Chiến lược marketing sản phẩm của công ty vinamilk việt nam - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM

1.1. Sản phẩm là gì?
1.2. Chu kỳ sống của sản phẩm:
1.3. Nhãn hiệu của sản phẩm:
1.4 Đóng gói và gián nhãn:
1.5 Hoạch định và phát triển sản phẩm mới

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN – CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK

2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk)
2.2 Lịch sử hình thành công ty:
2.3 Môi trường kinh doanh của công ty sữa Vinamilk
a.

Môi trường vĩ mô:

b. Môi trường vi mô:
III. ĐI SÂU VÀO CÔNG TY VÀ CÁC CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH VỀ SẢN
PHẨM CỦA CÔNG TY SỮA VINAMILK
3.1

Chính sách sản phẩm

Marketing cho sản phẩm

1

được những thương hiệu về lĩnh vực này Việt Nam phải cần một thời gian rất dài. Tuy
nhiên, việc xây dựng Thương hiệu mang tầm Quốc tế các doanh nghiệp không phải cứ
tạo ra những sản phẩm cỡ như Sony, Samsung, Nokia, Google…thì mới chứng tỏ được
thương hiệu Việt. Thay vào đó, các doanh nghiệp có thể tập trung khai thác những
ngành hàng mình có thế mạnh. Chẳng hạn như nông sản, thực phẩm, đồ uống…cũng có
thể tạo ra những thương hiệu toàn cầu. Và hành trình xây dựng thương hiệu toàn cầu
vẫn đang được các doanh nghiệp nỗ lực từng ngày, trong đó công ty sữa Việt Nam
(Vinamilk) tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc tổng cục thực phẩm.
Nếu hỏi bất kỳ một người dân nào ở Việt Nam xem họ đã từng uống, nghe đến sữa

Marketing cho sản phẩm

2

Nhóm: 06


Vinamilk chưa thì chắc chắn câu trả lời hầu như là "Có". Vậy điều gì đã khiến Sữa
Vinamilk đầu tư mọi nguồn lực, dồn toàn bộ sức lực trí tuệ vào chiến dịch quảng bá
chúng? Câu trả lời là "khát vọng đưa Sữa Vinamilk trở thành một thương hiệu Quốc
gia" một sản phẩm thiết yếu của mọi gia đình. Vào Thời điểm cuối năm 1988 lần đầu
tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam. Phần lớn sản
phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu “Vinamilk”, thương hiệu
này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một trong nhóm 100 thương
hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006. Vinamilk cũng được bình
chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm
2007. Do vậy nhóm chúng tôi đã chọn sản phẩm Sữa Vinamilk làm đề tài thảo luận.
Trong chuyên đề có gì thiếu sót mong thầy và các bạn đóng góp thêm vào đề tài chúng
tôi thành công hơn.
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn!


Marketing cho sản phẩm

4

Nhóm: 06


- sản phẩm tiêu dùng
- Sản phẩm lựa chọn .
- Sản phẩm chuyên biệt
- Sản phẩm theo nhu cầu thụ động
- Sản phẩm công nghiệp.
1.2. Chu kỳ sống của sản phẩm:
Chu kỳ sống của sản phẩm có nghĩa là sản phẩm có một đời sống hữu hạn. Sản
phẩm có những giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có một thử thách khác nhau với
người bán. Sản phẩm đòi hỏi có những chiến lược khác nhau trong một đoạn chu kỳ đời
sống về tiếp thị tài chánh, sản xuất, tiêu thụ và nhân sự.

Chu kỳ sống của sản phẩm
-

Giới thiệu là giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường, trong giai đoạn này

sản phẩm tiêu thụ chậm lợi nhuận không có vì tốn tiền chi phí cho quảng cáo, giới
thiệu. Giai đoạn này sản phẩm phát triểm chậm.
-

Tăng trưởng là thời kỳ mà sản phẩm dược thị trường chấp nhận và được


Một nhãn hiệu thông thường mang những ý nghĩa như:
Thuộc tính một nhãn hiệu ban đầu phải mang lại cho khách hàng một số thuộc
tính nào đó. Ví dụ như Mercedes loại xe đắt tiền, kiên cố chắc chắn, động cơ tố, bền uy
tín, chạy nhanh.
Lợi ích Khách hàng không mua những thuộc tính mà họ mua lợi ích. Do đó thuộc
tính cấn chuyển sang dạng lợi ích chức năng hoặc cảm xúc.
Giá trị Từ nhãn hiệu cũng có thể nói lên một vài giá trị của nhà sản xuất. Ví dụ
đồng hồ Rolex biểu tượng cho sự chính xác cao của thời gian.
Văn hóa Một nhãn hiệu có thể đại diện cho một văn hóa nào đó. Ví dụ xe
Mercedes đại diện cho văn hóa của Đức
Tính cách Đồng hồ Rolex biểu tượng cho một chính khách cho đến những bậc
doanh nhân, từ những tài tử cho đến các bậc triệu phú, ai cũng bị quyến rũ bởi những

Marketing cho sản phẩm

6

Nhóm: 06


chiếc đồng hồ Rolex. Giá trị của nó không chỉ đơn thuần nằm ở những kara vàng hay
kim cương mà còn ở chính sự nổi tiếng của một nhãn hiệu đã có lịch sử hàng thế kỷ.
Người sử dụng Nhãn hiệu cũng có thể gợi ý loại khách hàng mua hoặc sủa dụng
sản phẩm của mình. Người sử dụng sản phẩm phải là người biết được giá trị, văn hóa,
và tính cách sản phẩm.
Một nhãn hiệu nỏi tiếng là một nhãn hiệu có quyền sở hữu cao. Vốn sở hữu nhãn
hiệu càng cao càng trung thành, sự nhận thức nhãn hiệu, chất lượng sản phẩm, bằng
sáng chế, nhãn hiệu cầu chứng điều tốt hơn. ở một mức nào đó nhãn hiệu có thể bán
được hoặc chúng ta phải trả tiền cho việc sử dụng nhãn hiệu. Sở hữu nhãn hiệu càng
cao sẽ tạo ra ưu thế cạnh tranh cho công ty.

-

Bao bì thứ cấp là lớp bao gói bên ngoài bao bì sơ cấp, nó sẽ được bỏ đi

khi sử dụng hàng hóa.
-

Bao bì vận chuyển là lớp bao gói ở bên ngoài cần thiết khi vận chuyển để

tránh hư hỏng cho hàng hóa.
Dán nhãn hiệu nhãn hiệu có thê là một bìa bằng kim loại, bằng da hay bằng
một vật liệu nào đó dán trên bào bì hàng hóa. Rất nhiều yếu tố khác góp phần lapf cho
việc sử dụng bao bì ngày càng trở nên như một công cụ marketing cho sản phẩm.
1.5 Hoạch định và phát triển sản phẩm mới
Sản phẩm mới bao gồm sản phẩm được cải tiến, được bổ sng thêm chức năng,
hoặc là sản phẩm có nhãn hiệu mới mà công ty phát triển thông qua chính nỗ lực nghiên
cứu và phát triển cảu công ty.
Một doanh nghiệp có thể có sản phẩm mới bằng 2 cách:
-

Thu nhận tức là mua bằng sáng chế, nhãn hiệu, .. của người khác

-

Tự phát triển sản phẩm mới do bộ phận nghiên cứu và thiết kế sản phẩm

mới của công ty.

Marketing cho sản phẩm


Nhóm: 06


giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép, sữa đậu nành, nước uống đóng chai và café
cho thị trường.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu
“Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một
trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006.
Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao”
từ năm 1995 đến năm 2007.
Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng
trưởng mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân 7.85% từ năm
1997 đến 2007. Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng công suất
khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm. Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn
trên cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản phẩm đến số lượng lớn
người tiêu dùng.
Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất
khẩu sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.
2.2 Lịch sử hình thành công ty:
1976 : Tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc Tổng Công ty
Lương Thực, với 6 đơn vị trực thuộc là Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường
Thọ, Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café Biên Hòa, Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico.
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và Công ty
được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.

Marketing cho sản phẩm

10

Nhóm: 06



2005 : Mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên doanh
Sữa Bình Định (sau đó được gọi là Nhà máy Sữa Bình Định) và khánh thành Nhà máy
Sữa Nghệ An vào ngày 30 tháng 06 năm 2005, có địa chỉ đặt tại Khu Công Nghiệp Cửa
Lò, Tỉnh Nghệ An.
* Liên doanh với SABmiller Asia B.V để thành lập Công ty TNHH Liên Doanh
SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005. Sản phẩm đầu tiên của liên doanh mang
thương hiệu Zorok được tung ra thị trường vào đầu giữa năm 2007.
2006 : Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, khi đó vốn của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh
Vốn Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 50.01% vốn điều lệ của Công ty.
* Mở Phòng Khám An Khang tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm
2006. Đây là phòng khám đầu tiên tại Việt Nam quản trị bằng hệ thống thông tin điện
tử. Phòng khám cung cấp các dịch vụ như tư vấn dinh dưỡng, khám phụ khoa, tư vấn
nhi khoa và khám sức khỏe.
* Khởi động chương trình trang trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu tóm trang
trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhỏ với đàn bò sữa
khoảng 1.400 con. Trang trại này cũng được đi vào hoạt động ngay sau khi được mua
thâu tóm.
2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
2.3 Môi trường kinh doanh của công ty sữa Vinamilk

Marketing cho sản phẩm

12

Nhóm: 06


Nhóm: 06


mặt hàng của nó. Và sữa nó phù hợp với mọi lứa tuổi. Công ty đã phân ra từng mặt
hàng sản phẩm cho từng lứa tuổi: Người lớn, thanh niên và trẻ em. Thanh niên ngày nay
thường bận rộn với công việc của mình có khi còn chẳng để ý tới việc tự chăm sóc cho
bản thân mình hống gì cái dạ dày rỗng không. Họ có thể đi học mà chưa ăn gì, nhưng
tới trường chỉ cần 10 tới 15 phút họ có thể bổ sung năng lượng cần thiết cho cơ thể bằng
cách mua một hộp sữa tươi 100% nguyên chất tuyệt trùng ngay dưới căng tin của
trường mình. Hay một số cha mẹ quá bạn rộn với công việc của mình cũng có thể chăm
sóc đứa con thân yêu của mình khi mỗi buổi sáng chúng bước ra cửa để tởi trườn bỏ
vào túi chúng những họp sữa tươi hay lon sữa mình pha cho buổi trưa cho chúng. Thật
nhanh gọn nhẹ phải không, đấy là những cái tiện dụng mà nhà sản xuất đưa ra để đáp
ứng kịp với như cầu thị trường.
Chính vì những thuận tiện như vậy nên công ty sữa Vinamilk cũng có những đối
thủ cạnh tranh trên thị trường như nhãn hiệu sữa Dutch Lady, Cô Gái Hà Lan, Sữa tươi
Ba Vì, Mộc Châu. Đấy là những đối thủ cạnh tranh của công ty. Các đối thủ có thể cạnh
tranh về giá, cạnh tranh về chủng loại , về thương hiệu và công chúng.
III. ĐI SÂU VÀO CÔNG TY VÀ CÁC CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH VỀ
SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY SỮA VINAMILK
3.1

Chính sách sản phẩm:

Chính sách sản phẩm giữ vị trí nền tảng, xương sống quyết định hiệu quản và
uy tín của công ty.
Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu ở Việt Nam. Từ khi bắt đầu đi vào
hoạt động 1976, công ty đã mở rộng hệ thống phân phối tại Việt Nam và đã làm đòn
bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép, sữa đậu nành, nước uống đóng trai
và café cho thị trường. Tính theo doanh số và sản lượng, vinamilk là nhà sản xuất

nước.Mẫu mã, bao bì luôn chiếm vị trí chiến lược trong marketing vì xu hướng tiêu
dùng hiện nay rất chú trọng bề ngoài sản phẩm, những sản phẩm thiết kế đẹp mắt

Marketing cho sản phẩm

15

Nhóm: 06


luôn nhận sự quan tâm của khách hàng bởi vậy mới nói là “ người bán hàng thầm
lặng”.
Theo thống kê của liên hiệp chế tạo máy móc Đức, 500 tỷ USD là giá trị sản
xuất bao bì toàn cầu. Ngày nay, ngành bao bì không chỉ được chú trọng tại các nước
phát triển, mà các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cũng coi trọng lĩnh
vực này. Đại diện phòng thương mại Đức tại Việt Nam nhận định: khi Việt Nam
mở cửa toàn thị trường bán lẻ vào năm 2009, chắc chắn sẽ có một cuộc “chiến bao
bì” giữa các công ty. Bởi hơn ai hết họ nhận thức được tầm quan trọng của bao bì
trong việc quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Hiện nay, tìm được công ty
nào đáp ứng đầy đủ các tiêu chí như bao bì đẹp, tiện dụng, an toàn cho sản phẩm,
thân thiện môi trường….. cũng rất khó. Ngoài ra, duy trì các tiêu chí này càng khó
hơn bởi môi trường kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của con người luôn
thay đổi. Do đó, các công ty sẽ đầu tư chi phí mạnh vào bao bì; và khi đó, nghành
bao bì Việt Nam sẽ là nghành kinh doanh triệu đô.
3.1.2.

Danh mục sản phẩm của sữa Vinamilk:

Sản phẩm của sữa Vianmilk rất đa dạng và phong phú về chủng loại với trên
200 mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa: sữa đặc, sữa tươi, bột dinh dưỡng, sữa

doanh số sữa bột, trong đó Vinamilk chiếm 14% thị phần.
Sữa chua (chiếm 10% doanh thu)
Sữa chua uống vinamilk chiếm 26% thị phần sữa và sữa chua ăn chiếm 96%
thị phấn. Năm 2007, sảm phẩm này đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2006.
Nguyên liệu sữa luôn là vấn đề được công ty sữa đặc biệt lưu tâm và nguyên
liệu này chủ yếu là ngoại nhập giá rất cao và bị động trong khâu cung ứng. Một số
chiến lược đã được đưa ra và cho là khá thành công là kiểm soát chất lượng sữa tươi
như ký lại hợp đồng với các điều khoản bắt buộc, tuyệt đối không nhận sữa từ người
vắt thuê… Ngoài ra công ty còn kết hợp với công ty liên doanh Campia xây dụng
trung tâm huấn luyện kỹ thuật nuôi bò sữa tại Lâm Đồng..

Marketing cho sản phẩm

17

Nhóm: 06


Để chủ động về nguồn nhiên liệu cho các nhà mày chế biến sữa, đảm bảo sản
xuất ổn định lâu dài, lãnh đạo Vinamilk đã có chủ trương phát triển nguồn nhiên
liệu nội địa, giảm dần nhiên liệu nhập khẩu. Công ty quyết định đầu tu phát triển
các hình thức chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp khép kín, với công nghệ hiện
đại. Dự kiến, cty sẽ xây dựng các trang trại chăn nuôi bò sữa ở các tỉnh như: Lâm
Đồng, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bình Định, Bình Dương… vơi quy mô trang trại chăn
nuôi 2.000 con bò, cung cấp trung binh 30 triệu lít sữa/ năm. Nhờ đó giải quyết
được cơ bản vấn đề nghiên liệu sữa đối với công ty Vinamilk.
3.1.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, Vinamilk đã không
ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao công tác quản lý và chất lượng sản phẩm. Năm
1999, Vinamilk đã áp dụng thành công Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

khuẩn, trong đó có 4 loại vi khuẩn vượt tiêu chuẩn qui định trong mẫu sữa tươi tiệt
trùng có đường loại 220 ml của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam được xem là sự cố đáng
tiếc, khiến người tiêu dùng rất hoang mang, lo ngại vì từng sử dụng sản phẩm sữa của
Công ty này. Liên quan đến sự cố trên, đại diện của Vinamilk cũng đã thừa nhận số sữa
nhiễm khuẩn trên là sản phẩm của công ty sản xuất. Tuy nhiên, Công ty này lại giải
thích số sữa bị nhiễm khuẩn trên là do lỗi trong việc đóng gói và vận chuyển.
Đối với những sản phẩm là lương thực, thực phẩm thì các công ty đều phải
rất cẩn trọng trong việc bảo quản, đảm bảo vệ sinh an tòan thực phẩm theo tiêu chuẩn.
Sữa tươi là một trong những sản phẩm khó khăn nhất để bảo quản. Thời hạn sử dụng
cũng ngắn hơn những thực phẩm khác vì vậy mà khó tránh khỏi việc bị hư hỏng. Trong
trường hợp này, công ty Vinamilk đã thẳng thắn nhận khuyết điểm và có đưa ra nguyên
nhân nhưng chưa rõ rang. Hơn nữa, cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình
trạng trên cũng như lời cam kết sẽ không còn việc tương tự nữa để người tin dùng tiếp
tục sử dụng sản phẩm.
3.1.4. Nghiên cứu sản phẩm mới
Nhu cầu người tiêu dùng luôn thay đổi vì vậy công việc của người đưa ra
chiến lược marketing là nghiên cứu và tìm ra sự thay đổi đó. Hiện công ty vinamilk đã

Marketing cho sản phẩm

19

Nhóm: 06


đưa ra một số sản phẩm mới rất hiệu quả. Trong đó phải kể đến 3 sản phẩm là sữa giảm
cân, bia, café moment.
 Sữa giảm cân
Hiện nay trẻ em béo phì ở Viêt Nam đang tăng cao điều nay đã tạo động lực
cho Vinamilk đưa ra thị trường sữa giảm cân và ngay lập tức nhận được sự ủng hộ của

cơ thể khỏe mạnh là điều hoàn toàn có thể đạt được.
 Bia
Hiện nay, bia là một loại thức uống rất phổ biến tại Việt Nam, được minh chứng
qua sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng trong vài năm qua. Nhận thấy xu
hướng này, Vinamilk đã ngay lập tức nhảy vào thì trường sôi động này bằng việc liên
doanh với SAB Miller (công ty sản xuất bia lớn thứ nhì thế giới về sản lượng bia) để
sản xuất bia Zorok với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD. Vinamilk đã góp khoảng 50%
vốn trong liên doanh này. Lượng bia sản xuất trong nước năm 2003 là 1,3 tỷ lít, tăng lên
1,4 tỷ lít trong năm 2004 và có thể sẽ đạt 2,5 tỷ lít vào năm 2010. Bia Zorok được đưa
ra thị trường vào đầu năm 2007 và đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của khách hàng.
 café moment:
Nền kinh tế đang ngày càng hội nhập, áp lực công việc cũng theo đó tăng nên.
Điều này đòi hỏi mọi người phải luôn tỉnh táo trong công việc, giải pháp lựa chọn nhiều
nhất của họ là uống café. Vì thế thị trường café đã nóng lên trông thấy. Ngay sau đó,
năm 2005 vinamilk đã có mặt trên thị trường với sản phẩm café moment do mới tham
gia thị trường lại bị cạnh tranh gay gắt lên vinamilk không gây được tiếng vang lớn.
Khồng chịu khuất phục và với lợi thế chi cho marketing rất cao(lên đến 2 triệu usd)
Vinamilk đã đưa ra hàng loat chiến lược để chiếm lĩnh thị trường. Một trong số chiến
lược có hiệu quả nhất là thuê Câu lạc bộ bóng đá Arsenal (Câu lạc bộ bóng đá Arsenal là một trong những đội
bóng thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh ) sang Việt Nam để quảng bá sản phẩm và nhãn hiệu
của Công ty cổ phần sữa Việt

Cafe Moment

Nam Vinamilk. Ông Nguyễn Tuấn Anh, Giám đốc Marketing của Vinamilk

vừa cho biết, việc ký kết này sẽ diễn ra vào giữa tháng 5/2008. Vơi chiến lược này vinamilk đã rất thành công trong việc
dựa vào uy tín của đội bong Arsennal để mở rộng thương hiệu sản phẩm café moment. Theo đó sẽ làm gia tăng thị phần và
đẩy mạnh xuất khẩu nhãn hiệu này .


đó là sương sống cho chiến lược kinh doanh dài hạn.
- Giá cả cạnh tranh cũng là thế mạnh của Vinamilk.
- Với kinh nghiệm hơn 30 năm phục vụ người tiêu dùng , hiểu rõ nhu cầu
dinh dưỡng và các kiến thức ứng dụng tiên tiến về sản phẩn sữa của thế giới.
- Vinamilk có lợi thế về giây chuyền sản xuất đã đầu tư hàng trục triệu USD
thuộc dòng hiện đại, cớ thể sản xuất được các sản phẩm đạt chất lượng theo đúng
tiêu chuẩn.

Marketing cho sản phẩm

22

Nhóm: 06


- Công nghệ tuyệt trùng UHT hiện đại và tiên tiến. Với công nghệ này, sản
xuất không những đảm bảo được dinh dưỡng gần như chọn vẹn, an toàn mà có thể
bảo quản ở nhiệt độ thông thường trong thời gian dài (6 tháng).
- Cty Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa. Sản phẩm đều đạt chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Không ngừng mở rộng sản xuất, xây dựng nhiều nhà máy trên khắp cả
nước.
3.3.2. Mặt tiêu cực (điểm yếu):
- Điểm yếu của Vinamilk là có những sản phẩm tốt, thậm chí có những thương
hiệu mạnh, nhưng khâu marketing yếu.
- Hoạt động marketing của công ty chủ yếu ở miền Nam, trong khi miền Bắc
chiếm tới 2/3 dân số cả nước lại chưa được công ty đầu tư mạnh cho các hoạt động
marketing.
- 30% doanh thu của công ty là từ suất khẩu, thị trường chính là Iraq, campuchia
và một số nước khác. Tình hình bất ổn ở Iraq khiến doanh thu ở thị trường này suy

trang trại cho nông dân.
- Việc bình ổn giá của các loại mặt hàng sữa cũng rất cần thiết vì vậy công ty
cần nên giữ giá cả ở một mức nào đó phù hợp với người tiêu dùng ở thời kỳ lạm
phát như hiện nay.

Marketing cho sản phẩm

24

Nhóm: 06


KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển, đổi mới của đất nước, tính tới nay Công ty cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk đã thành lập được 31 năm. Dấu ấn sâu đậm nhất của chặng đường
này chính là đã tạo dựng được một thương hiệu Vinamilk không chỉ mang tầm quốc
gia, mà còn vươn ra thị trường thế giới.
Để một sản phẩm khi tung ra thị trường tồn tại và phát triển được thì bất kỳ công
ty nào cũng cần xây dựng cho mình một chiến lược sản phẩm đúng đắn phù hợp với
tình hình thị trường cũng như của công ty. Cùng với các chiến lược khác chiến lược sản
phẩm là một trong những chiến lược quan trọng ảnh hưởng quyết định đến doanh thu,
lợi nhuận cũng như sự sống còn đối với doanh nghiệp.Vì vậy việc xây dựng chiến lược
sản phẩm là khâu thiết yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Chính vì những lý do nhưu vậy công ty đã đưa ra những chiến lược kinh
doanh của riêng mình, phù hợp với tiềm lực của mình và thị trường hướng tới. Trong
đó, chiến lược marketing của công ty đã khá thành công. Điều đó được phản ánh rõ qua
con số doanh thu mà mỗi năm công ty thu về.

Marketing cho sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status