Trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu bên cạnh những nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ từ thầy cô, gia đình, bạn bè và các cán bộ
làm việc tại cơ quan thực tập.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
Thầy giáo PGS.TS. Bùi Dũng Thể đã tận tình giúp đỡ, đònh hướng đề tài, cung cấp
những tài liệu cần thiết và những chỉ dẫn hết sức quý báu đã giúp tôi giải quyết
những vướng mắc gặp phải.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học kinh tế Huế, là những
người trong suốt quá trình học đã truyền thụ kiến thức chuyên môn làm nền tảng
vững chắc để tôi hoàn thành tốt khóa luận.
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các bác, các chú và các anh chò đang
công tác tại Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Trò đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
quá trình thực tập, nghiên cứu. Xin cảm ơn 75 hộ gia đình tại các xã trên đòa bàn
huyện Gio Linh đã nhiệt tình cộng tác trong suốt thời gian phỏng vấn và điều tra số
liệu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình và bạn bè đã luôn bên
cạnh, ủng hộ và động viên trong những lúc khó khăn, giúp tôi có thể hoàn thành tốt
công việc học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù bản thân đã cố gắng và tâm huyết với công việc nhưng chắc chắn không
tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp và động viên của
Thầy, Cô và các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1
1
Hueỏ, thaựng 05 naờm 2015
Sinh vieõn
KT-XH
Kinh tế - xã hội
NĐ-CP
Nghị định-Chính phủ
UBND
Ủy ban nhân dân
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
VSV
Vi sinh vật
4
DANH MỤC BẢNG
5
5
6
6
Để thực hiện được mục tiêu trên cần các dữ liệu phục vụ nghiên cứu là:
Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, từ Chi cục Bảo vệ môi trường
Quảng Trị, Phòng TN&MT huyện Gio Linh, UBND huyện Gio Linh, từ điều tra
phỏng vấn các các hộ dân trên địa bàn huyện, các chuyên viên tại Chi cục,…
Tham khảo từ sách, báo, mạng Internet,…
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu:
-
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp phỏng vấn, chuyên gia chuyên khảo
Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 75 hộ dân xung quanh
3/10 điểm ô nhiễm được chọn làm đại diện nghiên cứu trên địa bàn huyện và được
thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ dân với bảng hỏi được thiết kế và
chuẩn bị sẵn cho mục đích nghiên cứu. Ngoài ra, còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối
với các chuyên gia tại Chi cục Bảo vệ môi trường, Phòng TN&MT huyện Gio Linh,…
Đề tài nghiên cứu đã đạt được một số kết quả sau:
-
Nắm bắt được thực trạng ô nhiễm từ các điểm tồn lưu thuốc BVTV trên địa bàn huyện,
cụ thể là các điểm ô nhiễm này đều có các chỉ tiêu vượt quá quy chuẩn cho phép, như
chỉ tiêu DDT, chỉ tiêu 666,..không chỉ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác
động đáng kể đến sinh kế, sức khỏe của các hộ dân theo hướng tiêu cực và đã có
Nước ta là nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân và nông nghiệp
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Với khí hậu nhiệt đới nóng và
ẩm thuận lợi cho sự phát triển cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát
triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do đó, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
(BVTV) được xem là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Khi nền nông nghiệp càng
phát triển, đi vào thâm canh, sản xuất hàng hoá thì vai trò của công tác bảo vệ thực vật,
đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng quan trọng đối với sản xuất.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chất
lượng môi trường sống nước ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề “nóng” về suy
thoái đất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, phá rừng và suy giảm đa dạng sinh
học… Một trong số đó là tình trạng ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực
vật tồn lưu, nó đã và đang trở nên nghiêm trọng.
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, các loại thuốc BVTV đã được sử dụng
từ nhiều năm trước đây. Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, phát triển của
sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc BVTV
chưa nhiều. Bên cạnh đó, do thiếu thông tin và chủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn
nên người dân đã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong
môi trường. Trong đó, đặc biệt nguy hiểm là nhóm hữu cơ khó phân hủy (POP). Nhóm
chất này bao gồm: aldrin, chlordane, DDT, 666... những chất này hiện nay đã bị cấm
sử dụng. Ngày nay, khi điều kiện khoa học kĩ thuật phát triển hơn, nhiều loại thuốc đã
đưa vào danh mục cấm sử dụng trên cả nước do mức độ nguy hại của nó, các hộ dân
cũng đã thay dần bằng các loại thuốc BVTV thế hệ mới có độc tính thấp, ít tồn lưu
trong môi trường. Từ đó dẫn tới tình trạng tồn đọng nhiều kho thuốc BVTV không
được sử dụng và quá hạn với số lượng nhiều và đa dạng về chủng loại, gây ra những
ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và cuộc sống của người dân.
9
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
10
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Khóa luận tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
4.1.1. Số liệu thứ cấp
Thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau của các cơ
quan ban ngành cấp tỉnh, huyện, xã trên địa bàn như Sở TN&MT tỉnh Quảng Trị, Chi
cục Bảo vệ môi trường tỉnh, UBND huyện Gio Linh, phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Gio Linh,…Ngoài ra, đề tài còn tổng hợp nhiều tài liệu từ các báo cáo, nghiên
cứu khoa học, sách, báo và những tài liệu có liên quan.
4.1.2. Số liệu sơ cấp
- Sử dụng phiếu điều tra: 75 phiếu điều tra đối với cán bộ xã, hợp tác xã, hoặc là cán
bộ quản lý các kho thuốc BVTV trước đây và người dân xung quanh các điểm ô nhiễm.
- Phương pháp điều tra: Việc thu thập số liệu được thực hiện bằng cách phỏng
vấn trực tiếp dựa vào bảng hỏi được thiết kế và chuẩn bị sẵn cho mục đích nghiên cứu.
Ngoài ra, phỏng vấn trực tiếp cán bộ ban ngành có liên quan để lấy thông tin.
4.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Những số liệu thu thập được từ điều tra, các tài liệu liên quan khác, số liệu phân
tích sẽ được xử lý bằng phương pháp thống kê, liệt kê và các bảng biểu thông qua các
phần mềm Exel, word, SPSS,…
4.3. Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành khảo sát trực tiếp bằng cách quan sát, chụp ảnh, ghi chép ý kiến
người dân,…
4.4. Phương pháp phỏng vấn, chuyên gia chuyên khảo
Thông qua các buổi trao đổi, gặp gỡ và thảo luận với các cán bộ địa phương, các
chuyên viên tại Chi cục Bảo vệ môi trường và thầy giáo hướng dẫn nhằm thu thập
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm về thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)[4]
Là những hợp chất hoá học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất
kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng, …), những chất có nguồn gốc
thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại
của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm,
vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …).
Theo qui định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm
theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng
phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những
chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô
cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông
vải, khoai tây bằng máy móc, …). Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút
các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.
Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại. Sở dĩ gọi
là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng,
nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại, …) có một tên chung là những
dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại.
Thuốc BVTV bị cấm sử dụng
Bao gồm những loại thuốc có độ độc tính quá cao hoặc có khả năng gây ung thư,
gây quái thai, sẩy thai hay tồn lưu lâu trong môi trường, gây nguy hiểm lớn cho môi sinh.
Thuốc BVTV hạn chế sử dụng
và da như sau:
Bảng 1. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại (theo quy định của WHO)
Trị số LD50 của thuốc (mg/kg)
Qua miệng
Qua da
Thể rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng
I.a. Độc mạnh
≤5
≤20
≤10
≤40
I.b. Độc
5-50
20-200
10-100
40-400
II. Độc trung bình
50-500
200-2000
100-1000
400-4000
III. Độc ít
500-2000
2000-3000
>1000
>4000
IV. Độc rất nhẹ
Vạch màu
Rất độc
Đầu lâu xương chéo
Đỏ
Độc cao
Chữ thập chéo trong hình thoi vuông
Vàng
Nguy hiểm Đường chéo hình thoi vuông không liền nét
Xanh nước biển
Cẩn thận
Không biểu tượng
Xanh lá cây
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[4]
Bảng 3. Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại
LD50 qua miệng (mg/kg)
LD50 qua da (mg/kg)
LD50 qua hô hấp (mg/l)
Phản ứng niêm mạc mắt
Phản ứng da
Nhóm độc
Báo động
Cảnh báo
Nguy hiểm (I)
(II)
(III)
>20000
>20
Không gây
ngứa niêm
mạc
Phản ứng
nhẹ
72 giờ
( Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[4]
1.1.2.2. Phân loại theo đối tượng phòng chống [2]
- Nhóm các chất trừ sâu, trừ nhện, trừ côn trùng gây hại:
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion,
15
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Khóa luận tốt nghiệp
Monitor...
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin
Các chất hay hỗn hợp này có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại
côn trùng nào có mặt trong môi trường. Chúng được dùng để diệt trừ hay ngăn ngừa tác
hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người.
Trong thuốc trừ sâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng
người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non.
-
Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm: Photphua kẽm và Warfarin
Là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học
và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng,
trong nhà và các loài gậm nhấm. Thuốc tác động chủ yếu bằng con đường vị độc và
xông hơi.
1.1.2.3. Dựa vào con đường xâm nhập ( hay tác động của thuốc) đến dịch hại
Bảng 4. Phân loại hóa chất theo đường xâm nhập
Loại chất độc
Chất độc tiếp xúc
Con đường xâm nhập
Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại. Thuốc sẽ phá hủy bộ máy
thần kinh của dịch hại như Bassa, Mipxin,…
Chất độc vị độc
Là thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua
đường tiêu hóa của dịch hại như 666, Dupterex,…
Chất độc xông hơi Là loại thuốc có khả năng bốc hơi, đầu độc bầu không khí bao
xung quanh cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp.
Chất độc nội hấp
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua lá, thân, rễ, cành…
rồi được vận chuyển tích lũy trong hệ thống dẫn nhựa của cây,
tồn tại trong đó một thời gian và gây chết cơ thể sinh vật.
Chất độc thấm sâu Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ
yếu theo chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống ẩn
nấp trong tổ chức tế bào thực vật như Wofatox…
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[4]
1.1.2.4. Dựa vào gốc hóa học [2]
- Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng mau phân hủy trong môi trường.
17
18
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Khóa luận tốt nghiệp
người. Dựa vào độ bền vững của chúng, có thể sắp xếp chúng vào các nhóm sau:
Bảng 5. Phân loại thuốc BVTV theo thời gian phân hủy
ST
T
Thời gian
phân hủy
Phân nhóm
1
Nhóm hầu như
-
Các hợp chất hữu cơ có chứa kim loại: Thủy
ngân, Asen…Loại này đã bị cấm sử dụng
không phân hủy
2
Nhóm khó phân hủy
Nhũ dầu
ND, EC
Dung dịch
DD, SL, L, AS Bonanza 100 DD,
Baythroid 5 SL,
Glyphadex 360 AS
Bột
nước
hòa BTN, BHN,
WP, DF,
WDG, SP
Tilt 250 ND,
Basudin 40 EC,
DC-Trons Plus 98.8 EC
Viappla 10 BTN,
Vialphos 80 BHN,
Copper-zinc 85 WP,
Padan 95 SP
Ghi chú
Thuốc ở thể lỏng, trong
suốt.
Chủ yếu rãi vào đất, làm
19
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Khóa luận tốt nghiệp
Thuốc
phun bột
BR, D
Deadline 4% Pellet
bả mồi.
Karphos 2 D
Dạng bột mịn, không tan
trong nước, rắc trực tiếp
1.1.4. Những tác động của thuốc BVTV
1.1.4.1. Tác động tích cực
- Tiêu diệt dịch hại nhanh, triệt để và chắc chắn.
- Ngăn chặn dịch hại, nhất là những trường hợp dịch hại phát sinh thành dịch, đe
dọa nghiêm trọng đến năng suất cây trồng mà các biện pháp khác không thể cản nổi.
- Trong thời gian ngắn có thể sử dụng trên diện rộng.
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ năng suất, giá trị thẩm mĩ của nông sản.
8
9
Loại thuốc trừ sâu
Aldrin
Toxaphene
Chlordan
DDT
Dieldrin
Endin
HCB
Heptachlor
Mirex
Thời gian bán phân hủy
5 -10 năm
3 tháng - 12 năm
2 – 4 năm
10-15 năm
5 năm
>12 năm
3-6 năm
>2 năm
>10 năm
(Nguồn: http://www.greenpeaca.org)
- Ảnh hưởng đến môi trường nước
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường nước theo rất nhiều cách:
+ Khi sử dụng cho đất chúng sẽ thấm vào nước thông qua môi trường đất
+ Dùng trực tiếp thuốc để diệt côn trùng trong nước.
chống đổ, chống chịu bệnh…
Tuy nhiên, nếu sử dụng thuốc không đúng sẽ dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến
cây trồng như:
+ Làm giảm tỉ lệ nảy mầm, rễ không phát triển, cây còi cọc, màu lá biến đổi, cây
chết non
+ Lá bị cháy, bị thủng, lá non và ngọn cây bị biến dạng, hoa quả bị rụng nhiều,
quả nhỏ, chín muộn,…
+ Giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
- Ảnh hưởng đến con người và động vật máu nóng
Các loại thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng. Trong quá trình
dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám
chặt trên lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc.
Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh nên gây khó chịu, mệt mỏi, thậm
chí choáng ngất cho người trực tiếp phun thuốc trên đồng ruộng, nhất là trong trường
hợp không có các biện pháp phòng tránh tốt.
Thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau như: tiếp
xúc qua da, ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, môi trường bị ô
nhiễm…
– Ngộ độc cấp tính: xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng lớn,
22
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Khóa luận tốt nghiệp
phá hủy mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng rõ ràng, gây
nhiễm độc tức thời.
– Ngộ độc mãn tính: xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ,
nhiều lần, trong thời gian dài, được tích lũy lại trong cơ thể sinh vật, những triệu chứng
được thể hiện chậm, lâu dài, gây tổn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh
tướng Chính phủ;
- Quyết định số 1946/2010/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu trên
cả nước;
- Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 02/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi
trường giai đoạn 2012 - 2015;
- Quyết định số 89/2006/QĐ-BNNngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy định về quản lý thuốc BVTV;
- Thông tư 24/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/4/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn về việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế
sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam;
- Thông tư số 46/2010/TT-BNNPTNT ngày 22/7/2010 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số
24/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/4/2010 về việc ban hành Danh mục thuốc BVTV
được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam;
- Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 03/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường
cần phải xử lý;
1.2.2. Thực trạng quản lý các điểm ô nhiễm thuốc BVTV tồn lưu ở Việt Nam
1.2.2.1. Thực trạng tồn lưu thuốc BVTV ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV sử dụng rộng rãi từ những năm 1950. Đầu tiên là dùng
DDT-666 để trừ sâu. Tiếp đến là một số loại thuốc có chứa thủy ngân hữu cơ, sau đó
là nhóm lân hữu cơ và carbonat. Trước năm 1975, nước ta có một số nhà máy sản xuất
và gia công các bột 666 để phun đắp cho các loại cây, đa phần các hóa chất đều được
nhập từ nước ngoài, các cơ sở tư nhân trong nước sẽ chế biến hóa chất dạng bột sang
dạng thấm nước, dung dịch,…
24
SVTH: Phạm Thị Mai Dung
Kết quả điều tra, thống kê mới đây của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
25
SVTH: Phạm Thị Mai Dung