MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU
NƯỚC QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN LỊCH SỬ- GIÁO
DỤC QUỐC PHÒNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “ Dạy học tích
hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ
năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn,
khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối
với học sinh. Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng
và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng
một số chuyên đề dạy học tích hợp. Không đòi hỏi phải tăng cường quá
nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học”.
Đối với môn Lịch sử THPT, cần viết dưới dạng chủ đề. Đây là sự kết
hợp giữa việc truyền thụ kiến thức là chủ yếu với định hướng phát triển năng
lực của người học, khi vai trò của người dạy và người học có sự thay đổi. “
Với cách dạy này, người thầy không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức mà
giữ vai trò điều hành các hoạt động của các lớp học, tức là có nhiệm vụ tổ
chức, hướng dẫn học sinh học tập, giúp các em tự tìm kiếm thông tin theo chủ
đề có tính chất khái quát và chuyên sâu; tích cực, chủ động thu nhận kiến
thức để có thể vận dụng vào thực tiễn” – PGS Vỳ cho hay.
Thực trạng của việc dạy và học lịch sử trong nhà trường phổ thông hiện
còn những tồn tại là nội dung của nhiều bài giảng lịch sử rất khô khan, nhiều
sự kiện nên chưa tạo được hứng thú học lịch sử đối với học sinh. Học sinh
hiểu một cách rời rạc, nông cạn về kiến thức lịch sử, không nắm được mối
liên hệ hữu cơ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội, về kiến thức
liên môn…
Dạy học theo chủ đề tích hợp là một trong những nguyên tắc quan
trọng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, đây được coi là
một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh,
đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục. Dạy học tích hợp làm cho người học
Trong phạm vi của đề tài, tôi vận dụng một số kiến thuộc các môn lịch
sử và giáo dục quốc phòng để vận dụng vào dạy bài 27- Lịch Sử 10: “Quá
trình dựng nước và giữ nước” và bài 1- Giáo dục quốc phòng lớp 10: “
Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” , chương trình
chuẩn trong năm học 2014-1015. Qua nội dung tích hợp, học sinh có thể hiểu
được kiến thức bài học, nhận thức được một cách khái quát quá trình dựng
nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta từ thời Hùng Vương đến giữa thế
kỉ XIX, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm của giai đoạn lich sử này và
vận dụng nội dung kiến thức này trong học tập và nghiên cứu các môn học
khác như Địa Lí, Ngữ Văn...
4. Đối tượng nghiên cứu
Với chuyên đề này tôi áp dụng thử nghiệm dạy với lớp 10A, 10B trong
năm học 2014-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác- Lênin, đề tài được thực hiện
dựa trên phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic, phương pháp liên liên ngành....Phân tích một số nội dung lịch sử trọng
tâm của bài học bằng việc dựa trên kiến thức của các môn Địa Lí, Ngữ Văn,
Giáo dục quốc phòng.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Theo từ điển Tiếng Việt: Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích
hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp.
Theo từ điển giáo dục học: Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực
khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.
Trong tiếng Anh, tích hợp có nghĩa là toàn bộ, toàn thể. Có nghĩa là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ
thống ấy.
phòng- Bài 1- Lớp 10).
b. Kỹ năng:
- Rèn luyện học sinh kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá sự kiện lịch sử.
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân tích, tổng
hợp kiến thức.
- Rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế và rút ra bài học cho bản thân.
c. Vận dụng:
Học sinh vận dụng kiến thức môn Lịch sử - Giáo dục quốc phòng để giải
quyết vấn đề bài học đặt ra.
2.2 Phương pháp, phương tiện:
- Phương pháp: đàm thoại, thảo luận nhóm
- Thiết bị, đồ dùng dạy học:
+ Máy chiếu Projector, máy tính...
+ Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, phim tư liệu.
+ Các tư liệu thành văn liên quan đến bài học.
3
2. 3. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học:
Hoạt động của GV và HS
Nội dung
A. Khởi động
Hoạt động cá nhân ( 2 phút)
I. Quá trình xây dựng và phát triển
Giáo viên cho học sinh chơi trò đất nước của dân tộc Việt Nam
chơi khởi động
1. Thời Văn Lang – Âu Lạc :
Bảng thống kê
Bắc Bộ kéo dài tới Đèo Ngang của
tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
GV cho HS quan sát về sơ đồ bộ
máy nhà nước
c. Bộ máy nhà nước
Em hãy nhận xét về bộ máy nhà
nước thời Văn Lang – Âu Lạc?
GV nhận xét, kết luận: Bộ máy nhà
nước mặc dù còn đơn giản và sơ
khai nhưng đánh dấu thời kì dựng
nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
2. Thời Bắc thuộc:
a. Phong kiến phương Bắc đô hộ
Hoạt động cá nhân: ( 10 phút)
GV đàm thoại với HS về thời Bắc b. Các cuộc đấu tranh giành độc lập
thuộc
Nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa
4
Hai Bà Trưng:
“ Một xin rửa sạch mối thù
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sởi công lênh này”
GV nhấn mạnh: Đây là cuộc khởi
nghĩa mở đầu quá trình đấu tranh
chống phong kiến phương Bắc của
Việt.
5
4. Thời Lí – Trần
GV đọc đoạn trích về Chiếu dời đô
a. Năm 1009, Lí Công Uẩn lên ngôi,
của Lí Công Uẩn để thấy tầm nhìn lập ra vương triều Lí
chiến lược khi chọn thành Đại La
làm kinh đô:
“ Thành Đại La ( Thăng Long), ở
b. Năm 1010, Lí Công Uẩn rời đô từ
giữa khu vực trời đất, có thể rồng Hoa Lư về Đại La .
cuộn hổ ngồi, ở giữa nam bắc
đông tây tiện hình thế núi sông,
sau trước đất rộng mà bằng phẳng,
chỗ cao mà sáng sủa, dân cư
không khổ vì ngập lụt, muôn vật
rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp
nước Việt chỗ ấy là nơi hơn cả,
thực là chỗ định đô của kinh sư
muôn đời”
GV chốt ý: Với tầm nhìn chiến
lược của Lí Công Uẩn thì hiện nay
Hà Nội vẫn được chọn làm thủ đô
yêu dấu của dân tộc Việt Nam:
c. Sự hưng thịnh của Việt Nam
dưới thời Trần
• + Bộ máy nhà nước:
+ Luật pháp: Bộ luật Hồng Đức
6. Thời Nguyễn
GV cho HS quan sát lược đồ Việt
Nam thời vua Minh Mạng
GV chốt lại: Quá trình xây dựng
và phát triển đất nước diễn ra vô
cùng gian khổ và vất vả nhưng
rất đáng tự hào.
B. TĂNG TỐC
II. QUÁ TRÌNH GIỮ NƯỚC CỦA
Hoạt động nhóm: ( 30 phút)
1. Cuộc kháng chiến chống quân DÂN TỘC VIỆT NAM ( Từ thời Hùng
Vương đến thế kỉ XIX)
Nam Hán
2. Cuộc kháng chiến chống Tống
thời Lí.
3. Cuộc kháng chiến chống quân
7
Mông – Nguyên.
4. Cuộc kháng chiến chống quân
Minh.
5. Cuộc kháng chiến chống quân
Thanh.
6. Các anh hùng lịch sử Việt Nam
( từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX).
HS trình bày cuộc kháng chiến:
- Nguyên nhân
- Diễn biến
- Kết quả
- Ý nghĩa
8
3. Cuộc kháng chiến chống quân
Mông – Nguyên.
HS nhóm khác yêu cầu nhóm này
giải thích về vấn đề các em chưa
hiểu:
- Tại sao quân dân nhà Trần lại
có thể 3 lần chiến thắng quân
Mông – Nguyên?
- Tướng lãnh đạo cuộc kháng
chiến chống quân Mông – Nguyên.
GV sẽ trợ giúp cho nhóm trưởng để
giải đáp thắc mắc của các bạn
4. Cuộc kháng chiến chống quân
Minh.
Đại diện của nhóm lên trình bày
GV chốt lại vấn đề.
5. Cuộc kháng chiến chống quân
nước của dân tộc Việt Nam
1. Truyền thống dựng nước đi đôi với
giữ nước
Hoạt động nhóm: ( 5 phút)
GV cho HS chơi trò chơi ô chữ để
dự đoán truyền thống.
GV hướng dẫn luật chơi
HS lần lượt trả lời các câu hỏi
1,2,3,4,5 tuỳ theo lựa chọn của các
nhóm rồi sau đó trả lời tự chìa khoá
dựa trên chữ màu đỏ gợi ý
Câu 1 ( 4 chữ cái): Thái úy Lí
Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân
dân chống quân xâm lược….
Câu 2 ( 8 chữ cái): Ngô Quyền đã
chiến thắng quân Nam Hán trên
sông…..
Câu 3 ( 6 chữ cái): Nghĩa quân
…..đại phá quân Thanh năm 1789
Câu 4 ( 4 chữ cái): Lê lợi lãnh đạo
nghĩa quân Lam Sơn chống
quân….xâm lược
Câu 5 ( 7 chữ cái): Quân dân
…….ba lần kháng chiến chống
quân Nguyên - Mông
CK ( 7 chữ cái): Đây là truyền
thống quý báu của dân tộc ta.
2. Truyền thống lấy ít địch nhiều, lấy
10
thông minh, sáng tạo, bằng nghệ
thuật quân sự độc đáo.
GV hỏi HS các kế sách mà cha ông
ta đã sử dụng trong các cuộc
kháng chiến ( 2 phút)
- Kế sách: bố trí trận địa mai phục
- Kế sách: tiên phát chế nhân
- Kế sách: vườn không nhà trống, dĩ
đoản chế trường...
5. Truyền thống đoàn kết quốc tế
11
GV liên hệ cho HS truyền thống
đoàn kết quốc tế qua cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ ở thế kỉ XX. ( 3 phút)
6. Truyền thống một lòng theo Đảng,
tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào thắng lợi của cách
mạng Việt Nam
GV giáo dục cho HS tin tưởng
theo sự lãnh đạo của Đảng
( 5 phút)
C. Về đích
trong da ngựa cũng nguyện xin làm.
Thứ hai, sự lãnh đạo tài giỏi của Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn.
Một vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đã quên đi mối
thù nhà để phò vua, giúp nước.
Thứ ba, quân dân nhà Trần có lòng yêu nước nồng nàn.
Thứ tư, các chính sách, chiến lược của nhà Trần đúng đắn khích lệ nhân
dân quyết tâm đấu tranh tới cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Khi vó
ngựa Mông – Nguyên kéo vào kinh thanh Thăng Long, chúng đã vấp phải
khó khăn khi ta sử dụng kế vườn không nhà trống để rồi ta biết cách dĩ đoản
chế trường khiến quân địch thất bại thảm hại.
Thế hệ trẻ chúng em hôm nay may mắn được sống trong hoà bình để
được biết thêm những trang sử hào hùng của dân tộc ta. Vì vậy chúng em
13
nguyện xin phấn đấu học tập thất tốt để góp phần làm cho đất nước ta ngày
càng giàu đẹp hơn.
2.6. Nhận xét sau khi dạy và học xong giáo án tích hợp
- Nếu như sử dụng phương pháp cũ là giáo viên thuyết trình chủ yếu về
hệ thống kiến thức trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam hoặc hướng dẫn học sinh làm bài tập theo dạng tổng hợp như sau:
Bài tập 1: Hệ thống kiến thức cơ bản của các thời kì xây dựng và phát
triển đất nước theo bảng sau:
Thời kì
Nội dung chủ Kinh tế
Văn hoá - Xã hội
yếu về chính
giáo dục
trị
3. Tài liệu tham khảo cho bài giảng
TRƯNG NỮ VƯƠNG
(40 - 43)
May mắn thay đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh
(vùng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt
xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị (gia đình họ Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn
tằm gọi kén đầy là kén chắc, kén mỏng là kén nhị. Tên Trắc và Nhị từ đó mà
ra) và ở Chu Diên (ở dọc sông đáy, sông Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội,
Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế, mùa xuân
năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan Lạc tướng Chu Diên đã cho
con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với
họ Trưng. Ý quan lạc Tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu
Diên liên kết thì chẳng phải tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi
Sách – Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh
ấy có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại
nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng
Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của
người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của
người ấy.
Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với
con trai Lạc tướng Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn nhân là sự
liên kết thế lực giữa hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân
bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc
chiến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hoảng hốt tìm
cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo
về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc đau đớn. Rồi ngay sau
đó, Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa
nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao
búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành voi
Trưng Vương đem quân tới chận đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống
trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương thu quân về giữ Cấm Khê (vùng
Thạch Thất- Hà Nội và Quốc Oai - Hà Tây). Mã Viện lại kéo tới một loạt trận
huyết chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Hơn hai vạn người
Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn áp man
rợ của Mã Viện là quận Giao Chỉ và Cửu Chân, Tổng số dân mới có 91 vạn
cả già trẻ lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh hơn 4 vạn người đã bị giết
và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn
để sống mái với bọn lang sói theo ý chí kiên cường của Trưng Vương. Trong
một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối
cùng, Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là
ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43)
NGÔ QUYỀN
(897-944)
Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ sinh ngày 12 tháng 3
năm Đinh Tỵ (897) ở Đường Lâm (Ba Vì, Hà Nội). Cha Ngô Quyền là Ngô
Mân, một hào trưởng có tài. Lớn lên trên quê hương có truyền thống bất
khuất, nơi sản sinh và nuôi dưỡng người anh hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô
Quyền sớm tỏ rõ chí khí phi thường hiếm thấy. Vốn thông minh, có thân thể
cường tráng, lại thường xuyên luyện tập võ nghệ nên tiếng tăm Ngô Quyền
lan rộng cả một vùng. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mô tả Ngô Quyền "vẻ
khôi ngôi, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức có thể nhấc
vạc, giơ cao". Vì có tài nên Dương Đình Nghệ giao cho Ngô Quyền cai quản
đất Ái Châu và gả con gái cho. Trong 5 năm (934-938), Ngô Quyền đã đem
lại yên vui cho đất Ái Châu, tỏ rõ là người có tài đức.
Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại, và vua Nam Hán là
Lưu Cung cho con là Vạn vương Hoằng Tháo đem quân sang xâm lược nước
ta, Ngô Quyền đã nhanh chóng tập hợp lực lượng để trừ nội phản, diệt ngoại
16
thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông được xem là một anh hùng
dân tộc của Việt , một danh nhân văn hóa nổi tiếng toàn quốc .
Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư
đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là
Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên
Đán.
Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên
Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.
Năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra
thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ
chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng
nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa
trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược
17
Việt . Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly
và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung
Quốc.
Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo
lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già
trong lúc bị cầm tù.
Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo Lê Lợi. Mùa xuân năm Quý Mão (1423),
Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn, Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ vào
Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trong khi Bình Định Vương lại cho
Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Vì không biết rõ lai lịch hai
vị này, Nguyễn Như Lãm (cận thần của Lê Lợi) đã giao cho Trần Văn làm Ký
lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền. Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng
"Bình Ngô sách", Lê Lợi đã ông giữ lại bên mình để lo giúp việc.
Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước
chia làm 5 đạo). Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy
được tài năng của ông. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại
xảy ra tranh chấp. Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh
liền 4 hoàng tử. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong
triều xảy ra xung đột. Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thứ tử của
con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho
con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một bà
vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị
Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn
Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem
nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau
này).
Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn
19
Sơn (Chí Linh, Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ
theo hầu vua. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi
Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu
Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc)
ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người
bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài
những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng
họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của
Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả
vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.
Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi đã để lại cho đời sau rất nhiều trước
tác, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm, song đã bị thất lạc sau Vụ án Lệ Chi
Viên. Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt thời phong kiến,
tậplà tác phẩm viết bằng chữ Nôm đánh dấu sự phát triển mới của văn học
Việt Nam
4. Các sản phẩm của học sinh
Tranh ảnh, tư liệu học sinh sưu tầm:
4.1. Sản phẩm của nhóm 3: Cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên
4.2. Nhóm 1: Cuộc kháng chiến chống quân Nam -Hán
21
4.3.Cuộc kháng chiến chống quân Thanh
4.4. Cuộc kháng chiến chống quân Minh
4.5. Nhóm chuẩn bị về vai trò của học sinh trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay
22
III KẾT LUẬN
Sau quá trình dạy giáo án tích hợp liên môn Lịch Sử - Giáo dục quốc
phòng tôi nhận thấy kết quả có sự chênh lệch giữa các lớp được dạy và lớp
không được dạy.
1. Kết quả học tập của học sinh qua bài thu hoạch:
1.1. Các lớp dạy theo giáo án tích hợp
23
Sĩ số
Điểm trên trung bình
Ghi chú
41
Số lượng
Tỉ lệ
38
92,7%
10D
38
36
94,7%
2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho bản thân
Thứ nhất, tôi sẽ cố gắng học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, đặc
biệt học hỏi kinh nghiệm từ các anh chị cùng nhóm chuyên môn để không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
Thứ hai, tôi sẽ cố gắng học hỏi và tự học về công nghệ thông tin để
phục vụ thiết kế những bài giảng ngày một hấp dẫn , bổ ích hơn.
Thứ ba, tôi sẽ hợp tác với học sinh nhiều hơn nữa để phát huy hết năng
lực tư duy của các em.
Thứ tư, tôi sẽ tích cực tìm hiểu thêm nhiều tài liệu tham khảo từ nhiều
nguồn khác nhau để trang bị cho học sinh nhiều kiến thức phong phú hơn để
4. Bộ giáo dục và đào tạo : Sách giáo viên Lịch Sử 10 – Nhà xuất bản
Giáo dục năm 2006.
Xác nhận của đơn vị
Minh Phú, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Tôi xin cam đoan sáng kiến này là của tôi
viết không sao chép của người khác.
Người viết
25