TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
----------------
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Giảng viên: TS. Hay Sinh
Môn: Kinh tế học vi mô
Sinh viên Cao học K19 - Nhóm 2 KTViMô Đêm 8
STT
HỌ & TÊN
NGÀY SINH
1
Phan Thanh Vinh
21/07/1985
2
Nguyễn Thị Duy Thuyết
19/05/1985
3
Võ Thị Thanh Thủy
10/01/1985
9
Trương Huệ Đoan
14/06/1987
Tháng 9 - 2010
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
Doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời. ........................6
2.1.2
Hiện tượng rò rỉ những thông tin ...............................................................................7
2.1.3
Doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với nhà đầu tư ...................8
2.1.4
Tung tin đồn thất thiệt nhằm trục lợi..........................................................................9
2.1.5
Một số phương tiện truyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ. ..........9
2.1.6
Hiện tượng làm giá cổ phiếu của các nhà đầu tư lớn...............................................10
2.2.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng BCX thông tin trên TTCK............................11
2.2.1
Sự quản lý lỏng lẻo của nhà nước ...........................................................................12
Từ tổ chức công bố thông tin
........................................................................................................................................16
III.3..................................................................
Từ đơn vị tiếp nhận thông tin – nhà đầu tư
........................................................................................................................................17
Kết luận...............................................................................................................................18
Tài liệu tham khảo..............................................................................................................19
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
Lời nói đầu
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam đặt ra một yêu cầu
cấp thiết là phải phát triển thị trường vốn hiệu quả nhằm cung cấp vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế. Để có một thị trường vốn như thế, đòi hỏi trước mắt là phải
xây dựng được một thị trừơng chứng khoán (TTCK) vững mạnh. TTCK sẽ làm tăng
tính thanh khoản của các công cụ huy động vốn, từ đó thúc đẩy thị trường sơ cấp
phát triển. Mặt khác, TTCK khắc phục được đáng kể hạn chế về không gian, thời
gian và quy mô trong việc huy động vốn. Nhận thức tầm quan trọng đó, sau nhiều
cố gắng TTCK Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000, đánh dấu
bước chuyển mình của thị trường tài chính Việt Nam.
Tuy nhiên sau hơn mười năm hoạt động, những kết quả đạt được của TTCK
Việt Nam chưa đáp ứng sự mong mỏi và kỳ vọng của cả nền kinh tế nói chung và
giới đầu tư nói riêng. Khi bàn về thực trạng này, hầu hết các cuộc hội thảo, bài báo
đều đề cập đến vấn đề thông tin. Cụ thể, đó là những hạn chế trong việc công bố
thông tin thể hiện ở tính không kịp thời, thiếu chinh xác, không đầy đủ và chưa
Lý thuyết thông tin BCX (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện
vào những năm 1970 qua một bài báo kinh điển của nhà kinh tế học người Mỹ
George Akerlof và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện
đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là Michael
Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế.
Trong bài báo “The Market of Lemons: Quality Uncertainty and the Market
Mechanism” xuất bản năm 1970, George Akerlof đã lần đầu tiên đề cập đến vấn đề
thông tin BCX và minh họa bằng thị trường xe hơi cũ tại Mỹ. Trong quá trình
nghiên cứu tình huống mua bán xe ô tô cũ trên thị trường, ông cho rằng người bán
xe có tính chủ động hơn đối với người mua. Người bán có biết rõ đặc tính của chiếc
xe mình muốn bán và có thể bán với giá cao, trong khi người mua thì không biết rõ
tình trạng thực sự của chiếc xe đó.
Tiếp tục phát triển lý thuyết của George Akerlof, năm 1973, Michael Spence,
nguyên Hiệu trưởng trường Kinh doanh Stanford, đã viết bài báo “Job-Market
Signaling” để nói về việc đánh giá thông tin các ứng viên thông qua bằng cấp của
họ trong tuyển dụng. Hiểu đơn giản, khi mà người tuyển dụng không thể biết chính
xác năng lực của người ứng tuyển thì bằng cấp đại học là một thông tin cần thiết.
Từ đó, “Signaling” là một thuật ngữ dùng để mô tả việc bên bán thể hiện những
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 2
thông tin có ý nghĩa của mình cho những bên mua nhằm làm giảm đi quá trình bất
đối xứng thông tin.
Nếu “Signaling” là bên bán đưa ra tín hiệu thông tin thì ngược lại, thuật ngữ
“Screening” đề cập đến việc bên mua tìm hiểu thông tin thông qua một nguồn thông
tin độc lập khác.
Thuật ngữ này được nhà kinh tế học lừng danh từng giữ chức Phó chủ tịch
Trên mỗi thị trường, đặc điểm của sự BCX thông tin và tính chất tác động
đến cân bằng thị trường không giống nhau. Vai trò của thông tin trên thị trường
càng cao thì vấn đề thông tin BCX trên các thị trường đó càng rõ rệt và thu hút
nhiều sự quan tâm của những người cùng tham gia. Thông tin BCX xuất hiện phổ
biến ở các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường tín dụng và bảo hiểm.
1.3. Tác động của BCX thông tin đến thị trường
Thông tin BCX là một thất bại của thị trường vì gây ra các hậu quả là lựa
chọn ngược và rủi ro đạo đức.
1.3.1. Lựa chọn ngược (Adverse selection)
Lựa chọn ngược (lựa chọn trái ý, lựa chọn đối nghịch, lựa chọn bất lợi) là
một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin BCX, người lựa
chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt hay nói cách khác chọn được cái không như
mong muốn. Lựa chọn ngược là hậu quả thông tin BCX tạo ra trước khi cuộc giao
dịch diễn ra. Đây là một loại thất bại thị trường.
Lựa chọn đối nghịch là hiện tượng xảy ra trên bất kỳ thị trường nào xuất hiện
thông tin BCX. Do không có đủ thông tin liên quan đến giao dịch nên một trong các
bên tham gia giao dịch sẽ đưa ra những quyết định sai lầm.
Một vài ví dụ cho một số thị trường :
- Thị trường xe cũ: người tiêu dùng không thể dễ dàng xác định chất lượng
của các loại xe cho đền khi họ mua được nó, vì vậy giá cả của những chiếc xe dùng
rồi thường giảm và xe chất lượng cao bị loại ra khỏi thị trường.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 4
- Thị trường bảo hiểm: khách hàng của công ty bảo hiểm là những ngưởi rủi
ro cao, bởi những người hay đau ốm thường muốn bảo hiểm nhiều hơn, nên tỷ lệ
người hay đau ốm trong số những người mua bảo hiểm tăng lên. Việc này buộc phí
hàng không giám sát được đầy đủ tình hình sử dụng vốn vay của người đi vay.
Người đi vay thực hiện những hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao dẫn đến nguy cơ
không hoàn trả được vốn cho ngân hàng.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 6
II. Thực trạng thông tin BCX trên TTCK Việt Nam
2.1. Những dấu hiệu cho thấy sự tồn tại của BCX thông tin trên thị trường
2.1.1 Doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời
Ngoài thông tin bắt buộc theo luật định phải công bố thì DN không chủ động
cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời. Đặc biệt, đối với DN có cổ phiếu giao dịch trên
thị trường phi tập trung (OTC), tình trạng phổ biến là NĐT hầu như không biết về
tình hình hoạt động của DN. Thông tin tìm được chủ yếu qua nguồn tin riêng, trên
các diễn đàn hoặc tin đồn. Ngoài ra, đối với DN chào bán cổ phiếu ra công chúng,
có thể chính ban lãnh đạo DN che giấu thông tin để "dìm giá" sao cho những người
trong DN có thể mua được cổ phiếu với giá thấp.
Đối với DN trên TTCK thì theo quy định DN phải công bố báo cáo tài chính
quý. Đây là điều cần thiết nhưng báo cáo tài chính quý không bắt buộc nhiều các
thủ tục như là báo cáo tài chính năm (không phải kiểm kê hàng tồn kho, đối chiếu
công nợ,…). Do đó, báo cáo quý cũng chưa thật chuẩn xác nhất là nhiều công ty
niêm yết muốn giá cổ phiếu (CP) được cao thì tâm lý muốn công bố báo cáo quý
lãi, đẹp, những tồn tại không muốn trưng ra. Chẳng hạn như sự kiện Cty CP Kinh
Đô đã từng bị Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM đưa cổ phiếu vào diện bị cảnh
báo do lợi nhuận sau thuế năm 2008 âm 61,7 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong báo cáo tài
chính chưa kiểm toán được công bố trước đó, lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp này đạt trên 142 tỷ đồng. Cũng như hàng loạt DN trước đó phải giải trình về
những khoản chênh lệch giữa các bản BCTC trước và sau kiểm toán (Công ty cổ
cung cấp một cách riêng lẻ cho những đối tượng có nhu cầu. Nếu nắm được cụ thể,
chi tiết về tổng cầu cổ phiếu của thị trường, các cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá sẽ
tính toán được hợp lý mức giá mà mình bỏ thầu, qua đó chiếm lợi thế so với các
NĐT khác không có thông tin.
Điển hình, ngày 7 tháng 4 năm 2010, thi trường rộ lên thông tin các giao dịch
tự doanh của công ty chứng khoán bị lộ. Bản thống kê giao dịch kê khai một cách
chi tiết các danh mục đầu tư tự doanh của các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư
trong nước. có thể biết các công ty chứng khoán nào bán/mua cổ phiếu nào, ở mức
giá nào, vào ngày nào. Thống kê về giao dịch của các quỹ đầu tư trong nước cũng
tương tự như của các công ty chứng khoán. Việc lộ tin như vậy có thể không chỉ từ
3 nguồn là Ủy ban Chứng khoán, Trung tâm Lưu ký và sở giao dịch chứng khoán,
mà có thể từ đường khác, chẳng hạn như trong quá trình truyền tin có thể bị hacker
truy xuất thông tin. Khi đánh giá cơ hội đầu tư vào một cổ phiếu nào đó, các tổ chức
sẽ có kế hoạch mua/bán để đạt được mức giá tốt nhất. Nếu bị lộ ra ngoài, những tổ
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 8
chức, cá nhân nắm được thông tin này sẽ thực hiện bán/mua trước, đón đầu để
hưởng lợi. Thực tế chứng minh, trong tháng 3-2010 có 5 đợt sóng, mỗi đợt mang lại
mức tăng trung bình 5%-7% thì cả tháng cũng mang lại khoản lợi nhuận khoảng
30%. Đây là mức lợi nhuận khổng lồ trong một thời gian cực ngắn. Và những người
"chộp được" thông tin từ bản tự doanh, biết được xu hướng thị trường đã bội thu.
Thị trường sẽ méo mó khi có người biết thông tin để đoán trước được kế hoạch
mua/bán của nhà đầu tư.
Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các thông tin có lợi của DN. Ví
dụ, đối với các quyết định của HĐQT như chia cổ tức bằng cổ phiếu thưởng, tăng
quy mô vốn..., do quan hệ cá nhân, một số NĐT biết trước khi thông tin được công
HCM) được thực hiện vào ngày 29/6. Vậy khi một doanh nghiệp công bố lợi nhuận
đột biến, hoặc từ lỗ chuyển sang lãi, nhà đầu tư phải đọc kỹ báo cáo tài chính của
doanh nghiệp xem khoản lời lỗ đó từ khoản mục nào? Khoản mục đó có phải bắt
nguồn từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính hay không, hay chỉ là những khoản
doanh thu bất thường khác? Bên cạnh đó những điểm nhà đầu tư cần chú ý trên báo
cáo kết quả kinh doanh là các khoản mục về dự phòng, đầu tư tài chính của doanh
nghiệp, hàng tồn kho, thay đổi tỷ giá,... Đó là những yếu tố hay tạo ra những khoản
lợi nhuận bất thường cho công ty.
2.1.4 Tung tin đồn thất thiệt nhằm trục lợi
Có không ít tin đồn ảnh hưởng đến uy tín của DN niêm yết, đặc biệt tin đồn
liên quan đến người đứng đầu DN. Những tin này thường được tung ra trên các diễn
đàn, sàn giao dịch chứng khoán hoặc được truyền miệng. Do NĐT chưa có kinh
nghiệm, kỹ năng để kiểm chứng nguồn thông tin, đồng thời do cơ chế thông tin của
DN còn yếu kém, chậm chạp nên gây ra tâm lý hoang mang cho NĐT, ảnh hưởng
đến giá cổ phiếu trên thị trường. Trong khi đó, cơ chế phát hiện và xử phạt đối với
việc tung tin đồn chưa rõ ràng.
Vấn đề minh bạch thông tin trên TTCK Việt Nam lâu nay vẫn là điều ấm ức
của hầu hết NĐT, làm đau đầu các nhà quản lý. Thực tế cho thấy, những năm trước
đây, khi suốt một thời gian khá dài thị trường tăng nóng, lợi nhuận dễ dàng, hầu hết
các NĐT không quan tâm lắm đến tính minh bạch trong thông tin chứng khoán.
Nhưng giờ đây, khi tình hình đã hoàn toàn khác, những tin đồn thiếu cơ sở, những
thông tin nội gián và sự rò rỉ có ý đồ đã trở thành điều nhức nhối của thị trường.
Quan sát nhiều phiên giao dịch, người ta không hiểu sao một số loại cổ phiếu tự
nhiên được mua nhiều, tăng bất thường qua các phiên. Rồi chỉ một thời gian ngắn
sau, chính các cổ phiếu đó được công bố thông tin tốt, doanh thu lợi nhuận tăng
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 10
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 11
cổ phiếu này) vào ngày 24/3 chỉ là một ví dụ điển hình. Ngày 3/2/2010, bà Phượng
chào mua công khai 1,3 triệu cổ phiếu VTV tại HNX với mục đích tăng tỷ lệ nắm
giữ. Giá cổ phiếu vào thời điểm này khoảng 40.000 đồng. Đến ngày 24/3, khi lệnh
chào mua đã bị hủy do giá cổ phiếu tăng cao quá 30%, bà Phượng bất ngờ bán ra
toàn bộ số cổ phiếu đang nắm giữ (không hề thông báo). Giá khớp lệnh trong phiên
giao dịch này của VTV là hơn 55.000 đồng một cổ phiếu. Nhẩm tính với khối lượng
557.800 cổ phiếu bán ra, lợi nhuận chênh lệch mà bà Phượng thu được không dưới
8,3 tỷ đồng. Thực chất hoạt động chào mua của bà Phượng để gây chú ý trên thi
trường, một hoạt động PR cổ phiếu, kích giá lên.
Đối với các Cty CK, việc hưởng lợi 0,25 - 0,35% phí giao dịch chứng khoán
hàng chục tỷ đồng của các “đại gia”, chưa kể những khoản “lại quả” khi thắng lợi
của họ sẽ khiến không ít công ty chứng khoán “hưởng ứng” và tạo điều kiện cho các
tổ chức “làm giá”. Theo đó, công ty chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức
mua bán khống, nhất là việc tạo điều kiện để các khách hàng lớn dùng nhiều tài
khoản tại nhiều công ty chứng khoán gom hàng khi thị trường ảm đạm để tạo sóng
ảo nhằm trục lợi.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các ngành chức năng đã có nhiều động
thái kiểm tra, rà soát lệnh đặt ở công ty chứng khoán để xử lý những tổ chức, cá
nhân “làm giá” cổ phiếu. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia chứng khoán, những
biện pháp hành chính và mức phạt thấp không đủ răn đe cũng như kiểm soát hết các
hình thức thao túng giá cổ phiếu trên thị trường ngày càng tinh vi của các “đại gia”.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
đúng qui định trên. Nhiều công ty vẫn trình đơn xin gia hạn thời điểm công bố
thông tin với những lí do khác nhau về đặc điểm ngành nghề.
Trong năm 2008, ủy ban chứng khoán đã kéo dài thời gian công bố đến tận
ngày 25/7 tức là thêm hơn 100 ngày nữa so với hạn luật định nhưng các công ty
niêm yết vẫn kêu than và đòi hỏi hạn nộp nên linh hoạt hơn. Điều này gây ảnh
hưởng lớn đến quyết định của nhà đầu tư và nếu không nhanh chóng được chấn
chỉnh, sẽ làm mất niềm tin rất lớn cho các nhà đầu tư.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 13
Năm 2009, tình hình công bố thông tin không mấy làm sáng sủa. Theo ông
Nguyễn Thế Thọ, Trưởng ban Quản lý phát hành UBCK Nhà nước cho biết: “Tính
đến ngày 31/3/2009, chỉ có 32/177 công ty niêm yết trên HOSE nộp báo cáo thường
niên năm 2008, trên HASTC là 33/177. Còn về báo cáo tài chính đã được kiểm toán
năm 2008, tính tới ngày 31/3, mới có 105 công ty trên sàn HASTC hoàn thành, trên
sàn HOSE, con số này ít hơn: 91/177 công ty” (báo Công thương).
Đến năm 2010, có tình trạng 203 công ty niêm yết đã không nộp báo cáo tài
chính Quí 4/2009 cho Ủy ban chứng khoán nhà nước và vẫn có tình trạng nhiều
công ty niêm yết không đưa các báo cáo tài chính Quí 1/2010 lên trang Web của
mình hoặc đăng tải chậm trễ so với việc đăng tải thông tin từ các Sở Giao dịch
chứng khoán.
Quy định về việc giải trình khi giá cổ phiếu tăng, giảm còn chung
chung, không có cơ sở xác định đúng sai
Thông tư số 09/2010/TT-BTC có quy định doanh nghiệp phải giải trình trong
“trường hợp giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn năm (05) phiên liên tiếp mà
không theo xu hướng chung của thị trường hoặc trường hợp giá cổ phiếu niêm yết
tăng trần hoặc giảm sàn từ mười (10) phiên liên tiếp trở lên”. Nhưng thông tư lại
2.2.2. Chế tài xử phạt còn yếu
Hiện nay, việc xử phạt đối với vi phạm công bố thông tin được căn cứ theo
Nghị định 85/2010/NĐ-CP ban hành ngày 2/8/2010 sẽ có hiệu lực từ ngày
20/9/2010.
Theo khoản 1, điều 16 của nghị định này thì:
“Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với công ty chứng
khoán thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:
a) Không cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin cho khách hàng về
chứng khoán đăng ký giao dịch, tổ chức đăng ký giao dịch và tình hình giao dịch
theo quy định;
b) Không thường xuyên cập nhật thông tin về chứng khoán giao dịch, về tổ
chức đăng ký giao dịch, về các thông tin công bố của cơ quan quản lý và về các quy
định liên quan đến giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán trên các phương tiện
công bố thông tin theo quy định;
c) Không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin về giao
dịch chứng khoán đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán theo quy định.”
Mức phạt trên không thể so sánh với thiệt hại mà nhà đầu tư phải gánh chịu
do việc công bố thông tin chậm trễ gây ra.
Tại khoản 1 điều 33 của Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực chứng khoán và thị trường chúng khoán quy định phạt từ 5,000,000 –
10,000,000 VND đôi với các công ty niêm yết, phát hành, cá nhân khi có các hành
vi vi phạm về công bố thông tin. Và cũng trong Nghị định này, thẩm quyền xử phạt
cao nhất của Chủ tịch UBCKNN
đối với các hành vi vi phạm chỉ ở mức
500,000,000 VND. Với mức chế tài như vậy so với các khoản trục lợi của các nhà
đầu tư lớn trên thị trường lên đến hàng chục tỷ đồng nên rất khó để họ hoạt động
theo các quy định.
2.2.3. Chưa có văn hóa công bố thông tin trong DN
điều đã nói trên, thì ít nhiều đã tồn tại thông tin BCX trong hoạt động đó và hệ quả
của nó là chi phí lựa chọn bất lợi mà nhà đầu tư phải gánh chịu.
Thông thường trong hoạt động mua bán, người bán là người nắm rõ thông
tin về sản phẩm của mình và dĩ nhiên khi đó chi phí lựa chọn bất lợi sẽ do người
mua gánh chịu. Trên TTCK cũng vậy công ty niêm yết luôn nắm thế chủ động hơn
so với nhà đầu tư. Cụ thể, căn cứ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực
kinh doanh và các hợp đồng kinh doanh, các công ty niêm yết sẽ biết rõ khả năng
đạt được lợi nhuận kỳ vọng của mình là bao nhiêu nên các công ty này sẽ biết chắc
chắn giá bán trên mỗi cổ phiếu đó bao nhiêu là hợp lý. Vì ngoài phương pháp xác
định giá cổ phiếu bằng giá trị tài sản, còn có phương pháp xác định giá cổ phiếu
theo cổ tức. Thế nên, nếu nhà đầu tư không xác định chính xác cổ tức kỳ vọng của
công ty niêm yết thì sẽ định giá cổ phiếu không chính xác và nếu định giá cao hơn
giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư.
Nhà đầu tư ít thông tin nên sẽ chịu chi phí kỳ vọng cao hơn chi phí kỳ vọng
thị trường, do đó không nhiều thì ít, các đối tượng này sẽ là đối tượng rời bỏ thị
trường trước tiên.
2.3.2. Doanh nghiệp niêm yết
a. Thông tin xấu góp phần đưa giá cổ phiếu của công ty xuống nhanh hơn và tạo áp
lực lên ban điều hành.
b. Cổ phiếu của công ty niêm yết dễ dàng bị chi phối bởi những cổ đông lớn và rủi
ro bị thâu tóm có thể xảy ra.
c. Giá cả cổ phiếu không phản ánh đúng tình hình hoạt động và hiệu quả của công
ty niêm yết vì phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý và “khẩu vị” của nhà đầu tư.
d. Rủi ro đạo đức – Tâm lý ỷ lại: Công ty phát hành sau khi huy động được vốn rồi
lại không sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đúng mục đích.
Do tính chất của đầu tư trên thị trường là đầu tư gián tiếp nên việc quản lý,
giám sát vốn đầu tư của các nhà đầu tư phải thông qua một số người đại diện để
điều hành công ty. Sự tách biệt này dẫn đến rủi ro đạo đức, trong đó những người
quản lý công việc có thể hành động vì lợi ích của cá nhân họ hơn là vì lợi ích của
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
- Cần đưa ra các chế tài mạnh mẽ hơn như có thể đưa ra các mức phạt tương
đối (%) trên các khoản trục lợi của nhà đầu tư mà cơ quan nhà nước điều tra được.
Ví dụ: quy định mức phạt là 150% trên khoản trục lợi, như thế thì tính răng đe cao
hơn.
- Các quy định luật pháp của ta luôn được đưa ra để xử lý các vi phạm chứ
không ra để phòng ngừa các vi phạm. Hay nói cách khác là luật luôn được ban hành
khi đã có người vi phạm, điều này cũng dễ hiểu và thông cảm cho các cơ quan lập
pháp và hành pháp của ta. Vì thật sự chúng ta cũng chưa có nhiều kinh nghiệm
trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến tài chính. Cơ quan luật cần đi trước các
vi phạm và cần học hỏi kinh nghiệm nhiều hơn từ các thị trường phát triển trong
khu vực như Singapore, Thái Lan hay Hàn Quốc và Nhật Bản.
- Công tác thanh tra và kiểm tra của cơ quan nhà nước còn nhiều hạn chế. Có
thể do lực lượng chức năng còn mỏng so với quy mô và tính phức tạp của thị trường
mới nổi. Cần tăng cường tần suất thanh tra kiểm tra, giám sát các đối tượng tham
gia thị trường tốt hơn.
- Nghiên cứu và xây dựng mô hình kiểm định tính minh bạch trong các báo
cáo tài chính của các Doanh nghiệp niêm yết.
3.2. Từ tổ chức công bố thông tin
- Các tổ chức công bố thông tin cần có trách nhiệm với các thông tin không
chính thức có liên quan đến đơn vị mình với mục đích bảo vệ các nhà đầu tư đã tin
tưởng đầu tư vào đơn vị.
- Cần tôn trọng các quy định của pháp luật, nâng cao tính tự giác trong công
bố thông tin.
- Các cơ quan phát hành cần hướng tất cả các hoạt động của mình đến lợi ích
chung cho các nhà đầu tư và cũng chính là tự bảo vệ mình trước các nguồn thông
tin trái chiều trên thị trường.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 19
Kết luận
Tình trạng BCX thông tin còn diễn ra rất phổ biến trên TTCK Việt Nam. Có
nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng này. Chính phủ và
các tổ chức cá nhân có liên quan cần tích cực hơn nữa trong việc tạo ra hành lang
thông tin chính xác – tin cậy – kịp lúc cho nhà đầu tư. Chỉ khi có được một hệ thống
cung cấp thông tin tốt- tin cậy, nhà đầu tư mới an tâm rót vốn vào TTCK. Có như
vậy thì TTCK mới phát huy được đúng vai trò chức năng của nó là huy động vốn
cho nền kinh tế. Doanh nghiệp sẽ an tâm phát triển công việc kinh doanh nhờ huy
động được vốn trung và dài hạn, nhà đầu tư sẽ an tâm khi lựa chọn đầu tư của mình
là có hiệu quả. Thông tin minh bạch tạo ra một môi trường đầu tư lành mạnh, hấp
dẫn và an toàn cho tất cả những ai muốn tham gia vào thị trường này.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán VN - Thực trạng và giải pháp
trang 21