HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN TRN IN
THựC HIệN PHáP LUậT Về
BảO Vệ MÔI TRƯờNG LàNG NGHề ở CáC TỉNH
ĐồNG BằNG SÔNG HồNG VIệT NAM
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
Ma sụ: 62 38 01 01
H NI - 2016
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Lợi
Phản biện 1:..........................................................
..........................................................
Phản biện 2:..........................................................
..........................................................
Phản biện 3:..........................................................
..........................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
nước nói chung, ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn
chế, bất cập trên nhiều phương diện: pháp luật - chính sách, cán bộ, thể chế và
bộ máy, đầu tư,... do nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc tuân thủ các văn bản
quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất làng nghề
chỉ dừng lại ở mức độ rất khiêm tốn. Điều đó dẫn đến việc hầu hết các cơ sở sản
xuất làng nghề đều xem nhẹ công tác thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề. Thực trạng trên đây đã và đang gây ra những khó khăn cho việc tiếp
tục triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở
các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đang tác động tiêu cực tới sức khỏe của cộng
đồng, tới tiến trình phát triển bền vững làng nghề mà Đảng và Nhà nước ta đã
chủ trương xây dựng.
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Việt Nam” làm đề tài luận án Tiến
sỹ luật học. Đây là đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu: Luận án phân tích làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận về thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; phân tích đánh
giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh
2
đồng bằng sông Hồng và đưa ra dự báo, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm
bảo đảm việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh
đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, xây dựng các khái niệm về làng nghề, pháp luật bảo vệ môi
trường làng nghề, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; xác định
các chủ thể, nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề; vai trò, điều kiện bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng; nghiên cứu việc thực hiện
nói chung, bảo vệ môi trường làng nghề và thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề nói riêng của các nhà nghiên cứu đi trước.
3
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện dựa trên các
phương pháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, logic, thống kê so sánh. Các phương pháp nghiên cứu nói trên được sử dụng cụ thể trong các
chương của luận án như sau: Trong Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp
thống kê, so sánh, phân tích tài liệu thứ cấp nhằm tham khảo, đánh giá và chọn
lọc kế thừa các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực đề cập;
đồng thời xác định được những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu của luận án.
Trong Chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch
sử - cụ thể, phương pháp logic và so sánh để nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của luận án; nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề và kinh nghiệm một số nước trên thế giới, từ đó chỉ ra những giá trị
tham khảo cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Trong Chương 3, tác giả sử dụng
phương pháp so sánh - thống kê, phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể để phân
tích hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề; đánh giá, phân tích những kết
quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Trong Chương 4, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, logic, để phân tích và
làm sáng tỏ các quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về
bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã xây dựng được khái niệm pháp luật bảo vệ môi
trường làng nghề và khái niệm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng
nghề; xây dựng được quan niệm về chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp
luật về bảo vệ môi trường làng nghề.
Thứ hai, luận án đã chỉ rõ tình trạng ô nhiễm làng nghề ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng, nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách hệ thống thực trạng
quan đến đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước cho thấy từng vấn đề riêng rẽ
như thực hiện pháp luật nói chung, nghiên cứu về ô nhiễm môi trường làng
nghề, về đặc điểm môi trường làng nghề,... đều đã được các nhà nghiên cứu, các
tác giả đề cập, phân tích, bàn luận khá đầy đủ. Song trên một tổng thể ‘Thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông
Hồng Việt Nam’ ở quy mô một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và
hệ thống thì các công trình của các tác giả, các nhà nghiên cứu trước đây vẫn
chưa đáp ứng được. Và đây vẫn còn là một vấn đề mới, mang tính thời sự nóng
hổi, đang rất được quan tâm từ cả phía nhà quản lý và phía những người hoạt
động trong lĩnh vực làng nghề ở Việt Nam.
1.2. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có
liên quan đến đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, ngoài một số
sách chuyên khảo hay giáo trình bàn về vấn đề thực hiện pháp luật nói chung
hầu như không có cuốn sách, bài viết nào đề cập đến vấn đề pháp luật môi
trường làng nghề. Ngay ở các nước Châu Á, là các nước có phong tục, tập
quán, đặc thù dân tộc khá tương đồng với nước ta, cũng chưa thấy có công
trình nào nghiên cứu về thực thi pháp luật môi trường làng nghề. Nguyên nhân
có thể do loại hình sản xuất làng nghề ở các nước trên thế giới chiếm tỷ lệ rất
nhỏ trong nền kinh tế quốc gia nên các nhà nước đương đại trên thế giối đã
không xây dựng, ban hành các đạo luật riêng cho việc thực thi pháp luật môi
trường của hoạt động sản xuất làng nghề.
1.3. Một số nhận xét, đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan
tới đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Với những nghiên cứu trên có thể khẳng định rằng cho đến nay vẫn chưa
5
có công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sỹ nào đi sâu phân tích và đánh giá một
sông Hồng và đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo
vệ môi trường làng nghề, cụ thể như sau:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật vê bảo vệ
môi trường làng nghề ở Việt Nam: trong đó khái quát hóa, xây dựng khái niệm
thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề, từ đó tập trung phân tích,
làm sáng tỏ về mặt lý luận các chủ thể, năm nội dung và bốn hình thức thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; phân tích vai trò của việc thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến
việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề. Đây là những cơ sở lý
6
luận quan trọng cho việc đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đề xuất giải pháp. Các cơ
sở lý luận này chưa được các nhóm nghiên cứu trước đây đề cập đến, đi sâu
phân tích, đánh giá và khái quát hóa.
Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích tình hình thực hiện pháp luật bảo vệ
môi trường của một số nước trên thế giới, trên cơ sở đó rút ra những kinh
nghiệm có thể áp dụng cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng
nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Phần này tập trung đánh giá thực trạng ô
nhiễm môi trường làng nghề và tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, phân tích những kết quả đạt
được và hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề trên năm phương diện nội dung (bảo vệ nguồn nước, đất đai và tài
nguyên đất, môi trường không khí, quản lý chất thải và bảo vệ cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử) và bốn hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ pháp luật,
thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật). Trong đó, việc phân
tích, đánh giá hiện trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở
các tỉnh đồng bằng sông Hồng là hoàn toàn mới, chưa có nhóm nghiên cứu nào
Pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề là hệ thống các quy tắc xử sự
do Nhà nước xây dựng, ban hành, hướng tới điều chỉnh các quan hệ phát sinh
giữa Nhà nước, các cơ quan quản lý các cấp về bảo vệ môi trường làng nghề, cơ
sở sản xuất kinh doanh làng nghề và công dân nhằm đảm bảo cho các chủ thể
pháp luật phát huy quyền và thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trường ở các
làng nghề địa phương
2.1.3. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề
Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề là quá trình hoạt
động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể
pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm phát huy tích cực, chủ động trong thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề, phòng ngừa và xử lý
nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con
người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển bền
vững.
2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi
trường làng nghề
2.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
Chủ thể pháp luật là những cá nhân, tổ chức năng lực chủ thể để trở thành
các bên tham gia quan hệ pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ
sở những quy phạm của pháp luật. Theo luật bảo vệ môi trường 2014, các chủ
thể tham gia thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề bao gồm:
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước
Thứ hai, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làng nghề: là một trong
những chủ thể giữ vai trò rất quan trọng trong thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường làng nghề.
Thứ ba, cộng đồng dân cư sinh sống ở các làng nghề.
đất phải xem xét tác động đến môi trường đất và có giải pháp bảo vệ môi trường
đất, do đó các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quyền sử dụng đất có trách
nhiệm bảo vệ môi trường đất. Việc phát thải chất thải vào môi trường đất không
được vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường đất. Khi các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sản xuất nghề gây ô nhiễm môi trường đất sẽ phải có trách nhiệm
xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất. Được quy định tại luật Bảo vệ môi
trường
Thứ năm: Thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich
lịch sử trong môi trường làng nghề. Đối với các làng nghề có các di tích lịch sử,
cảnh quan thiên nhiên đã được công nhận, xếp hàng, các hoạt động sản xuất
làng nghề phải xem xét tác động đến cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và có
giải pháp bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử này.
9
2.2.3. Các hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ
môi trường làng nghề
Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề:
Thứ hai, thi hành (chấp hành) pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
Thứ ba, sử dụng pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
Thứ tư, áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
2.3. Vai trò, điều kiện bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường làng nghề
2.3.1. Vai trò thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề
Thứ nhất, góp phần đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn và ngăn ngừa,
hạn chế các vi phạm pháp luật về môi trường nói chung, góp phần phổ biến
giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật;
Thứ hai, đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường lành
mạnh;
pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề bởi chính quyền địa phương đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Thứ ba là, học tập king nghiệm của Nhật Bản khuyến khích các hộ gia
đình, các cơ sở sản xuất làng nghề tham gia trực tiếp vào quá trình kiểm soát ô
nhiễm môi trường.
Thứ tư là, quản lý và xử lý chất thải toàn diện ở các làng nghề theo kinh
nghiệm của Singapore.
Thứ năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở địa phương và giáo dục
nghiêm về bảo vệ môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở các tỉnh
đồng bằng sông Hồng.
Chương 3
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, sự phát triển
về làng nghề và tình hình ô nhiễm về môi trường làng
nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh Đồng
Bằng sông Hồng tác động đến tình hình phát triển làng nghề và việc thực
hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề
* Điều kiện tự nhiên: Vùng đồng bằng sông Hồng là một vùng đất có diện
tích nhỏ hẹp nhưng lại có mật độ dân số cao nhất cả nước, là một điều kiện thúc
đẩy cho mô hình làng nghề phát triển bởi vì dân số đông, sức ép việc làm gia
tăng nên người dân ở đây phải tìm kiếm các nghề phụ bên cạnh các nghề chính
như nông nghiệp,… phục vụ cho cuộc sống của mình. Bên cạnh đó, vùng còn
có rất nhiều những ưu thế tạo điều kiện cho việc phát triển làng nghề như: hệ
thống giao thông - vận tải thuận tiện, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản tương
đối dồi dào là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển sản xuất của các làng
nghề.
* Về thi hành pháp luật:
Thứ nhất là, vùng đồng bằng sông Hồng đã hoàn thành lập đề cương đề
án Chính phủ “Quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông liên tỉnh”. cơ bản
hoàn thành dự án “Quy hoạch Quản lý sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi
trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến 2020”.
Tính đến nay đã có 10/11 tỉnh đồng bằng sông Hồng ban hành quy hoạch tài
nguyên nước cấp tỉnh.
Thứ hai là, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước đã được đẩy mạnh
và tích cực triển khai, thực hiện ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, trong đó có
12
khu vực làng nghề góp phần xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên
nước.
Thứ ba là, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức
cộng đồng về tài nguyên nước được thực hiện thường xuyên với các phương
tiện thông tin đại chúng, thông qua nhiều hình thức khác nhau để giải đáp pháp
luật, trao đổi về những vấn đề quan trọng, cấp bách cần giải quyết trong quản lý
tài nguyên nước, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
vùng đồng bằng sông Hồng.
Thứ tư là, trong công tác chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện đề án
bảo vệ môi trường lưu vực sông; chỉ đạo, tổ chức các hoạt động phòng ngừa và
kiểm soát các nguồn thải vào lưu vực song: Tất cả các tỉnh, thành phố vùng
đồng bằng sông Hồng trên 02 lưu vực sông đã phê duyệt và triển khai Kế
hoạch thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông tại mỗi tỉnh,
thành phố, nhiều nơi đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án trên địa
bàn. Đến nay, có 04 dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc
phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015 đã được triển
khai.
* Về áp dụng pháp luật:
Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật rộng rãi đến mọi đối
tượng trong đó có các cơ sở và cá nhân tham gia sản xuất nghề.
* Về áp dụng pháp luật:
Thứ nhất là, trong công tác xây dựng thể chế và các văn bản quy phạm
pháp luật: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã
liên tục được bổ sung, hoàn thiện. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cũng
đã nhanh chóng được Chính phủ, các Bộ, ngành và các tỉnh đồng bằng sông
Hồng ban hành để cụ thể hóa, tạo ra hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ
về bảo vệ môi trường đất.
Thứ hai là, trong công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra đột xuất việc
quản lý, sử dụng đất ở các làng nghề trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông
Hồng đã được chú trọng, tăng cường nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi
phạm pháp luật đất đai của các cơ sở được nhà nước giao đất, cho thuê đất.
Giữa Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Hồng cũng đã có sự phối hợp tích cực
trong triển khai thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra
chuyên đề diện rộng việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường đất và tài
nguyên đất tại các làng nghề.
3.2.1.3. Thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí
trong môi trường làng nghề
* Về thi hành pháp luật:
Thứ nhất là, từng bước khắc phụ ô nhiễm không khí từ các hoạt động sản
xuất làng nghề.
Thứ hai là, triển khai các giải pháp xanh nhằm giảm thiểu khí thải hiệu
ứng nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Thứ ba là, tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động quan trắc môi trường
không khí.
* Về sử dụng pháp luật:
Người dân tại các khu vực nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng khi
được huy động đều tham gia nhiệt tình đối với các phong trào, tham gia xây
dựng và thực hiện nghiêm túc quy ước về bảo vệ môi trường làng nghề. Việc
Trong những năm gần đây, người dân đã tích cực tham gia vào các hoạt
động của quản lý môi trường, được tham gia trực tiếp vào các bước trong dự án,
được chủ động đưa ra các đề xuất, được giám sát quá trình thực hiện và là
người trực tiếp hưởng lời từ thành quả của dự án. Ở các tỉnh đồng bằng sông
Hồng, một số mô hình huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản
lý và bảo vệ môi trường làng nghề cũng đã được triển khai như các mô hình thu
gom rác thải sinh hoạt dưới các hình thức tự quản do dân tự tổ chức, do xã, thôn
tổ chức hoặc thành lập HTX dịch vụ vệ sinh môi trường.
* Về áp dụng pháp luật:
15
Thứ nhất là, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về quản lý chất thải.
Thứ hai là, hệ thống tổ chức quản lý chất thải đang được kiện toàn và
phân công trách nhiệm tương đối cụ thể từ cấp Trung ương đến các tỉnh đồng
bằng sông Hồng.
Thứ ba là, tích cực tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực xử
lý chất thải.
3.2.1.5. Thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich
lịch sử trong môi trường làng nghề
* Về thi hành pháp luật:
Thứ nhất là, tích cực trong công tác chỉ đạo và thực hiện việc khắc phục và
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử ở
các làng nghề.
Thứ hai là, tích cực trong công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về bảo
vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich lịch sử trong môi trường làng nghề: ở cả cấp
Trung ương và các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
* Về áp dụng pháp luật:
Thứ nhất là, ban hành và hoàn thiện dần các văn bản quy phạm pháp luật
Ba là, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
cũng được chính quyền các cấp quan tâm chú trọng.
Bốn là, sự tham gia tích cực, tâm huyết của đội ngũ cán bộ quản lý môi
trường cấp xã, phường.
Năm là, sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia chủ động, tích cực của một bộ
phận chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề và người dân trên địa bàn xã,
phường, thị trấn vùng đồng bằng sông Hồng.
3.3. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân
3.3.1. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng thời gian qua
3.3.1.1. Thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước trong môi
trường làng nghề
* Về tuân thủ pháp luật
Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề không thực hiện việc quan trắc, giám
sát nguồn nước trong quá trình khai thác, sử dụng theo quy định của nội dung
giấy phép và theo quy định tại Điều 16 của Quy định ban hành kèm theo Quyết
định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Một số trường hợp cá biệt sẵn sàng dựa vào số đông để chống đối, thậm
chí hành hung các đoàn kiểm tra, thanh tra, báo chí đến làm việc; nhiều hộ sản
xuất không tiếp nhận hoặc tiếp nhận nhưng không vận hành các hạng mục công
trình xử lý ô nhiễm môi trường khi được nhà nước đầu tư, do không chịu chi trả
các khoản chi phí vận hành, bảo dưỡng.
* Về thi hành pháp luật:
Thứ nhất là, công tác chỉ đạo, quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường
lưu vực sông còn nhiều bất cập.
Thứ hai là, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước chưa tương xứng với
nhiệm vụ và yêu cầu.
các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng chưa sát với thực tế và yêu cầu quản lý
nhà nước về đất đai.
3.3.1.3. Thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong
môi trường làng nghề
* Về tuân thủ pháp luật:
Tại các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng, vẫn còn tồn tại những
ngành sản xuất gây ô nhiễm không khí nặng không tuân thủ các quy định bảo vệ
môi trường về xử lý khí thải, không thực hiện đánh giá tác động môi trường,
18
chưa có giải pháp xử lý ô nhiễm triệt để, mặc dù đã có những quy định về di dời
và xử lý ô nhiễm đối với các loại hình làng nghề này.
* Về thi hành pháp luật:
Thứ nhất là, tính hiệu quả, hiệu lực thực thi các chính sách, văn bản quy
phạm pháp luật về không khí chưa cao.
Thứ hai là, thiếu kế hoạch quản lý chất lượng không khí.
Thứ ba là, hoạt động quan trắc môi trường không khí ở các làng nghề vùng
đồng bằng sông Hồng còn nhiều hạn chế.
Thứ tư là, kiểm soát nguồn thải chưa hiệu quả.
* Về sử dụng pháp luật:
Công tác tuyên truyền đã được đẩy mạnh với nhiều hình thức mới (bảng
thông tin điện tử tại các tuyến giao thông, các trang thông tin điện tử...) nhưng
vẫn chưa thực sự đi vào cộng đồng, do đó sự tham gia của cộng đồng trong việc
bảo vệ môi trường không khí ở các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng còn
nhiều hạn chế.
* Về áp dụng pháp luật:
Thứ nhất là, thiếu các quy định pháp luật đặc thù cho môi trường không
khí.
Thứ hai là, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường không khí chưa
Thứ hai là, trách nhiệm, năng lực của đơn vị quản lý và thực thi chưa cao.
Thứ ba là, thể chế, chính sách về quản lý chất thải làng nghề còn chưa
hoàn thiện.
Thứ tư là, thiếu các quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn ở các
tỉnh đồng bằng sông Hồng.
3.3.1.5. Thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich
lịch sử trong môi trường làng nghề
* Về tuân thủ pháp luật: Nhiều cơ sở sản xuất ở các làng nghề chưa tuân
thủ pháp luật về quản lý, thu gom và xử lý chất thải, không thu gom, xử lý chất
thải đạt tiêu chuẩn, thường xuyên xả nước thải, khí thải không đạt QCVN ra môi
trường xung quanh ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử trong
chính các làng nghề hoặc ở các vùng lân cận.
* Về thi hành pháp luật: Công tác quản lý, chỉ đạo việc thực hiện pháp
luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử ở các làng nghề vùng
đồng bằng sông Hồng chưa được quan tâm đúng mức. Sự phối hợp giữa các
cơ quan với chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong việc quản
lý, bảo vệ và khai thác di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng trên địa bàn các
tỉnh đồng bằng sông Hồng chưa chặt chẽ. Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền,
giáo dục về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử ở các làng nghề còn
chưa được quan tâm.
* Về áp dụng pháp luật: Vấn đề môi trường chưa được lồng ghép trong
quá trình xây dựng Luật di sản văn hóa và Luật Du lịch. Bên cạnh đó, còn nhiều
loại quyết định liên quan đến sử dụng và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ,
trùng tu di tích lịch sử nhưng chưa có sự lồng ghép hoặc mức độ lồng ghép còn
chưa hợp lý. Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về
20
bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử tại các làng nghề thời gian qua
cũng chưa được chú trọng, hầu như bị bỏ ngỏ.
Thứ tám là, khuyến khích việc xã hội hóa và đa dạng hóa đầu tư tài
chính cho bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng chưa
được chú trọng.
21
Chương 4
DỰ BÁO, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
4.1. Dự báo và quan điểm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
4.1.1. Dự báo tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề và áp lực lên
môi trường trong những năm tới
Trên cơ sở dự báo xu hướng phát triển làng nghề trong những năm tới,
thành phần chất thải phát sinh tại các làng nghề cũng có những sự thay đổi nhất
định. Cụ thể, lượng chất thải tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ, dệt nhuộm, chế
biến lương thực thực phẩm khả năng tăng trong thời gian tới cao còn các nhóm
loại hình khác tăng thấp, không tăng hoặc có thể giảm dần so với thời điểm hiện
tại. Do đó, nếu tình trạng thực hiện pháp luật về quản lý và xử lý chất thải tại các
làng nghề thực hiện không tốt thì lượng chất thải sẽ tăng, dẫn đến mức độ ô
nhiễm môi trường tăng, đặc biệt là đối với các làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao
như tái chế phế liệu, chế biến lương thực, thực phẩm. Kết quả là trong thời gian
tới, tình trạng ô nhiễm các nguồn tài nguyên nước, đất, không khí và cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử sẽ còn tăng mạnh, khó có thể khắc phục được các sự
cố môi trường, khôi phục được các nguồn tài nguyên đất, nước, không khí,..
4.1.2. Quan điểm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở
các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Thứ nhất là, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh
đồng bằng sông Hồng phải quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và các nghị
nước trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh
đồng bằng sông Hồng.
Ba là, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất
đội ngũ cán bộ quản lý về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng
sông Hồng.
Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có
thẩm quyền trong thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh
đồng bằng sông Hồng.
Năm là, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, giải
quyết khiếu tố khiếu nại, xử lý nghiêm các vi phạm trong việc thực hiện pháp
luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Sáu là, tăng cường việc thực hiện pháp luật về quy hoạch các làng nghề
vùng đồng bằng sông Hồng.
Bảy là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao
nhận thức trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề đối với
cơ sở sản xuất, hộ gia đình làm nghề và nhân dân ở các tỉnh đồng bằng sông
Hồng.
Tám là, khuyến khích xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề nhằm góp
phần đảm bảo việc thực hiện pháp luật môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng.
23
KẾT LUẬN
Thứ nhất, luận án đã xây dựng, phân tích được cơ sở lý luận của việc thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
như: khái niệm về làng nghề, pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề, thực hiện
pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề, các chủ thể, nội dung và hình thức
thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng
đến việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng