LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin trân thành cảm ơn TS. Lê
Xuân Đắc, Viện công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ
Việt Nam đã luôn tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề
tài. Tôi xin trân thành cảm ơn toàn thể cán bộ Trại Thực nghiệm sinh học - Viện
Công nghệ sinh học đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành
khóa luận.
Tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Như Toản đã có những đóng góp quý báu
trong quá trình tôi thực hiện đề tài. Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2, đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm
nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và
các bạn bè - những người luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Tô Thị Hải
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả trong luận văn tốt nghiệp này đều là sự thực, do
tôi thu thập số liệu từ thực nghiệm và qua xử lý thống kê, hoàn toàn không có sự
sao chép hay bịa đặt.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Tô Thị Hải
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BAP
KTST
Kích thích sinh trưởng
NAA
α - Naphthalen Acetic Acid
TB
Trung bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG 1.............................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU..........................................................................................3
CHƯƠNG 2...........................................................................................................22
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................22
CHƯƠNG 3...........................................................................................................29
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN..................................................................................29
PHỤ LỤC...............................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................40
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Âu.....................16
Bảng 2. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Á.......................17
Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam.................17
được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Củ khoai tây chứa trung bình 25% chất
khô, trong đó các chất dinh dưỡng quan trọng như: Tinh bột 80 - 85%, protein
3%, nhiều loại vitamin A, B1, C, B6, PP... Với giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao,
khoai tây là một trong bốn cây lương thực quan trọng xếp sau lúa, ngô và khoai
lang. Ở Việt Nam, khoai tây là cây vụ đông quan trọng trong công thức luân
canh lúa xuân - lúa mùa sớm - khoai tây. Với điều kiện khí hậu trong vụ đông ở
đồng bằng sông Hồng, cây khoai tây là cây trồng thích hợp đem lại giá trị kinh
tế cao. Trên thực tế, sản xuất khoai tây nước ta gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
trong công tác giống, dẫn đến năng suất và diện tích trồng hàng năm thấp và
không ổn định. Việt Nam phải nhập 70% - 75% nguồn giống từ Trung Quốc,
15% nguồn giống từ châu Âu, 15% giống sản xuất trong nước. Giống sản xuất
trong nước chủ yếu là theo phương thức tự để, củ giống dễ bị thoái hoá, tăng tỷ
lệ nhiễm bệnh, đặc biệt là virus, làm yếu dần tính chống chịu của khoai tây qua
sinh sản vô tính. Nhập khẩu một lượng lớn khoai tây thương phẩm giá rẻ từ
Trung Quốc làm giống sẽ lan truyền nhiều loại sâu bệnh nguy hại cho cây trồng
khác. Nguồn giống từ châu Âu cho chất lượng tốt nhưng giá giống đắt làm hạn
chế đến hiệu quả kinh tế. Khoai tây là loại cây trồng có khả năng cho năng suất
cao, ở các ruộng thâm canh của nhiều nước năng suất có thể đạt đến hàng trăm
tấn củ/ha. Trong khi đó nước ta năng suất khoai tây chỉ đạt dưới 10 tấn/ha [3];
[23]; [25]; [29].
Như vậy, việc xây dựng hệ thống sản xuất, kiểm định, xác nhận, bảo quản
và cung ứng giống khoai tây sạch bệnh có ý nghĩa rất quan trọng để thúc đẩy sản
xuất khoai tây phát triển. Trong đó phát triển công nghệ sản xuất giống khoai tây
sạch bệnh đóng vai trò then chốt. Hiện nay, kĩ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực
vật là một trong những kĩ thuật rất quan trọng của công nghệ sinh học thực vật.
SVTH: Tô Thị Hải
1
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
Khóa luận tốt nghiệp
K35A-SP Sinh
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Nguồn gốc và phân loại cây khoai tây
Cây khoai tây (Solanum tuberosum. L) có nguồn gốc ở Nam Mỹ. Đầu thế
kỷ XVI những nhà hàng hải người Tây Ban Nha chinh phục Nam Mỹ, đã đem
về trồng ở nước họ. Vào cuối thế kỷ XVI, khoai tây được trồng ở AiLen, Anh,
Italia, Đức, Pháp, Nga…từ đó khoai tây được trồng ở nhiều nước châu Âu khác.
Các nước ở châu Á và châu lục khác biết đến cây khoai tây muộn hơn các nước
ở châu Âu thông qua chính sách thuộc địa của người châu Âu. Đến nay, khoai
tây được trồng rộng rãi ở khoảng 130 nước trên thế giới từ 71 0 vĩ tuyến Bắc đến
400 vĩ tuyến Nam [4]; [5]; [27]; [28].
Ở nước ta, khoai tây được người Pháp mang sang trồng ở một số nơi từ
năm 1890 và chủ yếu trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống khoai tây được
trồng phổ biến trước đây là giống khoai tây ruột vàng Thường tín, giống này có
nguồn gốc từ giống Ackersegen [5]; [30].
Cây khoai tây thuộc họ cà (Solanaceace) là cây ở thể tứ bội (Tetraploid)
(2n=4x=48), có khả năng sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao [5].
2. Đặc điểm sinh học
Đời sống của cây khoai tây có thể chia thành 4 thời kỳ: ngủ, nảy mầm, hình
thành thân củ và thân củ phát triển.
Thời kỳ ngủ: Củ khoai tây sau khi thu hoạch phải được cất giữ một thời
gian dài sau đó mới nảy mầm được, người ta gọi đó là thời kỳ ngủ nghỉ của củ
- Thân cây khoai tây là loại thân bò, có giống có thân đứng. Thân
dài 50 - 60cm. Trên thân có thể mọc các nhánh.
- Lá kép gồm một số đôi lá chét, thường là 3 – 4 đôi.
- Hoa màu trắng, phớt tím, có 5 - 7 cánh hoa lưỡng tính, tự thụ phấn.
Hình 1: Các bộ phận cây khoai tây
- Quả khoai tây tròn hoặc hơi dẹt, nhỏ, màu xanh nhạt hay tím. Trong quả
chứa hạt nhỏ. Hạt màu vàng nhạt trong hạt có nhiều dầu. Cây con sau khi mọc
khỏi mặt đất 7 - 10 ngày thì trên các đốt đoạn thân, nằm trong đất xuất hiện
SVTH: Tô Thị Hải
4
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
Khóa luận tốt nghiệp
K35A-SP Sinh
những nhánh con. Đó là những đoạn thân địa sinh. Các thân địa sinh này phát
triển được dồn về tập trung ở đầu mút, ở đây thân phình to dần lên và phát triển
thành củ. Trên thân củ có nhiều mắt [4]; [23]; [10].
3. Giá trị của cây khoai tây
Ở nhiều nước trên thế giới, khoai tây được coi là một trong năm loài cây
lương thực quan trọng: lúa mì, lúa nước, ngô, đại mạch và khoai tây. So với
nhiều loài cây trồng khác, khoai tây có thành phần hoá học quý và khả năng sử
dụng đa dạng. Củ khoai tây chứa trung bình khoảng 25% chất khô, trong đó 80 85% tinh bột, 3% protein, có nhiều vitamin: A, B1, B6, PPs… và nhiều
nhất là vitamin C (20 - 200mg /100g khối lượng tươi). Ngoài ra, còn có các
4. Kĩ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật trong nhân giống in vitro
4.1. Cơ sở khoa học của kĩ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật
- Tính toàn năng của tế bào
Năm 1902, Haberlandt G (nhà khoa học người Đức) đưa ra giả thiết về tính
toàn năng của tế bào thực vật. Ông cho rằng tất cả các tế bào đều có tính toàn
năng (totipotency), nghĩa là mỗi tế bào đều mang toàn bộ lượng thông tin di
truyền của cơ thể và có khả năng phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh khi gặp
điều kiện thuận lợi.
Đến năm 1922, Kotte và Robbins đã nuôi được đỉnh sinh trưởng từ đầu rễ
một cây hoà thảo trong 12 ngày. Như vậy, lần đầu tiên tính toàn năng của tế bào
được chứng minh bằng thực nghiệm. Từ đó đến nay, rất nhiều công trình nghiên
cứu đã tạo được cây hoàn chỉnh từ một tế bào riêng lẻ, một khối mô hay từ một
phần của cơ quan. Điều đó khẳng định tính toàn năng của tế bào thực vật là cơ
sở khoa học của nuôi cấy mô, tế bào thực vật
- Sự phân hoá và phản phân hoá của tế bào.
Phân hoá là sự biến đổi của tế bào từ trạng thái tế bào phôi cho đến khi thể
hiện một chức năng nào đó.
Các tế bào dùng trong môi trường cấy đều đã phân hoá về cấu trúc và chức
năng. Trong những điều kiện thích hợp, có thể làm cho những tế bào này trở lại
trạng thái của tế bào đầu tiên đã sinh ra chúng - tế bào phôi và quá trình đó gọi
là quá trình phản phân hoá.
Trong cùng một cơ thể, mỗi tế bào đều có khả năng phân hoá, phản phân
hoá và vì thế triển vọng nuôi cấy thành công cũng khác nhau. Những tế bào càng
chuyên hoá về một chức năng nào đó (đã phân hoá sâu) thì càng khó xảy ra quá
trình phân hoá và ngược lại, như các tế bào mạch dẫn ở thực vật, tế bào thần
kinh động vật. Người ta đã tổng kết rằng: Những tế bào càng gần trạng thái của
tế bào phôi bao nhiêu thì khả năng nuôi cấy thành công càng cao bấy nhiêu .
SVTH: Tô Thị Hải
6
(cây cho nguồn mẫu nuôi cấy). Các cây này cần phải sạch bệnh, đặc biệt là bệnh
virus và ở giai đoạn sinh trưởng mạnh. Việc trồng các cây mẹ trong điều kiện
môi trường thích hợp với chế độ chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả trước
khi lấy mẫu cấy sẽ làm giảm tỷ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và sinh
trưởng của mẫu cấy in vitro [26].
SVTH: Tô Thị Hải
7
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
Khóa luận tốt nghiệp
K35A-SP Sinh
Bước 2: Nuôi cấy khởi động
Là giai đoạn khử trùng đưa mẫu cấy in vitro. Giai đoạn này cần đảm bảo
các yêu cầu: tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và sinh trưởng tốt.
Khi lấy mẫu cần chọn đúng loại mô, đúng giai đoạn phát triển của cây.
Quan trọng nhất là đỉnh chồi ngọn, đỉnh chồi nách và sau đó là đỉnh chồi
hoa và cuối cùng là đoạn thân, mảnh lá,…chồi ngọn, chồi nách được sử dụng để
nhân nhanh các cây: măng tây, dứa, khoai tây, thuốc lá, hoa cúc…, ở súp lơ thì
dùng hoa tự non, ở bầu bí các mảnh lá mầm là nguyên liệu nuôi cấy thích hợp để
nhân nhanh in vitro. Chồi non nảy mầm từ hạt cũng có thể sử dụng làm
mẫu cấy [32].
Bước 3: Nhân nhanh
Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng nhanh số
lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo chồi bất định và tạo
số rễ, chiều cao cây).
- Có giá thể tiếp nhận cây in vitro thích hợp: Giá thể sạch, tơi xốp, thoát
nước. Phải chủ động điều chỉnh được độ ẩm, sự chiếu sáng của vườn ươm cũng
như có chế độ dinh dưỡng phù hợp [24].
4.3. Phương pháp nhân đa chồi
Trong phương pháp nhân đa chồi, chồi ngọn được tách và nuôi cấy trên
môi trường dinh dưỡng và các chồi bên từ nách lá phát triển dưới ảnh hưởng của
cytokinin với nồng độ cao. Vai trò của cytokinin lúc này là ức chế ưu thế ngọn
để chồi bên phát triển. Các chồi này tiếp tục được chuyển sang môi trường mới
có bổ sung cytokinin thì các chồi mới tiếp tục được tạo ra. Sau đó, các chồi này
được chuyển sang môi trường ra rễ và được đưa ra vườn ươm khi đã có rễ
hoàn chỉnh [15].
Những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành đa chồi:
- Nhu cầu về loại và nồng độ cytokinin khác nhau. Nồng độ cytokinin thay
đổi tùy theo giai đoạn nuôi cấy, thông thường trong quá trình tạo chồi người ta
sử dụng auxin với nồng độ thấp, phối hợp cùng với cytokinin ở nồng độ cao.
Không nên cảm ứng tạo mô sẹo với nồng độ cytokinin quá cao vì có thể tạo ra
chồi bất định mang các đột biến.
- Trong trường hợp chồi bên không tăng trưởng được thì cần phải cắt bỏ
chồi ngọn hoặc làm chết chồi ngọn thì chồi bên mới có thể hoạt động. Khi cấy
chuyển nhiều lần tốc độ sinh khối bị thay đổi [12]; [18].
Hiện nay nhân nhanh bằng phương pháp nhân chồi bên được áp dụng rộng
rãi ở nhiều loài thực vật, quá trình nhân chồi thường được thực hiện theo các
bước sau [9]:
SVTH: Tô Thị Hải
9
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
hình thành rễ. Ngoài IAA, còn có các dẫn xuất của nó là naphthalen acetic
acid (NAA) và 2,4 - diclophenoxy acid (2,4 D). Các chất này cũng đóng vai
trò quan trọng trong sự phân chia của mô và trong quá trình hình thành rễ. NAA
được Went và Thimann (1937) phát hiện. Chất này có tác dụng tăng hô hấp của
tế bào và mô nuôi cấy, tăng hoạt tính enzim và ảnh hưởng mạnh đến trao đổi
chất của nitơ, tăng khả năng tiếp nhận và sử dụng đường trong môi trường.
NAA là auxin nhân tạo, có hoạt tính mạnh hơn auxin tự nhiên IAA. NAA có vai
trò quan trọng đối với phân chia tế bào và tạo rễ. Kết quả nghiên cứu của
Butenko (1964) cho thấy NAA tác động ở mức đô phân tử trong tế bào theo ba
cơ chế: Cơ chế thứ nhất: NAA gắn với phân tử enzim và kích thích enzim hoạt
động. Sarkissian đã phát hiện tác dụng của auxin thích thích hoạt tính của
ATPase; Cơ chế thứ hai: Auxin tác động vào gen và các enzim phân giải axit
SVTH: Tô Thị Hải
10
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
Khóa luận tốt nghiệp
K35A-SP Sinh
nucleic; Cơ chế thứ ba: Auxin tác động thông qua sự thay đổi tính thẩm thấu của
màng. Dùng phương pháp đánh dấu phân tử có thể thấy NAA dính kết vào màng
tế bào làm cho màng hoạt động như một bơm proton và bơm ra ngoài ion H+.
Làm màng tế bào mềm và kéo dài ra, do đó tế bào lớn lên và dẫn tới sinh trưởng.
Trong tế bào NAA có tác dụng lên sự tổng hợp acid nucleic. Trong cây auxin
được tổng hợp ở các mô non đặc biệt là lá đang phát triển và vùng đỉnh chồi. Từ
những vùng này auxin được chuyển xuống các phần phía dưới của cây.
K35A-SP Sinh
thời của auxin và cytokinin thì mới kích thích mạnh mẽ sự tổng hợp DNA, dẫn
đến quá trình mitos và cảm ứng cho sự phân chia tế bào. Theo Dmitrieva (1972)
giai đoạn đầu của quá trình phân bào được cảm ứng bởi auxin còn giai đoạn tiếp
theo thì cần tác động tổng hợp của cả hai chất kích thích. Skoog và Miller
(1957) đã khẳng định vai trò của cytokinin trong quá trình phân chia tế bào cụ
thể là cytokinin điều kiển quá trình chuyển pha trong mitos và giữ cho quá trình
này diễn ra một cách bình thường. Cytokinin được tổng hợp bởi rễ và hạt
đang phát triển.
- Gibberellin:
Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người Nhật
Kurosawa (1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm Gibberella Fujikuroi
gây ra. Năm 1939 đã tách chiết được Gibberellin từ nấm G. Fujikuroi và được
gọi là Gibberellin A. Gibberellin có tác dụng kéo dài tế bào, nhất là thân và lá vì
vậy khi xử lý với các cây đột biến lùn và các cây này có thể khôi phục lại bình
thường. GA3 là loại gibberellin được sử dụng nhiều nhất.
Trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật có loại mẫu chỉ cần auxin hoặc
cytokinin, tuy nhiên người ta hay dùng phối hợp cả auxin và cytokinin ở tổ hợp
tỷ lệ khác nhau sẽ cho hiệu quả tốt hơn [20]; [9].
4.5. Kĩ thuật nhân giống khoai tây in vitro
Trồng khoai tây in vitro ở điều kiện vô trùng và hoàn toàn nhân tạo được
gọi là nuôi cấy khoai tây in vitro. Trồng khoai tây ở ngoài đồng ruộng gọi là
trồng khoai tây in vivo. Có loại trồng trọt trung gian giữa hai loại trên, đó là
trồng trọt khoai tây trong nhà kính hoặc nhà lưới. Trồng như vậy gọi là trồng
bán in vitro (semi in vitro) hoặc bán in vivo (semi in vivo). Phương pháp cổ điển
nhân giống khoai tây là sản xuất khoai tây giống ở ngoài đồng. Phương pháp
này thường được gọi là chọn dòng. Phương pháp chọn dòng thường tốn công
sức và thời gian, tốc độ nhân giống chậm. Các công nghệ nhân giống khoai tây
in vitro và bán in vitro đảm bảo nhân giống sạch bệnh với tốc độ nhanh. Hiện
- Sản xuất các đoạn cắt mầm.
- Sản xuất các đoạn cắt thân.
- Sản xuất đoạn cắt chồi lá kép.
- Sản xuất các củ nhỏ (minitubers).
Các củ nhỏ này có thể được sản xuất trên giá thể đông đặc (các khay nhựa
hoặc bồn xi măng có chứa hỗn hợp mùn và đất sạch đã được khử trùng với tỷ lệ
thích hợp) hoặc trên giá thể lỏng thường được gọi là thủy canh (hydroponic
culture).
Nhân giống tiền gốc và giống gốc:
Trên thế giới, trong một hệ thống nhân giống chuẩn càng giảm được số vụ
trồng ở ngoài đồng càng nhiều càng tốt. Bởi vì, nhân giống ở ngoài đồng hiệu
SVTH: Tô Thị Hải
13
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc
Khóa luận tốt nghiệp
K35A-SP Sinh
quả thấp (do giá chi phí cao), liên tục có sự rủi ro do các bệnh hại chủ yếu như
các loại virus, vi khuẩn, nấm và các loại sâu hại.
Trong sản xuất giống khoai tây, điều mong muốn nhất là giống phải có độ
sạch bệnh cao, ít sử dụng hóa chất độc hại cho môi trường và giống thương mại
phải được sản xuất ra từ giống gốc tạo ra bằng điều kiện nhân tạo.
Trong trường hợp nguồn củ giống của một số giống phổ biến bị thoái hóa
và cần phải được tái tạo từ một số ít vật liệu giống sạch bệnh, việc nhân nhanh
Cây bị nhiễm bệnh
Nuôi cấy mô phân sinh (0,3 - 1,5mm)
- Xử lý nhiệt độ tiếp
- Xử lý hóa chất
- Điều kiện nuôi cấy thích
hợp
Nuôi cấy trên môi trường thích hợp
Tái sinh cây
Chăm sóc tốt
Trồng trên vườm ươm
Xét nghiệm virus bằng:
- Cây chỉ thị
- Kính hiển vi điện tử
- Ghép
- Huyết thanh, ELISA
Cây sạch bệnh
- Duy trì sự sạch bệnh
(giám sát, cách ly)
- Nhân nhanh bằng nhiều
phương pháp
Người sử dụng
(Tấn/ha)
(Triệu tấn)
2000
9,13
16,30
148,82
2001
8,86
15,50
137,33
2002
8,39
15,50
130,05
2003
8,20
15,96
130,87
2004
8,01
17,67
141,54
2005
7,81
16, 81
131,29
Năm 2000, cả châu Âu trồng được 9,13 triệu ha, nhưng đến năm 2005 chỉ
còn 7,81 triệu ha. Năng suất khoai tây ở châu Âu không ngừng được nâng cao.
Tuy nhiên, năm 2005 năng suất khoai tây giảm nhẹ so với 2004.
Châu Á có nền sản xuất khoai tây lớn thứ 2 sau châu Âu, tập trung ở các
120,99
2001
7,84
15,10
118,38
2002
7,75
15,60
120,90
2003
7,80
15,76
122,93
2004
7,98
16,53
131,91
2005
7,86
16,38
128,75
Sản xuất khoai tây của châu Á khá ổn định, năm 2000 có 7,96 triệu ha, năm
2002 diện tích trồng khoai tây thấp nhất 7,75 triệu ha, giảm 0,21 triệu ha, đến
2005 cả châu lục trồng được 7,86 triệu ha, gần bằng diện tích khoai tây của châu
Âu. Năng suất khoai tây bình quân được tăng lên hàng năm và thấp hơn năng
suất bình quân của châu Âu không đáng kể [16]; [25].
6.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam
Hiện nay khoai tây được coi là một trong những loại “thực phẩm sạch”, là
một loại nông sản hàng hoá được lưu thông rộng rãi. Với điều kiện khí hậu trong
vụ đông ở miền Bắc Việt Nam thì cây khoai tây được xem là cây trồng lý tưởng.
28.022
11,27
315.807,94
2001
30.000
10,53
315.900,00
2002
32.102
11,76
377.519,52
2003
33.887
10,69
362.252,03
2004
34.000
10,74
365.160,00
2005
35.000
10,57
369.160,00
Bên cạnh sự tăng lên về diện tích thì trong giai đoạn gần đây (2000 - 2005)
năng suất lại có xu hướng biến động thất thường. Trong những năm 1976 - 1990
năng suất chỉ đạt dưới 10 tấn/ha, dao động khoảng 10 tấn/ha trong những năm
1991 - 1998 và đạt 11 - 12 tấn/ha vào những năm 1999 - 2002. Từ 2002 - 2005,
năng suất giảm xuống chỉ còn khoảng 10 - 11 tấn/ha. Năng suất khoai tây của
nước ta chỉ bằng 61,3 % năng suất bình quân chung của thế giới, bằng 62,9%
năng suất bình quân của châu Âu. Sự tăng năng suất và diện tích khoai tây của
Trạm Sapa (Lào Cai) ở độ cao 1500m so với mặt biển: sản xuất các củ siêu
nhỏ (microtubers) và các cây trong ống nghiệm bằng phương pháp in vitro
(giống tiền gốc). Đồng thời tăng cường sản xuất củ nhỏ (minitubers) bằng
phương pháp bán in vitro (semi in vitro), củ giống gốc Go. Cơ sở sản xuất giống
trên đồng ruộng (lúa nước) cách ly tại các vùng cao phía Bắc có độ cao từ
1000m so với mặt biển trở lên: sử dụng củ nhỏ sản xuất ở Sapa để sản xuất ra củ
giống gốc sạch bệnh (G1). Ở đây có kết hợp phương pháp chọn lọc quần thể thải
loại các cây bị bệnh virus. Cũng có thể sản xuất củ giống G1 ở chân ruộng lúa
nước tại các vùng đồng bằng ven biển hoặc hải đảo của tỉnh Quảng Ninh. Xây
dựng mạng lưới các Hợp tác xã tiên tiến ở ĐBSH (Thái Bình, Nam Định, Hà
Tây và Hưng Yên) để sản xuất ra giống xác nhận (G 2 và G3) trong vụ xuân nhằm
cung cấp giống cho nông dân. Ở những địa điểm nhân giống này, phương pháp
chọn lọc quần thể thải loại các bệnh virus phải được áp dụng nghiêm ngặt. Tất
cả các củ giống thuộc các cấp giống đều có sự kiểm định và xác nhận của Trung
tâm Khảo nghiệm Giống cây trồng Trung ương. Hệ thống sản xuất giống nói
trên bao gồm các cấp giống: giống tiền gốc (các vật liệu in vitro như microtubers
và các cây trong ống nghiệm), giống gốc bao gồm giống G o (củ nhỏ sản xuất
trong nhà lưới hoặc sản xuất bằng phương pháp thuỷ canh trong nhà lưới), giống
G1 (giống nguyên chủng sản xuất trên đồng ruộng cách ly ở vùng cao hoặc Hải
đảo thuộc vùng Đông Bắc), G 2 và G3 (giống xác nhận sản xuất ở các vùng cách
ly thuộc ĐBSH). Số thế hệ nhân giống chỉ là 4 đời (sau đời tiền gốc). Điều này
phù hợp với ý kiến cho rằng các điều kiện ở ĐBSH là không thuận lợi cho việc
nhân giống. Tốc độ thoái hoá giống nhanh ngăn cản việc nhân giống có chất
lượng [17].
SVTH: Tô Thị Hải
19
GVHD: TS. Lê Xuân Đắc