ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
LÊ THỊ MAI PHƯƠNG
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
hiểu rõ hơn về môi trường làm việc thực tế của một cơ quan
hành chính sự nghiệp mà ngồi trên ghế nhà trường tôi chưa
được biết, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi
có thể tìm hiểu và thu thập thông tin phục vụ cho bài báo
cáo này.
3
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình,
người thân, bạn bè đã luôn tin tưởng, ủng hộ và giúp đỡ tôi
trong thời gian qua.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm
2015
Lê Thị Mai Phương
4
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
MỤC LỤC
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
NSNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh trong thời gian tới.
Nguồn dữ liệu: thu thập số liệu từ các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã
hội huyện, các báo cáo về tình hình đầu tư XDCB của huyện, tham khảo ý kiến của
các nhà quản lý về vấn đề sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Điều
tra khảo sát, so sánh phân tích, tổng hợp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện
tuy không phải là nhiều nhưng đã giúp nền kinh tế của huyện tăng trưởng hơn trong nhiều
năm, đưa mức sống của người dân tăng lên, tuy nhiên hiệu quả quản lý vốn chưa cao.
Nguyên nhân dẫn đến quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN chưa đạt hiệu quả cao
là do: đầu tư dàn trải, nợ đọng vốn đầu tư, chất lượng công trình còn thấp, thất thoát lãng
phí; chất lượng công tác hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển KT – XH của
huyện còn hạn chế; mối quan hệ giữa quy hoạch và GPMB còn nhiều khiếm khuyết và
nhiều chủ đầu tư không có chuyên môn trong lĩnh vực đầu tư XDCB.
Đề tài cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn
vốn này trong thời gian tới như: nâng cao chất lượng quy hoạch đầu tư xây dựng cơ
bản; nâng cao công tác lựa chọn nhà thầu và tổ chức thầu, chỉ định thầu; nâng cao
công tác quản lý thi công xây dựng công trình; tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo
cán bộ làm công tác quản lý đầu tư; thực hiện tốt công tác giám sát cộng đồng và công
khai tài chính trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước; nâng
cao chất lượng giải phóng mặt bằng, tái định cư; chủ động phát hiện tiêu cực, tham
nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB ở huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới.
Nhiệm vụ:
- Khái quát cơ sở lý luận và quy định quản lý hiện hành về vốn đầu tư XDCB.
- Phân tích đánh giá thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư XDCB của huyện Vĩnh
-
Linh từ năm 2013-2015.
Đề xuất một số giải pháp chủ yêu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB
huyện Vĩnh Linh.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu gồm: Điều tra khảo sát, so sánh phân
tích, tổng hợp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề liên quan đến việc quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB ở huyện Vĩnh Linh.
Phạm vi nghiên cứu:
Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư XDCB của huyện Vĩnh Linh giai
đoạn 2013 - 2015
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu , kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục chuyên đề
(TSCĐ) cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa
hoặc khôi phục các TSCĐ.
XDCB là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
các TSCĐ có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông
qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay
khôi phục các TSCĐ. XDCB chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB. XDCB là
các hoạt động cụ thể để tạo ra TSCĐ.
Đầu tư XDCB là một hoạt động của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến
hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các
TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Nói cách
khác, đó là việc bỏ vốn vào việc xây dựng, mua sắm TSCĐ trong lĩnh vực sản xuất
(nhà xưởng, thiết bị, máy móc) và trong lĩnh vực không sản xuất vật chất (nhà ở, bệnh
viện, trường học...) và trong lĩnh vực 0thuộc cơ sở hạ tầng (cầu đường, bến cảng, sân
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
bay). Đầu tư XDCB bao gồm cả việc xây dựng các xí nghiệp, công trình sẵn có (không
kể các chi phí sửa chữa, kể cả sữa chữa lớn TSCĐ). Do vậy, đầu tư XDCB là tiền đề
quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH của nền kinh tế nói chung và của các cơ
sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra TSCĐ
đưa vào hoạt động trong lĩnh vực KT - XH, nhằm thu được lợi ích.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư XDCB là một bộ phận của đầu tư phát triển, do đó nó cũng mang những
đặc điểm của đầu tư phát triển. Bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản
xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Đầu tư XDCB chính là một phần
dụng. Sản phẩm XDCB chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy, để đạt
được hiệu quả sử dụng vốn phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình
được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực
kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh... nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi
loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Vì vậy khi tiến hành
hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý
quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải quy định rõ phạm vi, trách nhiệm của các chủ thể
tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình
thực hiện đầu tư.
1.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Vốn là toàn bộ giá trị về đầu tư để tạo ra các sản phẩm nhằm mục tiêu thu nhập
trong tương lai. Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu
tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư được gọi là chi phí đầu tư.
Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hành
được đều phải có VĐT, VĐT là nhân tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản
xuất kinh doanh. Nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự
án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước.
Theo định nghĩa chung nhất thì vốn đầu tư XDCB bao gồm: chi phí cho việc
khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua
sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác theo một dự án nhất định.
Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sử
dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là vốn đầu tư XDCB từ NSNN.
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
Từ những đặc điểm chung đó, có thể đi sâu phân tích một số đặc điểm cụ thể của
vốn đầu tư XDCB từ NSNN như sau:
Một la, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà
nước trực tiếp tác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Bằng việc cung
cấp các dịch vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh, quốc phòng... mà các thành
phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không đầu tư; các dự án đầu tư từ
NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất đảm bảo cho nền KT XH phát tiển ổn định theo hướng XHCN.
Nhìn trên giác độ toàn nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác động đến tổng
cung vừa tác động đến tổng cầu.
Hai la, đầu tư XDCB của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò rất quan trọng, bởi
vì vốn dành cho đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu
tư XDCB của toàn xã hội. Đầu tư XDCB của nhà nước góp phần khắc phục những thất
bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấu đầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội. Mặt
khác đầu tư XDCB của Nhà nước được tập trung vào những công trình trọng điểm, sử
dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tác động mạnh đến đời sống KT- XH. Bên cạnh đó
cũng cần phải thấy rằng đầu tư XDCB của Nhà nước nếu không được quản lý một
cách hợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ các
nguồn vốn khác.
Ba la, vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với hoạt động NSNN nói chung và hoạt
động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi NSNN
-
mạng lưới điện, hệ thống cấp nước v.v…
Dự án cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực hay sản
-
phẩm.
Dự án hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà
nước theo quy định của pháp luật.
Sáu la, vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng. Căn cứ tính chất, nội dung, đặc
điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư XDCB mà người ta phân thành các loại
vốn như: Vốn để thực hiện các dự án quy hoạch, vốn để chuẩn bị đầu tư, vốn thực hiện
đầu tư. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có thể được sử dụng cho xây dựng mới hoặc sửa
chữa lớn; xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc mua sắm thiết bị.
Bảy la, nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm cả nguồn bên
trong quốc gia chủ yếu là từ thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước như bán tài
nguyên, cho thuê tài sản quốc gia, thu từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
quốc doanh. Các nguồn từ bên ngoài chủ yếu từ nguồn vay nước ngoài, hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) và một số nguồn khác.
Cuối cùng, chủ thể sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng, bao gồm cả
các cơ quan nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước, nhưng trong đó đối tượng sử
dụng nguồn vốn này chủ yếu vẫn là các tổ chức nhà nước.
1.2.3. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
văn hóa, xã hội góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nông thôn, vùng sâu vùng xa.
1.2.4. Nội dung quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Đối tượng quản lý: Nếu xét về mặt hiện vật thì đối tượng quản lý chính là vốn
đầu tư XDCB của NSNN. Nếu xét về cấp quản lý thì đối tượng quản lý vốn đầu tư
XDCB từ NSNN là cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB cấp dưới.
Chủ thể quản lý: Là tổng thể các cơ quan quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
với cơ cấu tổ chức nhất định gồm các cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện quản
lý vĩ mô đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN (quản lý tất cả các dự án) và cơ quan Chủ
đầu tư thực hiện quản lý vi mô đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN.
a) Công tác lập quy hoạch
Các dự án đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước được lập hàng năm phải đảm bảo
phù hợp với chủ trương quy hoạch và đầu tư, được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các
dự án được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB
từ NSNN. Các dự án phải được lập dự toán cụ thể chi tiết phục vụ cho việc lập kế
hoạch vốn chung.
b) Công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư
Việc xây dựng kế hoạch vốn luôn gắn liền với xây dựng dự án và phê duyệt các
dự án đầu tư XDCB. Kế hoạch vốn được lập qua nhiều phân cấp từ chủ đầu tư của dự
án đến các Bộ (đối với vốn đầu tư thuộc trung ương quản lý), UBND các cấp (đối với
vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý) và được Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - Đầu tư
có tổng đầu tư lớn, có giá trị về mặt kinh tế, xã hội thì công tác đấu thầu phải tuân thủ
theo quy định của nhà nước hoặc tổ chức cho vay vốn .
e) Công tác thanh toán vốn đầu tư
Nguyên tắc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, nhóm công việc hoặc toàn
bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát thi công và các
hoạt động xây dựng khác phải căn cứ trên khối lượng thực tế hoàn thành và nội dung,
phương thức thanh toán trong hợp đồng đã ký kết. Đối với trường hợp tự thực hiện,
việc thanh toán phù hợp với từng loại công việc trên cơ sở báo cáo khối lượng công
việc hoàn thành và dự toán được duyệt. Cơ quan cấp phát, cho vay vốn có trách nhiệm
thanh toán vốn đầu tư theo đề nghị thanh toán của chủ đầu tư (hoặc đại diện hợp pháp
của chủ đầu tư) trên cơ sở kế hoạch vốn được giao. Chủ đầu tư (hoặc đại diện hợp
pháp của chủ đầu tư) chịu trách nhiệm trước pháp luật về giá trị đề nghị thanh toán với
tổ chức cấp phát, cho vay vốn. Trong quá trình thanh toán vốn đầu tư xây dựng nếu
phát hiện những sai sót, bất hợp lý về giá trị đề nghị thanh toán của chủ đầu tư (hoặc
đại diện hợp pháp của chủ đầu tư) thì các tổ chức cấp phát, cho vay vốn đầu tư phải
thông báo ngay với chủ đầu tư để chủ đầu tư giải trình, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
f) Công tác quyết toán vốn đầu tư
Quyết toán vốn đầu tư là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình
đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp
đồng đã ký kết và thiết kế dự toán được phê duyệt, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, định
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán và những quy định hiện hành của Nhà nước có
liên quan. Quyết toán vốn đầu tư trong giới hạn tổng mức nếu có.
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
tính từng loại chi phí đầu tư xây dựng cũng khác nhau không đúng quy định các văn
bản Nhà nước đã ban hành. Chính vì vậy trong quá trình thẩm tra, phê duyệt quyết
toán dự án hoàn thành cho thấy có những sai phạm thường gặp về cách tính các chi phí
như chi phí xây dựng, tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác không đúng quy định.
h) Công tác thanh tra, kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư một dự án, phát
hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng gây thất thoát lãng phí trong tất cả các khâu của
quá trình đầu tư như: loại bỏ những khối lượng phát sinh chưa được duyệt, sai chế độ
quy định, sai đơn giá định mức, không đúng chủng loại vật liệu, danh mục thiết bị
được duyệt.
Hàng quý và hết năm kế hoạch, các Bộ và UBND tỉnh có trách nhiệm tổng hợp
tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư, tình hình nhận vốn, thanh toán vốn của các dự án
thuộc phạm vi quản lý gửi Bộ Tài chính (Tổng cục Đầu tư phát triển) Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Xây dựng, Tổng cục Thống kê theo quy định. Các Bộ, UBND các cấp và
cơ quan đầu tư phát triển có chế độ kiểm tra định kỳ và đột xuất các chủ đầu tư về tình
hình sử dụng vốn tạm ứng, vốn cấp phát thanh toán. Nếu chủ đầu tư sử dụng vốn sai
mục đích, sai chế độ, cơ quan đầu tư phát triển có quyền tạm ngừng cấp vốn hoặc thu
hồi số vốn đã cấp phát, ngoài ra tuỳ theo mức độ vi phạm, chủ đầu tư còn bị xử phạt
kinh tế, xử lý kỷ luật hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định.
1.2.5. Yêu cầu đối với quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Tính hợp lý: điều này có nghĩa là vốn phải được đầu tư vào đúng các dự án, đúng
các chương trình được ghi vào kế hoạch kinh tế quốc dân hàng năm. Tức là cần phải
quản lý nhà nước nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong đó quản lý vốn đầu tư XDCB, qua
các tài liệu và tiếp cận thực tế có các vấn đề nổi bật sau:
Thứ nhất : Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý đầu
tư và xây dựng Trung ương ban hành, UBND thành phố Đà Nẵng đó cụ thể hóa dưới
các quy trình quản lý theo thẩm quyền được phân công, phân cấp. Hướng dẫn chi tiết
về trình tự triển khai đầu tư xây dựng từ xin chủ trương và lựa chọn địa điểm đầu tư,
lập và phê duyệt quy hoạch tổng thể mặt bằng, lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu
tư, bố trí và đăng kí vốn đầu tư, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tổ chức đấu thầu, chỉ
định thầu, tổ chức thi công, quản lý chất lượng trong thi công, thanh toán vốn đầu tư,
nghiệm thu bàn giao sử dụng, thanh toán, quyết toán và bảo hành công trình… Gắn
các bước trên là thủ tục và hồ sơ cần có và trách nhiệm, quyền hạn quản lý, gải quyết
của các chủ thể trong hệ thống quản lý và vận hành vốn đầu tư. Việc cụ thể hóa quy
trình quản lý và giải quyết công việc của Nhà nước là một điểm nhấn mạnh quan trọng
trong cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, năng lực cán bộ.
Thứ hai, bồi dưỡng giải phóng mặt bằng là khâu quan trọng và phức tạp nhất của
quy trình thực hiện dự án đầu tư. Trên thực tế, nhiều dự án gặp rất nhiều khó khăn,
thậm chí ách tắc ở khâu này. Đà nẵng là điểm sáng nhất trong cả nước đối với công tác
bồi thường, giải phóng mặt bằng trong thời gian qua, thành công của địa phương này
SVTH: Lê Thị Mai Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
-
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
dựa vào nhũng yếu tố:
UBND thành phố đó ban hành được quy dịnh về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất. Quy định rõ ràng và chi tiết, rất phù hợp với thực tế. Điểm đặc biệt và thuyết phục
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu
cấu hạ tầng cơ sở, tham gia vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao, hàng năm kho bạc nhà nước Thanh
Hóa luôn phối hợp với các ngành chức năng như : Sở tài chính, sở KH & ĐT, tham
mưu cho UBND tỉnh, thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tiến độ xây dựng
và đôn đốc các chủ đầu tư hoàn chỉnh hồ sơ thanh toán hoàn ứng khối lượng của dự
án. Định kì hàng quý, kho bạc gửi công văn đôn đốc hoàn ứng đến ban quản lý dự án.
Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà Nưởc trong lĩnh vự đầu tư xây dựng được các cấp,
các ngành quan tâm chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, sát thực tế nên có nhiều
chuyển biến tích cực từ khâu chủ trương đầu tư đến hoàn thành, quyết toán đưa dự án
vào sử dụng. Đầu tư từ NSNN và trái phiếu chính phủ năm 2011, đã hoàn thành đưa
vào sử dụng 126 dự án, hạng mục công trình, nâng cấp, làm mới hơn 50km đường nối
các huyện ở miền núi phía Tây của Tỉnh, đường đến trung tâm của xã chưa có đường ô
tô, 355 km đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa 515 phòng học, đưa vào sử dụng
51 công trình nước sạch, tăng thêm 420 giường bệnh, tiếp tục đầu tư nâng cấp 20 bệnh
viện đa khoa tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh…
Để đảm bảo cho công tác quản lý vốn và thu ngân sách Nhà nước theo quy định,
các chủ đầu tư (ban quản lý dự án) cần rà soát kỹ tiến độ thực hiện dự án để tập trung
tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhằm sớm hoàn thành đưa vào sử dụng. Các cấp các ngành
cần tăng cường công tác quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực đầu tư XDCB nhằm chống
thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả đầu tư, thường xuyên giao ban với các chủ
đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư, nhà thầu để kịp thời tháo gỡ những khó khăn
vướng mắc. Các chủ đầu tư (ban quản lý dự án) đôn đốc các nhà thầu khẩn trương
hoàn ứng, nhất là các dự án có số dư ứng lớn, các dự án có số dư tạm ứng từ năm 2010
trở về trước; kịp thời lập hồ sơ thanh toán đối với những khối lượng hoàn thành đã đủ
điều kiện nghiệm thu, thanh toán.
là quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý XDCB ở cấp huyện, xã, phường thị
trấn, bảo đảm từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Chương 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Linh
2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên
SVTH: Lê Thị Mai Phương