Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện nga sơn, tỉnh thanh hóa - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô
trong trường, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Đất đai. Em xin chân
thành cảm ơn thầy cô đã giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em
còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo – ThS. Hoàng Thị Phương Thảo,
người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đồ án và các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý
Đất đai. Cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền sử
dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập.
Đồ án tốt nghiệp chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
nhận được sự đóng góp chỉ bảo của thầy, cô và các bạn để đồ án được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa
Quản lý Đất đai, cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ em hoàn thành đồ
án tốt nghiệp này.
Thanh Hóa, ngày 03 tháng 6 năm 2015
Sinh viên

Cao Minh Phương

1


MỤC LỤC

2




TT
1
2
3
4
5
6

Tên bảng
Bảng 3.1. Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất của huyện Nga Sơn
năm 2014
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất huyện Nga Sơn giai đoạn
2010 – 2014
Bảng 3.3. Biến động đất đai theo mục đích sử dụng đất năm
2014 so với năm 2013
Bảng 3.4. Kết quả cấp Giấy chứng nhận đối với đất ở trên
địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.5. Kết quả cấp Giấy chứng nhận đối với đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.6. Số lượng hồ sơ tồn đọng trên địa bàn huyện Nga
Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang số
36
39
41
44
47
49

5

16
23
35
40
46


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây
dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội an ninh quốc phòng, là môi trường sống và làm
việc của con người. Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về mặt số lượng, cố định về vị
trí nên việc sử dụng sao cho tiết kiệm và đạt hiệu quả phải tuân theo các quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất. Nước ta xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sản xuất
nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với gần 75% dân số
tham gia lao động sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
ngoài việc phát triển nông nghiệp thì công nghiệp và dịch vụ cũng là lĩnh vực quan
trọng cần chú ý phát triển trong giai đoạn tới và là hướng phát triển chủ yếu trong
tương lai. Do đó, đất đai là điều kiện tối cần thiết, là tư liệu sản xuất quan trọng và là
đầu vào không thể thiếu trong bất kỳ ngành sản xuất nào.
Xác định được tầm quan trọng của đất đai, Nhà nước và Chính phủ đang thi
hành những chính sách đưa việc quản lý và sử dụng đất vào quy chế chặt chẽ, xây
dựng một hệ thống chính sách đất đai cụ thể nhằm tăng cường công tác hoạt động sử
dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lại sản xuất trong nước theo hướng
xã hội chủ nghĩa. Điều 53, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 nêu rõ:
“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời,
tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công

đất tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Tìm hiểu tình hình công tác cấp GCN đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn
huyện Nga Sơn.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp GCN và đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cấp GCN trên địa bàn huyện.
b. Yêu cầu nghiên cứu
- Nghiên cứu và nắm vững Luật đất đai, các văn bản pháp luật liên quan tới việc
cấp GCN.
- Hiểu và vận dụng tốt các quy trình, quy phạm, văn bản pháp luật về cấp GCN
vào thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
- Thu thập đầy đủ các thông tin tài liệu liên quan tới việc cấp GCN trên địa bàn
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Nguồn số liệu, các tài liệu thu thập phải có độ chính xác, tin cậy phản ánh
đúng tình hình cấp GCN trên địa bàn.
- Số liệu điều tra thu thập phải được phân tích, đánh giá trên cơ sở khách quan,
đúng quy định của pháp luật.
- Những giải pháp đề xuất phù hợp với thực tế và mang tính khả thi cao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7


Đồ án nghiên cứu tình hình cấp GCN chứng nhận về quyền sử dụng đất đối với
đất ở và đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh
Thanh Hóa.
4. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu

(chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp,…). Đồng thời thông qua
việc cấp GCN yêu cầu người sử dụng đất thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính đối với
Nhà nước và sử dụng đúng pháp luật.
- GCN là chứng thư pháp lý thống nhất và cao nhất xác lập mối quan hệ giữa
Nhà nước và người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

9


- GCN là điều kiện đảm bảo giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất
trong phạm vi lãnh thổ về hình thể, diện tích, chủ sử dụng đến từng thửa đất. Qua đó,
đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao.
- GCN đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình giao dịch trên thị trường góp phần
hình thành và mở rộng thị trường bất động sản; thông qua GCN để giúp Nhà nước
quản lý được các hoạt động giao dịch về đất đai, làm trong sạch hơn thị trường bất
động sản.
- Cấp GCN là một nội dung quan trọng có quan hệ hữu cơ với các nội dung,
nhiệm vụ khác của QLNN về đất đai như: công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất; công tác giao đất, cho thuê đất; công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp đất đai;
công tác phân hạng đất và đánh giá đất.
Vì vậy, việc cấp GCN nằm trong nội dung chi phối của các nội dung QLNN về
đất đai. Thực hiện tốt công tác cấp GCN sẽ giúp cho việc thực hiện tốt các nội dung
khác của QLNN về đất đai.
1.2. Cơ sở pháp lý
Hệ thống các văn bản có liên quan đến công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
a. Các văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hànhcó quy
định về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận
- Luật Đất đai năm 2003 ngày 26/11/2003 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2004,
trong đó có quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc về Giấy chứng nhận; các trường

khắc phục yếu kém, sai phạm, tiếp tục đẩy mạnh tổ chức thi hành Luật Đất đai, trong
đó chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh để hoàn thành cơ bản việc cấp Giấy chứng nhận
trong năm 2006.
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 /05/2007 quy định bổ sung về việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai.
- Công văn số 1062/TTg – KTN của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày
9/9/2009 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 11/11/2009 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Nghị định số 38/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 26/5/2011 sửa đổi, bổ sung
một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 và Nghị định số

11


160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Đất đai.
- Nghị định số 44/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về giá đất.
- Nghị định số 45/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu
tiền sử dụng đất.
- Nghị định số 46/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu
tiền thuê đất. thuê mặt nước.
- Nghị định số 47/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về bồi

chính trong lĩnh vực đất đai.
- Thông tư số 106/2010/TT-BTC ngày 26/07/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn
lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất.
- Thông tư liên tịch số 02/2010/TTLT/BTC-BTNMT ngày 08/01/2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành
bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương.
- Thông tư số 20/2010/ TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Giấy chứng nhận,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Hồ sơ địa chính.
- Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Bản đồ địa chính.
- Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 Quy định về Thống kê, kiểm
kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
d. Các văn bản hướng dẫn về cấp Giấy chứng nhận của tỉnh Thanh Hóa
- Quyết định số 558/2006/QĐ-UBND ngày 03/3/2006 của UBND tỉnh Thanh
Hoá về việc ban hành quy định cụ thể về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
- Hướng dẫn số 509/STNMT-ĐKTK ngày 21/3/2006 của Sở Tài nguyên và Môi
trường Thanh Hoá về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá.

13


1.3. Một số quy định về cấp Giấy chứng nhận
1.3.1. Khái niệm và mục đích cấp Giấy chứng nhận

14


- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật Đất đai 2013 có
hiệu lực thi hành;
- Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng
đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
- Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải đối với tranh chấp đất đai; theo
bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi
hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
- Nguời trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
- Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế;
- Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
- Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở, người mua
nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các
thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử
dụng đất hiện có;
- Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.
1.3.2.2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử
dụng đất
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng
đất được cấp GCN theo quy định tại điều 100 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy
tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993

quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực
hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được
cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì
phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
1.3.2.3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về
quyền sử dụng đất

16


Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền
sử dụng đất được cấp GCN theo quy định tại điều 101 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu
lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013, có
hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất
xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp GCN và
không phải nộp tiền sử dụng đất.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều
100 của Luật Đất đai 2013 nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng
07 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã
xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp
vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ
hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu
cầu.
- Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu
ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 hoặc Giấy chứng nhận đã
cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại
thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử
dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu
đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích
chênh lệch nhiều hơn nếu có.
Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa
đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều
hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều
hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật Đất đai 2013.
1.3.3.2. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
Thẩm quyền cấp GCN được quy định cụ thể tại Điều 105 Luật Đất đai năm

18


2013 như sau:
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam

19


dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Trang 2 in chữ màu đen gồm mục “II. Thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất”, trong đó có các thông tin về thửa đất, nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng
sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm và ghi chú; ngày tháng năm ký Giấy chứng nhận
và cơ quan ký cấp Giấy chứng nhận; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận;
- Trang 3 in chữ màu đen gồm mục “III. Sở đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất” và mục “IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận”;
- Trang 4 in chữ màu đen nội dung tiếp theo của mục “IV. Những thay đổi sau
khi cấp Giấy chứng nhận”; nội dung lưu ý đối với người được cấp Giấy chứng nhận;
mã vạch;
- Trang bổ sung Giấy chứng nhận in chữ màu đen gồm dòng chữ “Trang bổ
sung Giấy chứng nhận”; số hiệu thửa đất; số phát hành Giấy chứng nhận; số vào sổ
cấp Giấy chứng nhận và mục “IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận” như
trang 4 của Giấy chứng nhận;
- Nội dung của Giấy chứng nhận quy định tại các Điểm a,b,c, d và đ Khoản 1
Điều 3 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 do Văn phòng đăng ký đất đai
hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất (đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai) tự in, viết khi chuẩn bị hồ
sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận hoặc xác nhận thay đổi vào Giấy
chứng nhận đã cấp.

20


Hình 1.1. Trang 1 và 4 mẫu GCN quy định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT

Hình 1.2. Trang 2 và 3 mẫu GCN quy định tại Thông tư 23/2014/TT-BTNMT

của Nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Vì vậy, để tháo gỡ vướng mắc, ngày 12/11/2007 Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết 07/2007/QH12 chỉ đạo nghiên cứu hợp nhất các loại mẫu Giấy chứng nhận
thành 1 mẫu lấy tên là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
Thực hiện theo Nghị quyết số 02/2008/NQ-CP ngày 09/01/2008, BTNMT chủ
trì phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, Ngành liên quan trình phương án sửa đổi Luật
Đất đai và các Luật có liên quan đến cấp Giấy chứng nhận theo hướng thống nhất cấp
một loại giấy là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất.
Đến nay việc cấp GCN đã được thực hiện trên thực tế theo quy định của Thông
tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
1.4. Tình hình cấp Giấy chứng nhận ở Việt Nam và tỉnh Thanh Hóa
1.4.1. Tình hình cấp Giấy chứng nhận ở Việt Nam
Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai toàn diện, đồng bộ việc
tổ chức thi hành Luất Đất đai năm 2013, tạo ra những chuyển biến rõ nét về quản lý và
sử dụng đất. Chỉ đạo các địa phương thực hiện cấp giấy chứng nhận bằng nhiều biện
pháp quyết liệt, có hiệu quả, các địa phương đã cơ bản hoàn thành mục tiêu cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của Quốc hội. Cụ thể:

22


Cả nước đã cấp được 41,6 triệu giấy chứng nhận với tổng diện tích 22,9 triệu
ha, đạt 94,8% diện tích các loại đất đang sử dụng phải cấp giấy chứng nhận (diện tích
cần cấp); trong đó 5 loại đất chính (đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng, đất
sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp) của cả nước đã cấp được 40,7 triệu giấy chứng
nhận với tổng diện tích 22,3 triệu ha, đạt 94,6% diện tích sử dụng cần cấp và đạt
96,7% tổng số trường hợp sử dụng đất để đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Tiếp tục

1.4.2. Tình hình cấp Giấy chứng nhận ở tỉnh Thanh Hóa
Cùng với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các
ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh,năm 2014 ngành Tài nguyên và Môi trường (TN&MT)
đã nỗ lực thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
(BVMT), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Đất đai là lĩnh vực tương đối nhạy cảm nên nhiều năm qua, đặc biệt là năm
2014, ngành TN&MT đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, không ngừng nâng cao
hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước. Về quản lý đất đai, ngành đã tham mưu cho
UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường công tác
quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; hoàn thiện hồ sơ nhập kho
các công trình đo đạc địa chính năm 2013; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
được tập trung cao độ, bám sát cơ sở, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc; thực
hiện tốt việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 làm cơ sở cho lãnh
đạo tỉnh chỉ đạo thực hiện các biện pháp sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tính đến nay toàn tỉnh đã cấp được trên 2,8 triệu giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất lần đầu cho các hộ gia đình, cá nhân đạt hơn 97% tổng số giấy cần cấp; với
tổng diện tích đã cấp giấy 754.897 ha, đạt 88% diện tích đất cần cấp giấy. Tuy nhiên,
việc cấp giấy chứng nhận vẫn chưa đảm bảo mục tiêu, kế hoạch đề ra; một số loại đất
(đất ở đô thị, đất chuyên dùng và đất ở các dự án phát triển nhà ở) tiến độ còn chậm, số
lượng tồn đọng còn lớn; thời gian giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận tại các ngành,
địa phương có lúc có nơi chưa đảm bảo thời gian theo quy định; việc xây dựng cơ sở
dữ liệu đất đai còn chậm, chưa đồng bộ; việc xây dựng, cập nhật, chỉnh lý biến động
hồ sơ địa chính chưa được thực hiện đầy đủ và thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu
của tình trạng trên là do chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm
đúng mức đến công tác cấp giấy chứng nhận, còn thiếu quyết tâm, chưa tập trung chỉ
đạo, kiểm tra, giám sát, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện, sự phối hợp của các ngành, các cấp ở địa phương chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ
địa chính cấp xã còn hạn chế về năng lực, không ổn định do luân chuyển hoặc thay
đổi; việc giải quyết thủ tục hành chính có lúc có nơi còn chậm, còn có biểu hiện cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status