TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Sinh viên thực hiện: VŨ THỊ CÚC
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI
THỬA TẠI HUYỆN THANH OAI – TP. HÀ NỘI
Mã sinh viên: DC 0004455
Lớp: DH2DC1
Khoa: Quản lý đất đai
Người hướng dẫn: Ths.Nguyễn Thị Huệ
Hà Nội, Năm 2016
1
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI
THỬA TẠI HUYỆN THANH OAI – TP. HÀ NỘI
Người hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Cúc
Vũ Thị Cúc
3
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
4
4
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng và có giá trị nhất trong sản xuất nông nghiệp.
Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định
mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi
quốc gia.
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây,
Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình là Luật Đất
đai năm 1993 sửa đổi bổ sung năm 2003 và gần đây nhất là Luật đất đai 2013. Theo đó
ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân. Có thể nói rằng, với chính sách mới về
quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người
nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình - đó là động lực cho sự
phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam. Điều đó đã đưa
đồng Nhân dân - Uỷ ban Nhân dân huyện Thanh Oai đã chỉ đạo thực hiện việc dồn điền
đổi thửa trên địa bàn theo Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 09/5/2012 của UBND thành
phố Hà Nội về “Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai
đoạn 2012-2015”.
Trước những vấn đề trên, với sự hướng dẫn của Ths. Nguyễn Thị Huệ tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Thanh Oai
- Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
-
Đánh giá hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Thanh Oai – thành phố
-
Hà Nội giai đoạn 2010 – 2015.
Đưa ra ưu nhược điểm cũng như thuận lợi khó khăn khi thực hiện công tác dồn
-
điền đổi thửa tại huyện Thanh Oai
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa trên
địa bàn huyện Thanh Oai – thành phố Hà Nội.
2.2 Yêu cầu của đề tài
6
Tìm hiểu đúng thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thanh Oai
Các số liệu điều tra, thu thập phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy
nước khác nhau trên thế giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển. Những nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do
sức ép dân số,...nhưng cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của
nền sản xuất còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả
của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu
quả của công tác địa chính,...
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều
nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc
biệt là ở miền Bắc. Theo số liệu thống kê năm 2004 cho thấy toàn quốc có khoảng 75 100 triệu thửa, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7 - 8 thửa. Manh mún đất đai được
coi là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông
nghiệp, nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến
khích tập trung đất đai. Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần
đây. Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực
khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để
8
8
các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể
nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
1.1.1.3 Khái niệm dồn điền đổi thửa
Bản chất quá trình dồn điền đổi thửa là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn,
sắp xếp qui hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ
chức thiết kế lại đồng ruộng. hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng; nâng cao hệ số sử
dụng đất; đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển kinh
tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH,HĐH nông nghiệp, nông
thôn. [3]
1.1.2
canh tác để thông qua toàn thể nhân dân. Đề xuất cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu, đường
giao thông nội đồng để báo cáo BCĐ xã, sau đó BCĐ xã trình UBND huyện quyết định
phê duyệt lượng kinh phí hỗ trợ.
10
10
Tổ chức Hội nghị họp dân để báo cáo toàn thể nhân dân trong thôn về kết quả điều tra
phân tích thống kê tổng hợp, phân loại đất theo từng vùng từng xứ đồng, khảo sát hệ
thống mương tưới, tiêu trên địa bàn, đường giao thông nội đồng ... lấy ý kiến của toàn dân
chốt biên bản họp dân, báo cáo cụ thể các nội dung đã thực hiện về BCĐ xã để làm căn cứ
xây dựng phương án chuyển đổi cho từng thôn, đồng thời xây dựng chế độ chính sách
chung cho việc chuyển đổi ruộng đất của xã.
Dự kiến quy hoạch chi tiết giao thông nội đồng, hệ thống mương tưới, tiêu, hệ số điều
chỉnh chênh lệch các loại đất khó khăn, đặc biệt khó khăn trong quá trình canh tác.
Bước 4: Tổ chức học tập, thảo luận đóng góp và phê duyệt đề án dồn điền đổi
thửa
Trước hết các xã, thị trấn phải tuyên truyền vận động tổ chức học tập cho cán bộ đảng
viên và nhân dân nắm vững chủ trương, chính sách và lợi ích của việc dồn điền đổi thửa,
gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ đó thống nhất tư tưởng và hành động
quyết tâm hoàn thành việc dồn điền đổi thửa.
Đảng uỷ xã họp thảo luận, đóng góp vào đề án dồn điền đổi thửa.
Tổ chức Hội nghị Đảng bộ, các đoàn thể... đóng góp ý kiến vào đề án dồn điền đổi thửa
và ra Nghị quyết lãnh đạo đảng viên và nhân dân thực hiện dồn điền đổi thửa.
Tiểu ban các thôn họp quán triệt các nghị quyết kế hoạch chỉ đạo của các cấp, bàn biện
pháp cụ thể ở cơ sở mình.
Ban chỉ đạo xã, thị trấn tổng hợp tiếp thu ý kiến đóng góp, hoàn chỉnh lại đề án dồn điền
đổi thửa, xin ý kiến chỉ đạo của UBND huyện.
qua và năm 2013 huyện Thanh Oai đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để vận
động nhân dân thực hiện tốt công việc này. UBND huyện đã ban hành Quyết định số
699/QĐ-UBND ngày 18/5/2013 v/v thành lập các tổ công tác chỉ đạo xây dựng nông thôn
mới và công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thanh Oai (21 tổ). Các tổ công tác
có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc hướng dẫn các xã, thị trấn triển khai xây dựng kế hoạch cụ
thể trong công tác xây dựng nông thôn mới, công tác dồn điền đổi thửa, giải đáp những
vướng mắc trong quá trình triển khai tại các địa phương. Ngoài ra phòng Tài nguyên &
Môi trường đã phân công các đồng chí cán bộ phụ trách địa bàn thường xuyên theo dõi,
hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ. Đưa trình tự, thủ tục, các tài liệu tham khảo về
công tác dồn điền lên hộp thư của đơn vị để tiện việc khai thác thông tin.
1.2 Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Luật đất đai 2013
12
12
-
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 7, văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lần thứ 2 (khóa VII), Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa
VIII) và Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị năm 1999.
-
Đại hội IX của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nước ta 10 năm (2001 - 2010), trong đó nông nghiệp nông thôn được quan tâm đặc
biệt. Tuy nhiên, một trong những vấn đề đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay là tình trạng đất đai manh mún, phân
tán đã gây trở ngại cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh...”.
Nghị quyết số 26/NQ-TW Ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa X về nông nghiệp nông dân nông thôn;
13
13
-
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi
hành luật đất đai; Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/04/2010 của UBND
thành phố Hà Nội về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 định hướng
-
đến năm 2030;
Hướng dẫn số 29/HD-SNN ngày 14/5/2012 của Sở nông nghiệp và phát triển nông
thôn thành phố Hà Nội về quy trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất sản
-
xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 của Thành uỷ Hà Nội, Chương trình
số 07-CTr/HU ngày 15/11/2011 của Huyện uỷ Thanh Oai về “Phát triển nông
nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn
2011-2015”; Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 09/5/2012 của UBND Thành phố
Hà Nội về “Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai
-
đoạn 2015-2020.
Quyết định 518 - QĐ/UBND ngày 08/5/2013 của UBND huyện Thanh Oai về giao
một số chỉ tiêu dồn điền đổi thửa năm 2013.
14
14
-
Quyết định số 699/QĐ-UBND ngày 18/5/2013 v/v Thành lập các tổ công tác chỉ
đạo xây dựng nông thôn mới và công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện
Thanh Oai (gồm 21 tổ).
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Tình hình dồn điền đổi thửa của các nước trên thế giới
15
15
1.3.1.1 Nhật Bản:
Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành chính
sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để thực hiện mục
tiêu này Bộ Nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng,
lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên.
Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao
đổi giữa các chủ nhỏ. Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm
xuống. Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu tư thêm lao động giảm
xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê
đất. Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế
(Chu Mạnh Tuấn, 2007).
1.3.1.4 Châu Âu và các nước phát triển khác:
Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một
loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang
trại quy mô vừa, năng suất lao động cao. Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông
hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô 35 ha/hộ. Ở
Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ, đến năm
1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9 ha/hộ. Nhìn chung, tiến trình tích tụ
ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa
học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ 2 (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
Từ những kinh nghiệm của các nước đi trước trong khu vực Việt Nam đã tiến hành
dồn điền đổi thửa theo nguyên tắc “sinh không tăng, tử không giảm” nhằm giảm tình
trạng manh mún về ruộng đất và đầu tư tiến bộ khoa học công nghệ cho sản xuất nông
nghiệp.
1.4 Tình hình dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
18
18
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986. Mục tiêu của
chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung
19
Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng đồng bằng sông
Hồng có khoảng 7 - 8 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn 10 - 20
thửa. Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hà Tây cho thấy sau khi giao đất năm
1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa.
Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau
để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn. Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng
ĐBSH đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa.
Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700 xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn
điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm. Trên thực tế ở những vùng này đất đai
được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng. Ví dụ: Ở tỉnh Thanh
Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 - 2001).
Trung bình số thửa ruộng của một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa. Trong các
báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các
địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà
manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai.
Điều đó có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên
quan đến đất đai. Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân
tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn. Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh
quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá
trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng
đất. Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không
có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất
(Viện Quy hoạch và Phát triển nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
2003).
*Tình hình dồn điền đổi thửa tại một số tỉnh
- Đã có 18 tỉnh, thành phố, gần 80 huyện và trên 700 xã, phường, thị trấn tiến hành
vận động nhân dân thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa (Tổng cục địa chính, 1997).
đồng/ ha/năm lên 18 triệu đồng/ ha/năm và có nhiều diện tích đạt tới 25 - 30 triệu đồng/
ha/năm. Nhiều địa phương sau thực hiện dồn điền đổi thửa đã sắp xếp lại lực lương lao
động, rút được lao động dư thừa sang làm ngành nghề khác như sản xuất tiểu thủ công
nghiệp ở Thọ Xuân (Thanh Hoá), Từ Sơn, Tiên Du (Bắc Ninh) (Tổng cục địa chính,
1997).
21
21
- Phần lớn các hộ nông dân sau khi DĐĐT đã tiết kiệm được thời gian lao động,
giảm chi phí, giảm công "chạy đồng" trước đây từ nhiều xứ đồng, nhiều thửa ruộng nay
tập trung đầu tư cho 2 - 5 thửa thuộc 2 - 3 xứ đồng, có điều kiện để cải tạo đất, làm kỹ
hơn các khâu canh tác, chăm sóc đồng ruộng và ứng phó kịp thời để phòng chống thiên
tai và những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. (Tổng cục Địa chính, 1998)
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đất nông nghiệp của huyện Thanh Oai;
- Hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa của huyện Thanh Oai;
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: các tài liệu thu thập trong giai đoạn 2010- 2015
- Phạm vi không gian: tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Thanh Oai
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thanh Oai
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Oai
2.3.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trước khi dồn điền đổi thửa
2.3.4 Kết quả đạt được sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa
cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế người dân huyện Thanh Oai;
những số liệu về thửa, diện tích phản ánh hiện trạng đất nông nghiệp trước khi dồn điền
đổi thửa để thấy được sự cần thiết của công tác dồn đổi ruộng đất.
2.4.3 Phương pháp so sánh
So sánh sự thay đổi về quy mô diện tích, số thửa của các hộ nông dân trước và sau
khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa. So sánh giá trị gia tăng thu nhập của các hộ
trước và sau dồn điền đổi thửa.
2.4.5 Phương pháp điều tra thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành đi khảo sát thực địa tại địa phương
nhằm tìm hiểu về thực trạng sau dồn điền đổi thửa đã đem lại những hiệu quả như thế
nào, ảnh hưởng đến đời sống của người dân ra sao.
23
23
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Oai
3.1.1 Điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Oai là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hà Nội, có
vị trí địa lý liền kề với quận Hà Đông với trung tâm kinh tế - chính trị là thị trấn Kim Bài
cách quận Hà Đông khoảng 14 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20 km về phía Bắc.
Toàn huyện có 20 xã và 01 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 12.385,56 ha và
dân số là 176.336 người (tính đến tháng 12 năm 2013). Huyện có địa giới hành chính tiếp
giáp như sau:
- Phía Bắc giáp quận Hà Đông;
- Phía Đông giáp huyện Thường Tín và huyện Thanh Trì;
- Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ;
trung bình từ 100 - 125 m, hiện tại bề mặt sông đã bị người dân trong vùng thả bè rau muống
nên chỉ còn một lạch nhỏ cho thuyền đi qua. Đây là tuyến sông quan trọng có nhiệm vụ phân
lũ cho sông Hồng. Tuy nhiên kể từ năm 1971 trở về đây, việc sinh hoạt và sản xuất của người
dân trong phạm vi phân lũ không bị ảnh hưởng bởi việc phân lũ, nhưng trong những năm tới
xem xét mối quan hệ giữa các vùng sản xuất, bố trí sử dụng hợp lý đất đai để đảm bảo cho
sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng được ổn định và bền vững.
Sông Nhuệ ở phía Đông của huyện có chiều dài 14,50 km lấy nước từ sông Hồng
để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của nhân dân các xã ven sông
như Liên Châu, Mỹ Hưng ... và còn là nơi cung cấp nguồn nước cho công trình thuỷ lợi
La Khê.
3.1.1.5 Tài nguyên đất
Đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi
đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy. Theo kết quả điều tra thổ
nhưỡng trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb), có diện tích 2.250,30 ha, chiếm 18,17% diện
tích đất tự nhiên: Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài đê trong vùng phân lũ sông
25
25