1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên đặc biệt và vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là
điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.
Đó là tư liệu sản xuất đặc biệt và quan trọng nhất của tất cả quá trình sản xuất,
nó tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, là địa bàn
phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,
là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia, là kết quả đấu tranh hàng
ngàn năm của toàn dân tộc, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của loài
người. Nước ta xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, đang phấn đấy xây dựng
thành một xã hội công nghiệp hiện đâị trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội.Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Chính vì lý do này mà đất đai đặc biệt quan trọng.
Quy trình công nghiệp hóa cùng với sự bùng nổ về dân số dẫn đến nhu
cầu về đất đai ngày càng tăng tạo ra những biến động lớn trong quá trình sử
dụng đất. Đồng thời gây sức ép đến đất đai, đặc biệt là đất ở và đất nông
nghiệp. Tình trạng sử dụng quỹ đất không hợp lý, không đúng mục đích đã
gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý đất đai. Hơn nữa mặt trái của nền
kinh tế thị trường đã làm cho quản lý đất đai của nước ta còn lỏng lẻo, chưa
có hệ thống dẫn đến sử dụng nguồn tài nguyên không bền vững nảy sinh
nhiều tiêu cực trong xã hội. Vì vậy việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này
được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những
văn bản pháp lý có liên quan. Ngày nay, sự phát triển của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước càng nhanh càng mạnh thì nhu cầu sử
dụng đất ngày một tăng lên bên cạnh đó nhà ở không những là tài sản có tầm
quan trọng đặc biệt đối với mỗi gia đình mà còn là một trong những tiêu
chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước,
mức sống dân cư của mỗi dân tộc. Trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển
như hiện nay ở nước ta thì vai trò của đất đai và nhà ở lại càng to lớn hơn. Do
3
2. Mục đích, yêu cầu
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu thực trạng về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại xã Y Can, huyện
Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá tình hình về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại xã Y Can, huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhàở và tài sản khác gắn liền với đất
tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp để giải quyết những tồn
đọng về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhàở
và tài sản khác gắn liền với đất tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
2.2. Yêu cầu
- Nắm được hệ thống văn bản pháp luật đất đai và các văn bản liên quan.
- Thu thập đầy đủ tài liệu và số liệu về công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên
địa bàn xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Phân tích, đánh giá một cách khách quan đúng pháp luật các số liệu
điều tra thu thập được.
2.3. Nội dung tiểu luận
Phần I: Giới thiệu về xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
Phần II: Thực trạng về vấn đề nghiên cứu tại xã Y Can, huyện Trấn Yên,
tỉnh Yên Bái
Phần III: Đánh giá về tài liệu thu thập
5
- Phía Bắc giáp xã Việt Thành và thị trấn Cổ Phúc
- Phía Đông giáp xã Minh Tiến
- Phía Đông Nam giám xã Lương Thịnh
- Phía Tây giáp xã Quy Mông
- Phía Tây Nam giáp xã Kiên Thành
Tổng dân số xã Y Can có 3.228 người, với 898 hộ, 2090 lao động.
Xã Y Can có tổng diện tích tự nhiên là 3.524,29 ha, trong đó nhóm đất
nông nghiệp có 3.268,43 ha, chiếm 92,74%, đất phi nông nghiệp 255.75 ha,
chiếm 7,26% và đất chưa sử dụng có 0.11 ha, chiếm 0,003% tổng diện tích tự
nhiên. Trong đó có 3.524,18 ha đất đã được đưa vào sử dụng, chiếm 98,99%
diện tích tự nhiên, còn lại 0,11 ha đất chưa sử dụng, chiếm 0,003% ích tự
nhiên, như vậy diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn xã còn rất ít.
6
PHẦN II
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI
XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN YÊN ,TỈNH YÊN BÁI
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN
YÊN, TỈNH YÊN BÁI
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Y Can là xã nằm ven sông hồng, tiếp giáp với thị trấn Cổ Phúc trung
tâm huyện Trấn Yên, với tổng diện tích tự nhiên là 3524,29 ha, chiếm 6,16% diện
tích tự nhiên của huyện, danh giới hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Việt Thành và thị trấn Cổ Phúc
- Phía Đông giáp xã Minh Tiến
- Phía Đông Nam giám xã Lương Thịnh
quân là 87%, tháng cao nhất 89%, tháng thấp nhất 80%.Thời kỳ có độ ẩm cao
nhất từ tháng 4 đến tháng 8.
- Gió, bão: Là một xã vùng núi cao, nơi tan rã của các cơn bão, do đó
xã Y Can ít trịu ảnh hưởng của bão, hàng năm thường xảy ra những đợt sương
muối lốc xoáy và gió Lào gây nhiều khó khan cho sản xuất và sinh hoạt của
bà con nhân dân.
2.1.1.4. Thủy văn
Xã Y Can có hệ thống các suối nhỏ chảy từ các khe ở các vùng đồi núi
phía Tây và phía Tây Bắc chảy qua các khe, cung cấp lượng nước khá lớn cho
sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Chế độ thủy văn của xã Y Can chủ yếu chịu ảnh hưởng của các suối nhỏ
nằm rải rác trên toàn địa bàn xã, lưu lượng nước so với các xã khác ít. Hệ
thống suối của xã nhìn chung có đặc điểm ngắn và dốc, sự phân bố dòng chảy
đối với các sông suối theo mùa rõ rệt nên tốc độ dòng chảy có sự biến động
8
lớn, đặc biệt vào mùa mưa lũ, ngập lụt, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.
Ngược lại trong mùa khô lưu lượng nước xuống thấp, dòng chảy trong các
tháng rất nhỏ, thường gây khô hạn.
2.1.1.5. Các nguồn tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Xã Y Can có tổng diện tích tự nhiên là 3.524,29 ha, trong đó nhóm đất
nông nghiệp có 3.268,43 ha, chiếm 92,74%, đất phi nông nghiệp 255.75 ha,
chiếm 7,26% và đất chưa sử dụng có 0.11 ha, chiếm 0,003% tổng diện tích tự
nhiên. Trong đó có 3.524,18 ha đất đã được đưa vào sử dụng, chiếm 98,99%
diện tích tự nhiên, còn lại 0,11 ha đất chưa sử dụng, chiếm 0,003% ích tự
nhiên, như vậy diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn xã còn rất ít .Đất đai
của xã Y Can thuộc nhóm vùng thấp, có sông Hồng bồi đắp nên hàng năm
được bồi đắp lượng phù sa màu mỡ, được phân chia thành các loại đất chính
hoạt của nhân dân. Về chất lượng nhìn chung chưa bị ô nhiễm, độ khoáng hóa
thấp 190mg/lit, độ cứng từ 3 – 4 mg/lit, độ PH từ 7 – 8, phần lớn đảm bảo xây
dựng các công trình nước sạch.
c. Tài nguyên rừng
Toàn xã Y Can hiện có 2.890,26 ha đất lâm nghiệp, chiếm 82,01% tổng
diện tích tự nhiên; bao gồm: Đất trồng rừng phòng hộ 120,00 ha; Đất rừng sản
xuất có 2.890,26 ha. Diện tích rừng của xã đã góp phần bảo vệ môi trường
sinh thái, giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình xói mòn của đất, duy trì cảnh
quan và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên công tác khai thác đi đôi với việc bảo vệ
rừng hiện nay còn nhiều bất cập nên chất lượng rừng bị giảm sút, hiện tượng cháy
rừng vẫn xảy ra, nhiều khu vực rừng cây gỗ trữ lượng cao nay đã biến thành đất
trống đồi trọc.
d. Tài nguyên nhân văn
Xã Y Can là một xã thuộc vùng núi cao, tổng dân số có 3.228 người với
898 hộ, dân cư phân bố không đều nhưng vẫn mang đậm nét phong tục tập
10
quán của vùng miền núi phía Bắc. Nhân dân xã Y Can vốn có truyền thống cách
mạng, cần cù, hiếu học và sáng tạo trong lao động sản xuất. Đội ngũ cán bộ xã
có trình độ, năng động nhiệt tình, đủ năng lực để lãnh đạo các mặt trính trị, kinh
tế xã hội, xây dựng xã Y Can trở thành một xã giàu mạnh của huyện Trấn Yên.
e. Thực trạng môi trường
Là một xã nông nghiệp; các ngành kinh tế - xã hội chưa phát triển, nên mức
độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai chưa thực sự nghiêm trọng.
Tuy nhiên, Y Can có đề án xây dựng cụm công nghiệp nên nhưng năm
tới cùng với việc định hướng phát triển kinh tế xã hội thì Y Can cũng cần đặc
biệt quan tâm đến vấn đề phát triển bền vữa và bảo vệ môi trường.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế
cho sản xuất nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, tích cực ứng dụng các tiến bộ
khoa học kĩ thuật vào sản xuất.
Tổng diện tích reo cấy là 127,2 ha.Diện tích đất lúa đông xuân là 11 ha.
Năng suất bình quân đạt 47 tạ/ha, sản lượng đạt 521,7 tấn.Diện tích lúa màu
16,2 ha, năng suất bình quân đạt 44,5 ha sản lượng đạt 72 tấn.Diện tích cây ngô cả
năm 140 ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 420 tấn.Diện tích sắn 25 ha,
năng suất bình quân đạt 110 tạ/ha, sản lượng đạt 275 tấn.
Cây công nghiệp lâu năm: Diện tích đất chè có 37,5 ha, năng suất bình
quân 77 tạ/ha, sản lượng đạt 154,3 ha.
+ Chăn nuôi
Công tác chăn nuôi trên địa bàn xã đang phát triển mạnh, một số hộ
chuyển sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp kết hợp với nâng cấp,
cải tạo chuồng trại, chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình. Xã đã tiêm phòng
dich bệnh cho đàn gia súc, gia cầm đạt tỉ lệ 100% so với kế hoạch.Còn so với
tổng đàn gia súc, gia cầm trên toàn xã đạt 90%. Số lượng các đàn gia súc, gia
cầm như sau:
12
Đàn trân có 554 con, đàn bò có 175 con, đàn lợn có 1950 con và gia cầm
có 2150 con.
b. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Trong những năm qua, ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa
bàn xã đã có những dấu hiệu chuyển biến ở bước đầu nhưng vẫn còn rất nhiều
khó khăn, hạn chế. Gía trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ vẫn còn thấp, chưa mang tính hàng hóa, do đặc thù của một xã miền núi,
chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, do đó hoạt động kinh doanh dịch vụ trên
địa bàn xã diễn ra rất chậm chạp gần như chưa được hình thành.
2.1.2.4. Dân số, lao động và việc làm
Tổng dân số xã Y Can có 3.228 người, với 898 hộ, 2090 lao động. Như
diện tích 37 ha, Đập Nhà Tần diện tích 15 ha, Hồ Khe Sắt diện tích 5 ha.
Ngoài ra còn rất nhiều hệ thống đập, kênh mương nhỏ nằm khắp xã, trong
những năm qua, xã đã quản lý và khai thác tốt hệ thống thủy lợi để phục vụ
sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên do đặc thù của địa hình vùng núi cao, xã Y
Can cũng như tình hình chung của các xã trong huyện, việc nâng cấp và hoàn
thành hệ thống thủy lợi luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu trong phát triển sẩn
xuất nông nghiệp.
c. Cơ sở Giáo dục – Đào tạo
Diện tích đất dành cho ngành giáo dục của xã là 1,86 ha. Đây được sự
quan tâm của Đảng và nhà nước, đặc biệt là của ngành, trong những năm gần
đây, ngành giáo dục luôn được củng cố và đổi mới, chất lượng dạy và học
từng bước đi lên, tỉ lệ học sinh chuyển lớp và thi tốt nghiệp ở các cấp tăng
cao, cơ sở hạ tầng giáo dục được đầu tư nâng cấp xây dựng kiên cố, đáp ứng
ngày tốt hơn nhu cầu dạy và học.
d. Cơ sở Y tế
Xã có 1 trạm y tế đã được xây dựng tương đối khang trang, sạch sẽ. Đến
nay trạm y tế đã được đầu tư mua sắm trang thiết bị, củng cố toàn bộ đội ngũ
cán bộ y tế trạm đến thôn. Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe
ban đầu cho nhân dân luôn được duy trì thường xuyên, liên tục và chất lượng
14
ngày càng được nâng cao. Thực hiện tốt các công tác phòng dịch và các
chương trình tiêm phòng các loại bệnh nguy hiểm.
e. Văn hóa – thể dục thể thao
Hưởng ứng phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng làng văn hóa,
gia đình văn hóa, đến nay xã Y Can đã tổ chức được 12/12 thôn ra mắt làng
văn hóa, xóa bổ các phong tục tập quán lạc hậu trong nhân dân.
Xã luôn đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao,
Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
2.1.3.1. Những lợi thế chủ yếu
- Với vị trí nằm ở trung tâm huyện, nằm dọc theo quốc lộ 37 và có quốc
lộ 32 đi qua, lại là một thung lũng rộng lớn của huyện Trấn Yên. Xã Y Can có
điều kiện tự nhiên và khí hậu ôn hòa. Các yếu tố đó là điều kiện rất thuận lợi
cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa, tiếp thu ứng dụng công nghệ khoa học
mới. Cũng như thuận lợi trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được tốt hơn. Diện tích tự nhiên lớn, diện tích đồi núi ít, đất đai màu mỡ là
điều kiện thuận lợi phát triển ngành nông, lâm nghiệp toàn diện, có điều kiện
trồng nhiều vụ trong năm, tạo ra nhiều sản phẩm, có giá trị kinh tế cao.
- Trong những năm gần đây xã Y Can đã có những bước phát triển về
kinh tế, tổng thu nhập bình quân đầu người tăng ước đạt 6,5 triệu đồng/ 1
người/ 1 năm. Cùng với việc thực hiện chủ trương giao đất cho hộ gia đình, cá
nhân của Đảng và nhà nước, đất đai ngày càng có giá trị đặc biệt của nó nên
người dân cần biết cách bảo vệ những thửa đất của mình tránh tình trạng
chanh chấp phải đăng ký, cấp giấy chứng nhận cho từng thửa đất.
16
- Sự cải tiến công cụ sản xuất áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
làm cho năng suất lao động ngày càng nâng cao.
- Cuộc sống nhân dân từng bước cải thiện, mọi người nhận thức được rõ
lợi ích của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhận thức của người dân được
nâng cao, họ hiểu được cặn kẽ hơn về pháp luật ý thức chấp hành pháp luật.
Điều đó có vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã và
công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận của xã.
2.1.3.2. Những tồn tại yếu kém và biện pháp hướng tới giải quyết
- Vào mùa mưa đường xá đi lại bất tiện cho những hộ dân ở xã không
thuộc trục đường liên xã ảnh hưởng đến việc giao lưu buôn bán, trao đổi hàng
hóa cũng như trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cần nâng
phương pháp xá định giá đất và khung hướng các loại đất.
- Thông tư 08/2008-TT-BTN&MT ngày 02/08/2008 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Thông tư 09/2008-TT-BTN&MT ngày 02/8/2008 cảu Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Thông tư 30/2004-TT-BTN&MT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
- Quyết định số 24/2004/QĐ-BTN&MT ngày 01/11/2004 cuả Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
b. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính.
Thực hiện chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1999 của Chủ tịch Hội đồng bộ
trưởng ( nay là Thủ tướng Chính Phủ) xã Y Can đã cùng các xã lân cận tiến hành
18
xác định mốc giới hành chính trên cơ sở hiện trạng, được các xã nhất trí và thông
qua bằng văn bản. Năm 2013 Y Can có tổng diện tích tự nhiên là 3524,29 ha.
c. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dung đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
- Về công tác đo đạc đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất của xã đang còn thừa kế những sản phẩm trước đây
chưa có điều kiện đo đạc bản đồ địa chính chính quy và lập bản đồ đất chính
xác, do đó công tác quản lý Nhà nước về vấn đề này gặp nhiều khó khăn.
Việc tiến hành đánh giá, phân hạng đất để tính thuế nông nghiệp được triển
khai. Hàng năm UBND tỉnh Yên Bái đều đã ban hành bảng đánh giá về các
loại đất để làm cơ sở tính thuế quyền sủ dụng đất, thực hiện công tác giao đất,
cho thuê đất, thu hồi đất, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
người sử dụng đất đăng ký làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng. Đối với
các trường hợp chuyển mục đích sử dụng phải được phép của cơ quan nhà
nước thì tiến hành rà soát trên sổ sách và thực địa để chuyển lên cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.Với các trường hợp không phải đăng ký thì UBND xã
xác nhận cho người sử dụng đất và ghi lại những thay đổi.
e. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Lập và quản lý hồ sơ địa chính.
Hồ sơ địa chính của xã bao gồm: Bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục
kê, sổ theo dõi biến động đất đai, sổ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
- Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính được
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nhìn chung trong giai đoạn tới khối lượng giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cần phải cấp cho các loại đất trên địa bàn xã là khá lớn, đặc biệt là
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất cho các tổ chức.
20
g. Thống kê, kiểm kê đất đai.
Đây là công tác được tiến hành tại xã theo định kỳ: Hàng năm đều tiến
hành thông kê đất đai và 5 năm thực hiện tổng kiểm kê theo đúng tinh thần
của luật đất đai quy định.
Căn cứ Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày 15/07/2004 của Thủ tướng
Chính phủ V/v tổng kiểm kê đất đai năm 2005, UBND xã đã thực hiện tốt
công tác này.
h. Quản lý tài chính đất đai.
Công tác quản lý tài chính về đất đai được triển khai thực hiện theo đúng
quy định của pháp luật, dựa trên căn cứ văn bản của tỉnh, của huyện tổ chức
quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
chưa được quan tâm đúng mức. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả
thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai không cao, trong đó có
công tác lập kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thi hành các quy định về pháp luật đất đai hiện nay, xã đã quan tâm, bảo
đảm thực hiện ngày càng đầy đủ và tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất. Là đơn vị cấp cuối cùng trong hệ thống quản lý nhà nước. Trong
những năm gần đây UBND xã đã thực hiện khá tốt việc quản lý, giám sát việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thông qua một số công tác
cụ thể sau:
- Thực hiện thủ tục hành chính trong việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, cho, tặng, thế chấp bảo lãnh quyền sử dụng đất.
- Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sử dụng
đất trong trường hợp nhà nước thu hồi đất.
Bên cạnh đó UBND xã còn tiếp nhận và giải quyết hồ sơ khiếu nại tố cáo
tranh chấp về đất đai, tổ chức kiểm tra trên thực địa tình hình sử dụng đất của
người dân.
l. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và sử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Công tác kiểm tra việc chấp hành, xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai
trên địa bàn xã trong những năm qua được tiến hành thường xuyên và đạt
được nhiều kết quả tốt, nhằm giúp phát hiện và giải quyết các vi phạm của
pháp luật về đất đai.
Việc quản lý đất đai của xã trong những năm qua có nhiều chuyển biến,
đã xử lý và giải quyết những trường hợp lấn chiếm, phá vỡ mặt bằng sản xuất.
22
Công tác này được thực hiện dựa theo nguyên tắc trong sử phạt vi phạm hành
chính đó là: “ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý
23
Môi trường huyện và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện theo
đúng quy trình, hướng dẫn chuyên môn của ngành. Nhìn chung đây là hoạt
động mới, nên nội dung này thực hiện chưa phát triển.
2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất.
Theo số liệu thống kê đất đai của xã Y Can năm 2012 thì tổng diện tích
đất tự nhiên của xã là 3.524,29 ha. Diện tích các loại đất thể hiện ở bảng 2.1
24
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất xã Y Can năm 2013
Thứ tự
1
1.1
1.1.1
1.1.1.1
1.1.1.2
1.1.2
1.2
1.2.1
1.3
2
2.1
2.1.1
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
Mã
NNP
SXN
CHN
LUA
HNK
CLN
LNP
RSX
NTS
PNN
OTC
ONT
CDG
CTS
CSK
CCC
TTN
NTD
SMN
CSD
DCS
Diện tích
( ha )
3.524,29
3.268,43
362,29
282,35
0,45
7,26
0,66
0,66
2,48
0,01
0,09
3,47
0.00
0,16
5,99
0,003
0,003
( Nguồn: Niên giám thống kê đất đai năm 2013)
Dựa vào bảng 2.1 toàn xã Y Can có:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.525,29 ha trong đó:
Đất nông nghiệp có 3.268,43 ha, chiếm 92,74 % diện tích tự nhiên.
Đất phi nông nghiệp có 255.75 ha, chiếm 7,26% diện tích tự nhiên
Đất chưa sử dụng có 0,11 ha, chiếm 0,003% diện tích tự nhiên
* Đất nông nghiệp:
25
- Đất nông nghiệp có 3.268,43 ha, chiếm 92,74 % diện tích đất tự nhiên,
gồm có:
+ Đất sản xuất nông nghiệp có 362,29 ha, chiếm 10,28 % diện tích đất tự
nhiên, trong đó:
+ Đất trồng cây hàng năm có 282,35 ha, chiếm 8,01 % diện tích đất tự