1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
Khi cuộc sống của con người trở nên bận rộn hơn với vô số công việc, bộ não
không còn đủ sức để chứa đựng dữ liệu, họ nghĩ ra máy vi tính làm người bạn giúp
đỡ họ trong công việc và lưu trữ lại hệ thống dữ liệu. Nhờ có sự hỗ trợ của nó công
việc diễn ra hiệu quả hơn đối với tất cả các nghành nghề, nhất là ngành giáo dục.
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của chính phủ về ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) trong trường mầm non đã chứng minh điều đó. Thực tế, các giáo
viên mầm non (GVMN) hiện nay đã làm tốt công tác ấy chưa, đặc biệt là trong các
hoạt động nhằm phát triển nhận thức, tư duy ngôn ngữ cho trẻ. Đây là vấn đề đang
được quan tâm khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học
trẻ mầm non.
Nói đến ứng dụng CNTT trong dạy học người ta nghĩ ngay đến giáo án điện tử
(GAĐT). Việc thiết kế một GAĐT để phục vụ cho tiết dạy trẻ ở trường mầm non là
rất cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu xã hội phải nuôi dạy trẻ đảm bảo để trẻ phát triển
toàn diện về thể chất, tinh thần, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, trở
thành những con người năng động, sáng tạo trong tương lai. Nên GVMN luôn phải
tìm tòi, học hỏi, sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp, kết hợp các phương
tiện hiện đại để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ.
Ngoài việc sử dụng thành thạo các thao tác trên máy, có khả năng tìm kiếm, khai
thác các phần mềm thường dùng cho trẻ mầm non,còn phải có phương pháp hướng
dẫn sao cho phù hợp và phát huy được thế mạnh của việc dạy với máy tính. Đối với
các lĩnh vực phát triển nhận thức, ngôn ngữ việc sử dụng các phần mềm sẽ nâng cao
hiệu quả rất nhiều. Vì đây là hai hoạt động chủ đạo để phát triển khả năng tư duy
ngôn ngữ mạch lạc, có logic, hình thành óc sáng tạo cho trẻ ngay từ nhỏ. Nếu bỏ
qua giai đoạn phát triển thần tốc về tư duy, ngôn ngữ giai đoạn dưới 6 tuổi sẽ có ảnh
Đào tạo cũng đã nêu rõ : “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác
động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ
thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Và mới đây Bộ giáo dục đã đưa ra quyết định “Phê duyệt Chương trình quốc gia
về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn
3
2011-2015” .Cùng với sự tác động của Bộ giáo dục về ứng dụng CNTT trong dạy
học thì các nhà giáo dục trong và ngoài nước cũng rất quan tâm đến vấn đề này.
-Một số công trình nghiên cứu và tài liệu hướng dẫn ứng dụng Công nghệ
thông tin trong dạy học.
Chuyên gia nhi học Xiaoming Li đến từ Wayne State và nhà tâm lý Melissa
Atkins thuộc Đại học Ohio State đã tìm hiểu thời gian tiếp xúc với máy vi tính của
hơn 100 trẻ từ 3 đến 5 tuổi qua cha mẹ, đồng thời đánh giá sự phát triển nhận thức
và mức độ sẵn sàng học hỏi của các em bằng các bài test đặc biệt. Kết quả cho thấy
những trẻ sớm sử dụng máy tính một mình hoặc cùng với người thân có kết quả cao
hơn những em không có cơ hội tiếp cận với thiết bị này. Điều đó chứng tỏ các kĩ
năng sử dụng máy đã vô tình kích thích khả năng nhận thức của trẻ, giúp trẻ chuẩn
bị tốt hơn cho những năm học đầu.
Trẻ có thể dùng máy tính theo nhiều cách, từ chơi trò chơi, dùng phần mềm tự
học , xem hình ảnh cho tới việc quan sát, và bắt chước cha mẹ, anh chị sử dụng
máy. Tất cả đều tác động đến trẻ ở mức độ nhất định dù ở hình thức nào, có thể là
đánh máy, chơi trò chơi, hay thậm chí chỉ di chuột, các em vẫn thu được hiệu quả.
Giáo sư Gardne- nhà tâm lý học nổi tiếng của đại học Havard giải thích: “Trí tuệ
của mỗi con người đều là sự kết hợp hữu cơ của trí tuệ ngôn ngữ, tư duy vận động
thân thể, tư duy logic toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp
và trí tuệ tự nhiên...
Và như vậy, một giờ hoạt động của trẻ phải đảm bảo tích hợp rất nhiều hoạt
Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động làm quen TPVH ở
trường mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp “Ứng dụng CNTT trong soạn GAĐT cho trẻ làm quen
TPVH ở trường mầm non” nhằm tăng hứng thú nhận thức, phát huy tính tích cực
sáng tạo cho trẻ.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, tạp chí liên quan đến nội dung sử dụng các phần mềm tin học
để phục vụ cho việc hướng dẫn trẻ mẫu giáo trong hoạt động Làm quen TPVH.
5
- Nghiên cứu thực trạng công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động làm quen TPVH
cho trẻ ở trường mầm non.
- Đề xuất và thử nghiệm một số ứng dụng CNTT qua GDĐT để nâng cao chất
lượng giờ hoạt động làm quen TPVH cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Công tác tổ chức giáo dục trẻ mầm non thông qua hoạt động làm quen
TPVH.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và một số biện pháp nhằm làm tăng việc ứng
dụng CNTT trong hoạt động làm quen TPVH cho trẻ mầm non.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích các tài liệu lý luận, từ đó hệ thống hóa liên quan đến đề tài tìm hiểu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức cho trẻ
làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án điện tử
cho trẻ làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non.
Chương 3: Một số định hướng để nâng cao hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong soạn giáo án điện tử, cho trẻ làm quen TPVH ở trường mầm non
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG TỔ CHỨC CHO TRẺ LÀM QUEN TÁC PHẨM VĂN HỌC
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1.
Cơ sở giáo dục học
Khi xây dựng chương trình giáo dục mầm non, các nhà giáo dục đưa quan
điểm: “Trẻ là người tích cực hoạt động”, “Trẻ học qua chơi” và “Người lớn là
người hỗ trợ trẻ trong việc học”
Các quan điểm này cho thấy:
Sự phát triển của trẻ diễn ra trong quá trình trẻ tương tác với môi trường xung
quanh. Trẻ học một cách tự nhiên và tích cực. Trong cuộc sống trẻ rất thích quan
sát, thử nghiệm, tưởng tượng, khám phá, thu thập thông tin, luôn chia sẻ khi có điều
kiện. Như vậy, việc học tập sẽ có hiệu quả khi trẻ tích cực tham gia và thu hút vào
thực hiện các nhiệm vụ mà chùng cho là có ý nghĩa. Điều đó có nghĩa trẻ phải được
hoạt động. Việc tổ chức cho trẻ học chính là tạo các cơ hội để trẻ quan sát, nghiên
cứu, khám phá, trải nghiệm các hoạt động thực hành. Những hoạt động này phải
tỏ việc trẻ nắm được những nội dung tri thức khác nhau là kết quả hoạt động tư duy
của chúng do giáo viên tổ chức một cách phù hợp với những đặc điểm của tài liệu
được tiếp thu.
Còn quan điểm giáo dục của Motessori chú trọng đặt nền tảng tự do, nhu cầu và
hứng thú của trẻ lên trên hết. Bên cạnh môi trường học tập và học cụ giữ vai trò
quan trọng, qua kinh nghiệm tiếp xúc với học cụ trẻ tự học và khám phá kiến thức
và khả năng của mình. Trong quá trình tiếp xúc với môi trường, trẻ học qua khám
phá và đặc biệt trẻ học qua trải nghiệm và lỗi của mình. Qua nghiên cứu, bà hình
thành quan điểm giáo dục :
9
GIÁO DỤC QUA
GIÁO DỤC
CÁC GIÁC QUAN
TRÍ TUÊ
Qui trình trẻ lĩnh hội tri thức
QUA TRI GIÁC
TIẾP XÚC VỚI
GIÁO CỤ
HỌC ĐỌC
TRẺ HỌC VIẾT
ông đến những phát hiện ngạc nhiên về việc ngày nay chúng ta nghĩ thế nào về bộ
não. Xem xét những ảnh hưởng của các hoạt dộng khác nhau lên quá trình học tập,
ông nhấn mạnh là kỹ thuật có thể chuẩn bị cho bộ não chuẩn bị cho việc học tập
trong tương lai, ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng mọi
khu vực của não bộ từ thị giác, thính giác đến ngôn ngữ.
Vui chơi là yếu tố quan trọng trong việc tăng cường năng lượng não bộ của trẻ.
Khi trẻ vui chơi, sóng não sẽ phát triển hết mức và từ đó có thể tăng cường kỹ năng
nhận biết ở trẻ. Vui chơi còn giúp trẻ phát triển đồng thời cả về mặt thể chất, tình
cảm, xã hội, và trí tuệ. Trẻ biết vui chơi ngay từ giai đoạn sơ sinh. Hoạt động vui
chơi giúp kích thích thần kinh giác quan một cách liên tục, lặp đi lặp lại làm cho tế
bào não liên kết với nhau nhiều hơn, màng bọc dây thần kinh dày hơn. Đây là bộ
phận quan trọng của sự phát triển và tăng cường tiềm năng trí tuệ cho trẻ.
Qua chơi đùa trẻ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và hoàn thiện liên tục các kỹ
năng như: ghi nhớ, nhận biết, chú ý và hành động co chủ đích. Trẻ chơi đùa chính là
trẻ đang sử dụng thời gian một cách có ích đối với việc học hỏi và hình thành những
trải nghiệm , hỗ trợ cho việc phát triển não bộ của trẻ.
Bác sĩ Pongsak Noipayk đã nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ thông minh thông
qua các nghiên cứu khoa học. Theo đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự phát
triển ngôn ngữ tác động đến sự phát triển các kĩ năng khác của trẻ vì ngôn ngữ giúp
giúp kích thích sự vận động não bộ, giúp trẻ học hỏi, suy nghĩ và giải quyết vấn đề.
Tác động đến sự phát triển các kỹ năng khác của trẻ vì ngôn ngữ giúp kích
thích sự vận động của não bộ, giúp trẻ biết học hỏi, suy nghĩ và giải quyết vấn đề..
Nếu trẻ sống trong môi trường với đầy đủ các âm thanh chọn lọc có nhịp điệu, làn
điệu, có tiếng nói của con người sẽ làm cho hoạt động của não trẻ hình thành sự
phát triển chồng chéo, phức tạp hơn từ đó não bộ phát triển tốt hơn.
11
Tóm lại, não bộ của trẻ đang phát triển với tốc độ nhảy vọt, để phát triển các khả
Đối với trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi, ở giai đoạn này, cảm nhận thẩm mỹ đã có một
bước phát triển trong tiếp nhận tác phẩm văn học. Sự tiếp nhận của trẻ đầy đủ hoàn
thiện hơn, biểu hiện trước tiên là sự hiểu biết những câu chuyện cổ tích, bài thơ,
những đoạn văn xuôi hay và sự làm giàu tình cảm qua quá trình tích lũy hình tượng
nghệ thuật.
Những kết quả nghiên cứu được phát triển thành những quan niệm và luận điểm
về trình độ và năng lực của trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn, của nhà giáo
dục học Xô Viết: A. V. Daparôz, I.A.Cốpxơn, D.P.Encônhin, E.I.Trikhêeve, N.A
Vetlughina, L.I Dancơretôva, D.I Nhikiphôrôva đã một lần nữa khẳng định khả
năng của trẻ trong tiếp nhận văn học. Bằng các thực nghiệm họ đã khẳng định sự
cảm thụ và hiểu biêt tác phẩm văn học được hình thành ở trẻ mẫu giáo trong mối
liên hệ với quá trình phát triển tâm ý của chúng. Qúa trình này tạo nên nhờ giáo dục
và dạy học. Trẻ mẫu giáo hoàn toàn có thể hiểu sâu sắc ở mức độ của chúng nội
dung và tư tưởng tác phẩm, phân biệt được hình ảnh nghệ thuật với hiện thực, chỉ
ra và nhận xét được những phương tiện biểu đạt hình tượng, ngôn ngữ, các thủ pháp
nghệ thuật. Trẻ có khả năng nắm được việc xây dựng cốt truyện, cấu trúc và mối
quan hệ giữa các nhân vật.
1.3.4. Tiếp nhận văn học chịu tác động của các yếu tố tâm lí
Người ta nhận thấy rằng sự tiếp nhận nghệ thuật nói chung và tiếp nhận văn học
nói riêng ở trẻ mẫu giáo là một quá trình tâm lý trọn vẹn thống nhất dựa trên mối
quan hệ chặc chẽ không ngừng giữa nhận thức và cảm xúc dưới tác động sư phạm.
Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, lúc đầu trẻ tham gia hồn nhiên vào các sự kiện,
sau đó có quá trình phát triển, trẻ biết đứng ra ngoài tác phẩm để tưởng tượng thậm
chí sáng tác thêm một đoạn theo chủ quan của mình một cách rất hợp lí.
Cả tư duy trực quan hành động lẫn tư duy trực quan hình tượng đều liên hệ mật
thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ là rất lớn. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
em, nhất là trẻ giai đoạn 5-6 tuổi cho phép trẻ có khả năng tiếp thu ngôn ngữ nghệ
14
hỏi kết hợp với các hình ảnh trên máy, hoặc sử dụng phần mềm violet, sẽ hấp dẫn
trẻ hơn.
1.4.1.2. Nhóm phương pháp trực quan
Ngoài các phương tiện trực quan như: ngôn ngữ hình thể của cô giáo, tranh vẽ, ảnh,
con rối, mô hình…các kĩ thuật điện tử như: máy vi tính, các bài soạn giáo án điện tử
không thể thiếu trong hoạt động làm quen tác phẩm văn học.
Tranh minh họa đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp nhận tác
phẩm văn học của trẻ mầm non. Nghe đọc kể tác phẩm văn học và xem tranh minh
họa, đó là hai quá trình sáng tạo đòi hỏi rất nhiều ở con người sức tưởng tượng.
Minh họa chỉ diễn đạt một phần nội dung, nó biểu hiện các hành động riêng rẽ, chân
dung các nhân vật, tình thế của hành động, các bức tranh thiên nhiên theo tinh thần
tác phẩm. Ngay cả trong trường hợp minh họa chi tiết, các hình tượng trực quan
cũng không thể thay thế đầy đủ câu chuyen nghệ thuật. Trẻ chỉ tiếp nhận bằng tai và
mắt, vì vậy tranh minh họa kết hợp với lời kể sẽ làm cho tác phẩm trở nên sống
động, rõ ràng hơn. Trên thực tế tranh minh họa chưa đủ đáp ứng nhu cầu tiếp nhận
tác phẩm văn học của trẻ, vì đối với một số hình tượng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của
các thiết bị tin học để trẻ được tri giác toàn vẹn về âm thanh, màu sắc, sự chuyển
tiếp nhịp nhàng của hình tượng đó.
1.5.2.5. Nhóm phương pháp thực hành
Luyện tập kể lại chuyện và trò chơi là những cách giúp trẻ nhớ lại câu chuyện,
phát triển vốn ngôn ngữ, khả năng diễn đạt ngôn từ một cách mạch lạc.
Để trẻ kể lại một câu chuyện hay đọc thuộc diễn cảm một bài thơ, đòi hỏi
người giáo viên phải cho trẻ luyện tập, tương tác nhiều với tác phẩm từ trước đó.
Các phương pháp tổ chức cho trẻ làm quen TPVH, mỗi phương pháp đều có
những ưu điểm riêng và hạn chế nhất định, biết sử dụng chúng đúng lúc và kết hợp
với các phương tiện hữu ích sẽ giúp tăng cường khả năng vận dụng co hiệu quả
chúng.
16
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức nào từ ngành Giáo dục cho khái
niệm “Giáo án điện tử”. Ở các trường phổ thông, khi nói đến sử dụng giáo án điện
tử trong dạy học thì hầu như có nghĩa là giáo án được biên soạn trên máy tính bằng
một phần mềm chuyên dụng, sau đó nhờ thiết bị máy chiếu (projector) kết nối với
máy tính, để xuất nội dung giáo án ra màn ảnh lớn cho học sinh xem trong quá trình
dạy học
Có nhiều phần mềm khác nhau có thể dùng cho mục đích này, nhưng được sử
dụng nhiều hơn cả vẫn là phần mềm PowerPoint của Microsoft.
Bởi tính tương thích cao với hệ điều hành Windows (là hệ điều hành phổ biến
trên các máy PC ở VN), khả năng hỗ trợ multimedia rất mạnh, sự đa dạng về hiệu
ứng, nhưng sử dụng hiệu ứng lại đơn giản, tính nhất quán trong bộ MS Office giúp
người đã biết dùng WinWord dễ dàng sử dụng PowerPoint.
Theo chúng tôi hiểu, trong nghành giáo dục mầm non GAĐT được sử dụng
trong việc tổ chức một số hoạt động trên máy vi tính bằng hình ảnh, các đoạn video,
trò chơi…dưới sự trợ giúp của một số phần mềm tin học nhằm phục vụ cho giáo
dục trẻ .
1.5.2. Các phần mềm tin học và cách sử dụng chúng một cách hiệu quả để
phục vụ cho tiết dạy với giáo án điện tử
Phần mềm dạy học bao gồm tất cả các chương trình máy tính được sử dụng
trong quá trình dạy học nhằm hỗ trợ giúp cho quá trình chuyển tải tri thức từ người
dạy đến người học như giáo trình điện tử, bài giảng điện tử, phim, phim hoạt hình,
games…
Trong trường mầm non các phần mềm được sử dụng nhằm mục đích phục vụ cho
hoạt động CS- GD trẻ mầm non.
Nhóm phần mềm để giáo viên mầm non sử dụng thiết kế các hoạt động
giáo dục trẻ: Phần mềm Powerpoint, violet, movie maker, photoshop, đổi đuôi
18
Kéo thả “+”, nhấp phải chọn Properties xuất hiện hộp thoại, tại mục “Base” copy
chữ “Package-Lesson\Player.swf.
Hình 1.3 Hộp thoại Properties
Cuối cùng chỉ cần trình chiếu là sẽ có ngay một trò chơi lý thú và bổ ích cho trẻ.
1.5.2.2. Phần mềm đổi đuôi file ghi âm: Efficient WMA MP3, Converter
MP3 Convert Master, Video Convert Master...
• Giới thiệu
Hệ thống các phần mềm rất đa dạng, tùy theo loại máy tính mà tải về sử dụng cho
phù hợp, trang điện tử để tải về là: http://www. Mediafire.com/....
Nhờ có phần mềm này, lời kể chuyện, giọng đọc thơ truyền cảm của cô được đưa
vào máy vi tính kết hợp với hình ảnh trong bài powerpoint.
•
Cách sử dụng
19
Việc sử dụng rất dễ dàng, khi tải phần mềm về máy sẽ có bảng word chỉ dẫn sử
dụng, chỉ cần đưa file ghi âm vào phần mềm, hệ thống sẽ tự động chạy chương trình
để đổi đuôi MP3 cho bạn. Trong vòng 1 phút, tất cả file ghi âm sẽ được chuyển đổi,
việc còn lại là chèn chúng vào powerpoint.
1.5.2.3. Phần mềm Nature Illusion Studio
• Giới thiệu
Nature Illsion Studio là chương trình cho phép “thổi hồn thiên nhiên” vào trong bức
Cuối cùng chỉ việc tùy chỉnh chọn chữ tích hợp vào cho trẻ, chèn nhạc và Save. Ta
đã có một album ảnh cho trẻ xem ở phần giới thiệu truyện hoặc cho trẻ thư giãn
trong các giờ chơi tự do.
1.5.2.5. Phần mềm Photoshop
• Giới thiệu
Photoshop là phần mềm tạo ảnh chuyên nghiệp. Đối với nghành mầm non chúng ta
chỉ sử dụng photoshop vào việc cắt, tạo ảnh động với một số thao tác đơn giản.
• Cách sử dụng
Bộ công cụ của photoshop rất phong phú, tìm hiểu cách sử dụng bộ công cụ
này giúp giáo viên tạo ra những hiệu ứng rất đẹp mắt.
Có hai công cụ được sử dụng nhiều nhất : Lasso tool, Polygonal lassotool
(công cụ cắt) và Window Animation (tạo ảnh động).
Kĩ thuật sử dụng photoshop tương đối khó hơn các phần mềm các, giai đoạn
đầu cần thời gian tìm hiểu, khi đã nắm chắc các công cụ thì việc sử dụng sẽ trở nên
rất dễ dàng.
Với hệ thống phần mềm này, các giờ hoạt động học của trẻ trở nên thú vị hơn, thế
giới màu sắc, sự cuốn hút bởi âm thanh, hình ảnh ngộ nghĩnh, sinh động sẽ mở ra
cho các em nhận thức về thế giới, cuộc sống, một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả. Tôi
21
không trình bày Powerpoint, vì hầu như đa phần giáo viên đều dùng powerpoint
như là một phần mềm chủ đạo. Việc trình bày cách sử dụng rất cô đọng, do đó, cần
có sự tìm hiểu thêm của người nghiên cứu vận dụng để có hiệu quả.
Nhóm phần mềm để trẻ tiếp xúc trải nghiệm thông qua các bài tập trò chơi: Phần
mềm kidsmart, bút chì thông minh, bé tập tô…
Đây là những phần mềm rất thông dụng hiện nay được thiết kế dành riêng
cho bé hoạt động với máy vi tính. Thông qua các trò chơi trong hệ thống phần mềm,
trẻ phát triển các thao thác, thiên hướng kĩ thuật nhạy bén, linh hoạt. Đối với trẻ
Để trẻ cảm thụ tốt tác TPVH, ngoài việc cô phải sáng tạo trong kế hoạch giáo dục,
đưa ra những ý tưởng để dìu dắt trẻ vào tác phẩm, thì việc xây dựng các đoạn phim
ảnh, thiết kế các câu truyện trên Powerpoint để trẻ khám phá TPVH là việc làm hết
sức cần thiết. Soạn và dạy trên giáo án điện tử, không có nghĩa là cô hoàn toàn phụ
thuộc vào máy móc, vì trẻ tri giác dựa trên tất cả các giác quan của chúng.
Nhóm phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan như mô hình, các mũ mão, phối
cảnh …vẫn được thực hiện vào lần thứ ba kể chuyện của cô.
Nhóm phương pháp thực hành cho trẻ đọc kể diễn cảm lại tác phẩm, chơi trò
chơi, trả lời câu hỏi …là nhóm phương pháp rất quan trọng. Ở bước này, khá làm
cho trẻ mất sự tập trung nếu không có sự sáng tạo. Vì thế sử dụng CNTT lúc này rất
thích hợp. Linh hoạt thay đổi giọng kể của mình xuất hiện trên máy với hình ảnh,
trẻ rất hứng thú và mong đợi.
Hệ thống câu hỏi đàm thoại giúp trẻ hiểu và cảm thụ tác phẩm một cách sâu
sắc và có hệ thống. Trong quá trình đàm thoại, cô giáo không những giúp trẻ tự tin,
độc lập nói lên những suy nghĩ, cảm nhận riêng của mình về tác phẩm mà còn giúp
các bé tranh luận, trao đổi với nhau về một tình huống, một ấn tượng, một sự cảm
nhận mà chúng đã tiếp thu được từ tác phẩm. Để quá trình này diễn ra một cách nhẹ
nhàng đúng như câu “ Vừa học, vừa chơi” chúng ta nên tổ chức cho trẻ đưuợc nghe
hỏi trên máy theo một hình thức trò chuyện của một nhân vật nào đó như ong nâu,
chị bướm…lúc này tích hợp hệ thống làm quen chữ viết cho trẻ rất thích hợp, cô
23
giáo đóng vai trò nhắc lại câu hỏi, hướng trẻ đi vào tình huống của trò chơi, kết hợp
với sử dụng máy một cách linh động.
Nhóm phương pháp thực hành: bao gồm việc hướng dẫn trẻ kể lại chuyện và
trò chơi làm quen tác phẩm văn học. Các ứng dụng CNTT trong giai đoạn này là
các đoạn video kể chuyện, các hệ thống câu hỏi trò chơi trên violet….mang đến cho
trẻ những thú vị, bất ngờ…
tiến hành.
- Lựa chọn các phương tiện, phần mềm cần thiết cho quá trình thiết kế một giáo án.
- Đưa các tư liệu như: hình ảnh, video, các file ghi âm, file nhạc thu thập được vào bài.
+Xử lý các hình ảnh qua Photoshop: cắt các con vật ra khỏi nền để tạo hiệu ứng
trong Powerpoint, để đạt hiệu quả hơn chúng ta có thể tạo ảnh động trong Photoshop
rồi đưa vào Powpoint.
+Các file ghi âm và một số đoạn nhạc, video cần phải được xử lý qua các phần
mềm đổi đuôi như: Video converter Master, Total video Converter, tất cả các
chương trình này được dung rất phổ biến, chỉ cần download chúng về cài đặt vào
máy và tham khảo cách hướng dẫn sử dụng, các bạn dễ dàng đem giọng nói truyền
cảm của mình vào bài dạy thông qua máy tính.
- Tạo dàn ý cho bài giáo án
+Mở đầu:
Tạo sự thu hút bằng các hình ảnh, các đoạn video sưu tầm hoặc thiết kế trong
Movie maker.
+Phần nội dung:
Do đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non, khi thiết kế bài dạy chú ý đến đến màu sắc,
hình ảnh các slide một cách tươi sáng, đảm bảo thẩm mỹ.
25
Nền : Lựa chọn những hình phong cảnh, hoạt hình có độ lớn khoảng 300x300 pixels
trở lên để tránh độ mờ khi mở rộng. Những hình được chọn phải có màu sắc tươi
vui, tránh màu tối, hợp với nội dung của câu chuyện, hay hoạt động cụ thể.
Chèn những hình ảnh, video minh họa, các file ghi âm, đoạn nhạc đã xử lý vào slide
.
Thiết lập hiệu ứng cho từng slide với những hình ảnh đã qua xử lý.Yêu cầu những
hình ảnh phải động và ngộ nghĩnh, âm thanh phải tương ứng với hình ảnh. Chèn
đoạn nhạc và âm thanh tương ứng với hình cần điều chỉnh ở thẻ Slide Show/