp trí thức Tây học ở Việt Nam. Trí thức Tây học chính là nguồn gốc cơ bản
dẫn đến sự hình thành của bộ phận trí thức cách mạng trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc thời kỳ 1930 - 1945. Tác giả cũng đã phác họa chân dung, diện
mạo vô cùng đa dạng của nền văn hóa Việt Nam từ khi Đảng ra đời với những trí
thức cách mạng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa tiêu biểu như: Hải Triều,