đánh giá về tình hình các loại hàng hoá trên thị trường mở việt nam – thực trạng và giải pháp - Pdf 24

Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Lời nói đầu
Trong điều kiện một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường,
cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước thông qua hệ thống các công cụ
chính sách vĩ mô, trong đó chính sách tiền tệ (CSTT) được xác định là một
bộ phận của chính sách vĩ mô và được coi là công cụ quan trọng để điều
tiết nền kinh tế. Kể từ khi hai Pháp lệnh ngân hàng được ban hành
(5/1990), cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng hai
cấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bắt tay ngay vào việc xây dựng và
sử dụng một hệ thống các công cụ thích hợp để thực thi chính sách tiền tệ
của mình.
Ra đời như một tất yếu, phù hợp với quá trình cải cách hệ thống
Ngân hàng Việt Nam và đáp ứng nhu cầu hoàn thiện công cụ CSTT trong
giai đoạn mới, trên thực tế, sau hơn hai năm hoạt động, thông qua nghiệp
vụ thị trường mở (NVTTM), NHNN Việt Nam đã có một công cụ để hấp
thụ, cung ứng vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt, nhạy bén hơn. Tuy
nhiên, những hạn chế, bất cập cũng lần lượt xuất hiện như hiệu quả thực tế
chưa cao , sè lượng, chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn làm hạn chế sức
hấp dẫn của NVTTM ,đòi hỏi cần có sự giải quyết kịp thời của NHNN,
các Bộ ngành có liên quan để hoàn thiện NVTTM sao cho sự phát triển
của nó đi đúng hướng đã đặt ra, đặc biệt là vấn đề hàng hoá.
Để thị trường mở trở nên đa dạng về hàng hóa, hoạt động ngày càng
hiệu quả và thực sự trở thành một công cụ gián tiếp đắc lực, góp phần đổi
mới, hoàn thiện việc điều hành chính sách tiền tệ, em đã chọn đề tài “Đánh
giá về tình hình các loại hàng hoá trên Thị trường mở Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp” để nghiên cứu.
- 1 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Nội dung nghiên cứu : Ngoài phấn mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương :
Chương I :Tổng quan về nghiệp vụ thị trường mở.

trên thị trường.
II. Phân loại nghiệp vụ thị trường mở:
- 3 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Người ta phân biệt thành hai loại nghiệp vụ thị trường mở:
-Loại thứ nhất là nghiệp vụ thị trường mở chủ động nhằm để thay
đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ.
- Loại thứ hai là nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bù lại
những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng đến dự trữ và cơ số
tiền tệ, chẳng hạn như sự thay đổi tiền gửi của kho bạc tại NHTƯ.
Việc lựa chọn nghiệp vụ thị trường mở chủ động hay thụ động là tuỳ
thuộc vào NHTW sẽ quyết định thay đổi chỉ tiêu chính sách tiền tệ hay chỉ
duy trì nã trong từng thời kì nhất định .
III. Các phương thức giao dịch trong nghiệp vụ thị trường
mở:
Tuỳ thuộc vào tình hình dự trữ của các ngân hàng mà NHTƯ thực
hiện một trong hai cách chư sau:
* Các giao dịch không hoàn lại (mua bán đứt đoạn):
Là các nghiệp vô mua bán chứng khoán của NHTƯ theo phương
thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Đối tượng giao dịch là
các chứng khoán được chuyển hẳn quyền sở hữu. Do đó, ảnh hưởng của nó
đối với dự trữ của các ngân hàng là dài hạn.
Ưu thế nổi bật của phương thức giao dịch này là: để thay đổi chỉ tiêu
của chính sách tiền tệ, mua đứt bán đoạn cho tác dụng rõ ràng và mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc mua bán hẳn làm cho tính linh hoạt của NHTƯ trong việc
điều tiết lượng tiền cung ứng có nhieèu khả năng bị suy giảm mà nhất là
giai đoạn đầu khi mà thị trường mới chỉ hoạt động mang tính cầm chừng
thì việc mua bán hẳn quả là rất nguy hiểm (mua mà không bán ra được). Vì
vậy, NHTƯ sẽ thực hiện giao dịch mua bán hẳn khi dự báo về các nhân tố
ảnh hưởng đến dự trữ cho thấy cần điều chỉnh trong mức cung về dự trữ

3. Các khách hàng lớn.
V. Hàng hoá sử dụng trong nghiệp vụ TTM
- 5 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Hàng hoá trong NVTTM là các giấy tờ có giá thoả mãn những điều
kiện tác động mà các NHTW đưa ra trong từng thời kì. Các giấy tờ có giá
có thể ngắn hạn, trung hoặc dài hạn. Việc lựa chọn thời hạn của giấy tờ có
giá trước hết phụ thuộc vào khả năng kiểm soát của NHTW, tính thanh
khoản và cuối cùng là cơ chế đảm bảo an toàn cho các bên tham gia. Nói
chung, các giấy tờ có giá được sử dụng phổ biến trong NVTTM được phản
ánh ở bảng dưới đây:
Chứng khoán Tên(Mức độ
rủi ro tăng dần)
Mét số đặc điểm cơ bản
Chứng
Khoán
Nợ
ngắn
hạn
1. Tín phiếu
kho bạc

2. Tín phiếu
NHTW

3. Chứng chỉ
tiền gửi

4.Thương
phiếu

là một phương tiện thanh toán còn là một
- 6 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương

5. Các chấp
nhận của
Ngân hàng
công cụ tín dụng khi mang đến chiÕt khấu
tại NHTM để thu vốn về cho người sở
hữu trước kì hạn thanh toán.Vì thương
phiếu là tài sản có đối với người sở hữu
nên việc mua bán thương phiếu sẽ thực sự
ảnh hưởng mạnh đến dự trữ của ngân
hảng hay tiền gửi của khách hàng tại
NHTM.

Là hối phiếu do các xí nghiệp kí phát ,ghi
rõ việc thanh toán sẽ được thực hiện vào
một ngày nhất định rong tương lai. Để
đảm bảo cho cam kết này, NH đón dấu đã
chấp nhận lên hối phiếu. Do tính chất đảm
bảo thanh toán cao nên về cơ bản, các hối
phiếu Ýt có rủi ro. Việc mua bán thương
phiếu được thực hiện bằng cách chiết
khấu một tỉ lệ nhất định trên mệnh giá hối
phiếu.
Chứng
khoán
nợ
dài

Đương nhiên, số lượng, chủng loại hàng hoá được sử dụng trong
nghiệp vụ TTM sẽ khác nhau đối với từng nước. Khi mức độ mở của của
thị trường càng cao, đặc biệt khi áp dụng các kĩ thuật giao dịch hiện đại thì
yêu cầu đối với tính lỏng của hàng hoá được giảm bớt mà vẫn không ảnh
hưởng đến kết quả điều tiết CSTT. Chính vì hàng hoá là điều kiện cần thiết
để bất cứ một thị trường nào đi vào hoạt động, trong đó TTM không phải là
một ngoại lệ, tuy nhiên việc mở rộng và sử dụng chúng hiện còn gặp rất
nhiều bất cập nên kể từ đây, tiểu luận sẽ chủ yếu đi vào giải quyết những
vấn đề còn tồn tại xung quanh hàng hóa của NVTTM. Đương nhiên, hàng
hoá chỉ là một trong số nhiều vướng mắc, cho nên để việc vận dụng
NVTTM có hiệu quả trong điều hành CSTT còn rất cần thiết phải thiết lập
một hệ thống kênh dẫn truyền linh hoạt, tự do hoá tài chính và nâng cao
năng lực điều hành của NHTW.Đảm bảo được những điều kiện đó thì
CSTT càng phát huy hiệu quả,đạt được các mục tiêu đặt ra của CSTT.
- 8 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Chương II
thực trạng về hàng hoá
trong nghiệp vụ thị trường mở ở Việt nam
I. Thực trạng hoạt động NVTTM
Ngày 11 tháng 7 năm 2000, NHNNVN chính thức khai trương hoạt
động TTM, đưa công cụ NVTTM trở thành một trong những công cụ điều
hànhCSTT của NHNNVN. Đây là kết quả bước đầu của cả một quá trình
nỗ lực chuẩn bị nhằm góp phần đổi mới nhằm điều hành CSTT, chuyển đổi
cơ chế điều tiết từ các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp.
Tính đến nay ở nước ta đã có 22 tổ chức tín dụng được cấp giấy
chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở, tăng thêm 4 thành viên
so với khi mới khai trương hoạt động; trong đó có 4 Ngân hàng thương mại
nhà nước, 10 Ngân hàng thương mại cổ phần, 1 ngân hàng liên doanh, 5 chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 công ty tài chính và Quỹ tín dụng Trung

16/12/2003)
Tổng
cộng
1. Doanh số
hoạt động
1.903,5 3.933,8 9.145,53 16.740 31.722,83
- NHNN mua
1.353,5 3.313,8 7.245,53 9.500 21.412,83
- NHNN bán
550 620 1.900 7.240 10.310
2. Số phiên
giao dịch
17 48 85 102 252
II. Hàng hoá giao dịch trong NVTTM
Theo luật NHNN Việt Nam, các loại giấy tờ có giá được giao dịch
thông qua TTM là :
1. Tín phiếu kho bạc
2. Tín phiếu NHNN
3. Các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác do Thống đốc NHNN qui
định cụ thể trong từng thời kì.
- 10 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Điều 12 trong Qui chế NVTTM ban hành kèm theo quyết định số
85/2000/QĐ-NHNN 14 ngày 9/3/2000 của thống đốc NHNN qui định cụ
thể điều kiện giao dịch thông qua TTM của giấy tờ có giá là :
1. Có thể giao dịch được
2. Được phát hành bằng đồng Việt nam
3. Đăng kí tại NHNN theo qui định về việc đăng kí giấy tờ có giá ngắn
hạn của NHNN Việt nam.
4. Giấy tờ có giá được mua bán hẳn phải có thời hạn còn lại tối đa là 90

gián tiếp trong điều hành CSTT theo thông lệ quốc tế : Các giao dịch trên
TTM đã có tác động nhất định tới vốn khả dụng của TCTD và đã góp phần
thực hiện mục tiêu của CSTT, thúc đẩy chu chuyển vốn trong nền kinh tế,
có tác động nhất định đến TTCK. Các qui định về hoạt động TTM ban
hành thời gian qua là phù hợp với các TCTD, với điều kiện hiện nay và sát
gần với thông lệ quốc tế. Tuy vậy, hoạt động của NVTTM đã bộc lộ một số
tồn tại, hạn chế xét cả về mặt khách quan và chủ quan. Đó là :
Về mặt khách quan : Hàng hoá trên TTM Ýt về số lượng, chủng loại
và thời hạn, thành viên tham gia Ýt, chưa sôi động, nếu không muốn nói là
buồn tẻ. Bên cạnh đó, các thị trường khác của ngành Ngân hàng như : thị
trường liên ngân hàng, thị trường mua bán lại tÝn phiếu giữa các TCTD
với khách hàng chưa phát triển, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc hoạt
động chưa ổn định, chưa thu hút đông đảo TCTD nên cũng ảnh hưởng đến
hoạt động của TTM.
Về mặt chủ quan : Có thể nói, do NVTTM là rất mới ở Việt nam
nên có một sè TCTD chưa hiểu biết thực sự về thị trường này. Thành viên
tham gia trong mỗi phiên Ýt khiến cho tác động của NVTTM tới vốn khả
dụng của các TCTD là chưa đáng kể
- 12 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Đó là những vấn đề cần được xem xét, phân tích kĩ hơn để tìm ra
nguyên nhân và giải pháp hữu hiệu cho NVTTM ở Việt nam trong thời
gian tới.
III. Những tồn tại của vấn đề hàng hoá - Nguyên nhân xuất phát
Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở qua hơn hai năm hoạt động đã
đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng
trên cho thấy việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở vẫn còn có nhiều khó
khăn và hạn chế nhất định. Sở dĩ như vậy là vì tại Việt Nam, những điều
kiện để nghiệp vụ thị trường mở phát huy hiệu quả chưa được thoả mãn.
Mét trong những tồn tại tạo ra sự đơn điệu của nghiệp vụ thị trường

-Thứ ba: Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài thường không dồi
dào nguồn tiền đồng Việt Nam để tham gia mua tín phiếu trên thị trường sơ
cấp, từ đó không có hàng hoá để tham gia thị trường mở.
Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trên thị trường thứ cấp chưa linh
hoạt, các TCTD thường mua các tín phiếu này như là một công cụ đầu tư
hơn là một công cụ của tiền tệ để điều tiết vốn khả dụng. Thực tế, các
TCTD chúng thầu thường giữ tín phiếu cho đến khi thanh toán, chỉ có một
phần nhỏ được các ngân hàng dùng làm tài sản thế chấp cho vay vốn lẫn
nhau hoặc vay của ngân hàng nhà nước, mua bán trên thị trường thứ cấp từ
tháng 7 năm 2000 một bộ phận nhỏ tín phiếu kho bạc đã được sử dụng trên
thị trường mở.
-Thứ tư: Các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác hiện có trên thị
trường chưa được tiêu chuẩn hoá, chưa đáp ứng được đòi hỏi về chất
lượng. Chính vì thế mà công cụ của Nghiệp vụ thị trường mở hiện nay chỉ
- 14 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
bao gồm tín phiếu ngân hàng nhà nưóc và tín phiếu kho bạc - rất hạn hẹp
về cả chủng loại, thời hạn và số lượng. Rõ ràng là điều này đã làm cho
Nghiệp vụ thị trường mở không thể hiện đúng bản chất vốn có của nó.
-Thứ năm : Nếu như ở NVTTM tại các nước phát triển (Mĩ, NHTW
Châu Âu ), viẹc xây dựng các biện pháp, chính sách, chế tài chống đỡ rủi
ro cho hàng hóa (tài sản làm đảm bảo ) được coi là vấn đề đáng quan tâm
hàng đầu (quy định tỉ lệ haircut, các biện pháp kí quĩ, các tiêu chuẩn tối
thiểu của tài sản làm đảm bảo ) thì hiện nay ở Việt Nam, các quy định này
hầu như bị bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì vậy, đến
nay chóng ta chưa có biện pháp nào để hạn chế rủi ro cho HĐML và làm
yên lòng các nhà đàu tư .Tất nhiên, trong hiện tại, do mức độ biến động của
giá trên thị trường chưa cao, ta chưa thấy rõ những nguy hiểm xảy ra khi
thiếu các biện pháp bảo vệ cho tài sản. Song, trong thời gian tới, khi có sự
biến đổi bất thường trên thị trường, nếu chúng ta chưa chuẩn bị kĩ càng các

Thứ nhất : Hành vi mua vào và bán ra các loại giấy tờ có giá là hoạt
động diễn ra thường xuyên trên TTM. Chính hành vi mua bán thường
xuyên chứng khoán sẽ tạo ra khả năng nối kết nhiều nguồn vốn ngắn hạn
thành nguồn vốn trung dài hạn để thoả mãn nhu cầu của các chủ thể kinh tế
trên Thị trường vốn.
Thứ hai : Trong NVTTM, không chỉ có phương thức mua bán hẳn
mà còn có phương thức giao dịch có kì hạn.Chính phương thức này có thể
giúp NHTW chủ động về thời hạn và không bị lệ thuộc vào thời hạn của
chứng khoán.
-Ba là: Tạo điều kiện cho các loại hàng hoá mới ra đời bằng việc ban
hành khung luật pháp về việc phát hành và lưu thông giấy tờ có giá .
II. Một số kiến nghị
1. Về phía Cơ quan lập pháp (quốc hội)
Nên chăng, trong thời gian tới, Quốc hội thông qua và sửa đổi một số
điều (điều 9, điều 21 ) trong luật NH theo đề nghị của NHNN để nới lỏng
điều kiện cho hàng hoá giao dịch .
2. Về phía NHNN :
- Nghiên cứu để mở rộng thêm nhiều loại hàng hoá có thể giao dịch
cho nghiệp vụ thị trường mở. Ngân hàng Nhà nước nên đề nghị Chính phủ
trình quốc hội sửa luật ngân hàng Nhà nước (Điều 9, Điều 4 và Điều 21) để
ngân hàng Nhà nước có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở với các giấy
tờ có giá nói chung, chứ không phải chỉ là các giấy tờ có giá ngắn hạn như
đã quy định. Ngoài giấy tờ có giá ngắn hạn được phép lưu hành trên thị
trường mở, ngân hàng Nhà nước nên sử dụng cả các loại chứng khoán dài
hạn có thời hạn còn lại dưới một năm và có tính thanh quản cao như các
loại chứng khoán Chính phủ khác. Như vậy công cụ lưu hành trên thị
trường mở sẽ đa dạng hơn và cũng phù hợp với quy định của các nước
- 17 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
khác. Trên thực tế, lượng trái phiếu kho bạc có thời hạn một năm hiện nay

động đến lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường.
Ở Việt Nam, qua 1 năm đi vào hoạt động, Nghiệp vụ thị trường mở
đã Ýt nhiều đã phát huy được tác dụng trong việc điều hành chính sách tiền
tệ. Trên cơ sở lý luận về Nghiệp vụ thị trường mở, đặc biệt là vấn đề hàng
hoá, khái quát kinh nghiệm sử dụng hàng hoá của một số nước và phân tích
thực trạng vận dụng ở Việt Nam, tiểu luận của em đã đưa ra một số giải
pháp để hoàn thiện hơn và mở rộng số lượng cũng như chủng loại hàng hoá
sao cho phù hợp với tình hình nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới
nhằm thực thi có hiệu quả nhất chính sách tiền tệ của quốc gia . Mặc dù đây
chỉ là những ý kiến chủ quan của em nhưng em hi vọng rằng những gì mà
mình đã đúc kết, tìm hiểu đóng góp phần nào vào sự phát triển của thị
trường mở tại Việt Nam
Do còn nhiều hạn chế trong nhận thức và tìm hiểu thực tiễn, tiểu luận
sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót, em rất mong nhận
được sự chỉ bảo, quan tâm của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn !- 19 -
Tiểu luận Ngân hàng trung ương
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình môn Ngân hàng Trung ương (HVNH)
2. Báo cáo sơ kết hoạt động nghiệp vụ thị trường mở - Ban điều hành
nghiệp vụ thị trường mở, năm 2001.
3. Charles Goodhart: The evolution of central banks, MIT press, 1988.
4. David Cox - Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại.
5. David Begg - Kinh tế học, 2 tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1992.
6. Đặng Chí Chơn: Ngân hàng Nhà nước và việc thực thi có hiệu quả
chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
7. Capital Market - Textbook, 1999.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status