ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ VĂN THẮNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62220302
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH
Chủ tịch Hội đồng:
Thư ký Hội đồng:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
công nghệ làm nền tảng, cơ sở và động lực để phát triển kinh tế - xã hội, cũng
như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó được Đảng ta
khẳng định: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức”1.
Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một đô thị, một trung tâm kinh tế, văn
hóa, khoa học công nghệ lớn nhất của cả nước, mà còn là nơi hội tụ và giao lưu
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội với các vùng trong nước và các khu vực
của thế giới; nên việc phát triển Thành phố Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa là đầu
tàu, là động lực tạo sức lan tỏa, tác động, ảnh hưởng đến các địa phương khác
cùng phát triển. Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, cũng như
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố vẫn chưa tương xứng với
tiềm năng, thế mạnh, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Để
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Thành phố Hồ Chí Minh cần phải phát huy hơn nữa vai trò của khoa học và
công nghệ để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, như Nghị quyết Đảng bộ
Thành phố đã nêu: “Phát triển, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ thật sự
là động lực phát triển kinh tế - xã hội”2. Bởi vậy, việc phát huy vai trò của khoa
học và công nghệ nhằm tạo thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung, cũng như đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói
1
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.218.
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh: Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, 2015, tr.195.
2
riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay không chỉ mang tính thời sự cấp bách,
mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài, nhằm tìm ra những hướng đi, giải pháp,
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002; GS. Đặng Hữu, TS. Đinh Quang Ty và TS. Hồ Ngọc Luật (đồng
chủ biên), tác phẩm “Phát triển kinh tế tri thức với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009; TS. Tạ Bá
3
Hưng (chủ biên), có cuốn “Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa và
hiện đại hóa và phát triển bền vững”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012;
đặc biệt Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng phát huy vai trò động lực của khoa
học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, được cụ thể trong các văn kiện của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; Ở góc độ nghiên cứu về khoa học và công nghệ với quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh: Trước hết
phải kể đến các “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh,
đặc biệt tại các kỳ đại hội lần thứ VII, VIII, IX và lần thứ X” đã phân tích, đánh
giá một cách tổng quát và sâu sắc những kết quả, thành tựu, những tồn tại,
nguyên nhân hạn chế và đề ra các phương hướng, mục tiêu, giải pháp cơ bản để
phát huy vai trò của khoa học và công nghệ làm động lực quan trọng hàng đầu
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; ngoài ra, còn có Chương trình số 01Ctr/TU, “Về thực hiện thông báo kết luận số 234/TB/TW của Bộ Chính trị về
tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, nhiệm vụ giải pháp phát
triển khoa học và công nghệ đến năm 2020”; và Sở Khoa học và Công nghệ
Thành phố Hồ Chí có các đề án “Đánh giá trình độ công nghệ các doanh
nghiệp tham gia chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố
Hồ Chí Minh, 2007” và “Đánh giá trình độ công nghệ của các doanh nghiệp
trong các Khu chế xuất - Khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh”, 2008;
ngoài ra TS. Phan Minh Tân, cũng có bài “Khoa học và công nghệ thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh”, đăng trong kỷ yếu hội thảo
khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ số 1, năm 2009.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện bằng việc sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử và lôgic, phương
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp so
sánh, đồng thời luận án cũng sử dụng các phương pháp thống kê, điều tra xã hội
học và tham khảo các chuyên gia,... để nghiên cứu và trình bày luận án.
6. Tính mới của luận án
Một là, trên cơ sở lý luận chung về vai trò của khoa và công nghệ với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, luận án góp phần làm rõ thực trạng, vai trò của
khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành
phố Hồ Chí Minh. Hai là, từ những phân tích, đánh giá về thực trạng, vai trò
của khoa học và công nghệ đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Thành
phố Hồ Chí Minh, luận án cũng đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ
yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở lý luận chung về vai trò của khoa học và
công nghệ với sự phát triển xã hội, luận án đã làm sáng tỏ những nội dung, đặc
điểm, thực trạng về vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu về thực trạng vai trò của
khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành
phố Hồ Chí Minh, cũng như những phương hướng, giải pháp mà luận án đề ra
sẽ góp phần giúp Đảng bộ, chính quyền, các sở, ban ngành chức năng của
5
Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo trong việc hoạch định chủ trương, chính
sách, giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của khoa học và công nghệ trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
thức khoa học có được nhờ hoạt động nghiên cứu của con người, trong quá
trình nghiên cứu nhà khoa học luôn sử dụng những phương pháp, phương tiện
phù hợp để kiểm định nên tri thức khoa học là tin cậy. Tính thực tiễn, khoa học
6
bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của con người; đồng thời con người luôn tìm
cách để triển khai, ứng dụng những tri thức khoa học mình có được vào hoạt
động sản xuất và đời sống xã hội, như lời Bác Hồ đã chỉ ra “khoa học từ sản
xuất mà ra, trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng
suất lao động, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân”3. Về phân loại
khoa học có thể phân loại như: Theo đối tượng nghiên cứu, khoa học được
phân thành các lĩnh vực, ngành khoa học cụ thể: Khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật... Theo phương thức hình thành, khoa
học được phân thành: khoa học tiền nghiệm, khoa học hậu nghiệm, khoa học
phân lập. Theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu, khoa học được phân thành:
khoa học cơ bản là: “là hệ thống tri thức lí thuyết phản ánh các thuộc tính, quan
hệ, quy luật khách quan của lĩnh vực hiện thực nghiên cứu”4; khoa học ứng
dụng, là sự vận dụng các lý thuyết khoa học đã có để nghiên cứu tạo ra những
nguyên lý, giải pháp, công nghệ, thiết bị, vật liệu, sản phẩm mới. Luận án chọn
phương pháp phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu, khoa học được
phân thành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng.
1.1.2. Công nghệ và các quan điểm khác nhau về công nghệ
Sản xuất là quá trình người lao động dùng tư liệu lao động (gồm công cụ và
phương tiện lao động) tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm, để
xác định các yếu tố tham gia trong quá trình sản xuất, người ta đưa ra khái niệm
công nghệ “là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,
phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”5. Trình độ công
nghệ là tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội “những
cấu trúc, công nghệ được chia thành: công nghệ phần cứng, công nghệ phần
mềm. Theo hàm lượng tri thức khoa học, công nghệ được chia thành: công nghệ
cao, công nghệ thông thường. Khoa học và công nghệ có liên hệ mật thiết
không thể tách rời; bởi, khoa học được hình thành từ nhu cầu thực tiễn về nhận
thức hiện thực khách quan, nhưng cũng chính từ nhu cầu thực tiễn đòi hỏi con
người ứng dụng những tri thức khoa học vào cải tiến, phát triển công nghệ ngày
càng hiện đại hơn.
1.2. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI
1.2.1. Khoa học và công nghệ là nền tảng phát triển xã hội
Khoa học và công nghệ là cơ sở, nền tảng để thúc đẩy xã hội phát triển, điều
đó được thể hiện: Thứ nhất, khoa học và công nghệ là nền tảng phát triển
kinh tế: Giữa phát triển kinh tế và phát triển khoa học và công nghệ có mối
quan hệ biện chứng với nhau, trong đó khoa học và công nghệ là cơ sở, nền
tảng để phát triển kinh tế, bởi: Một là, khoa học và công nghệ là nền tảng phát
triển sản xuất; biểu hiện ở chỗ: Khoa học và công nghệ là cơ sở phát triển
nguồn nhân lực, là nền tảng để hiện đại hoá máy móc, phương tiện, quy trình,
công nghệ và là nền tảng để sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường trong quá trình sản xuất. Hai là, khoa học và công nghệ là nền tảng
hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý sản xuất: Khoa học và công nghệ tạo cơ sở
để hoàn thiện, phát triển công tác tổ chức, quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất, hiệu quả kinh tế. Bản thân công tác tổ chức, quản lý cũng là một khoa học.
Ba là, khoa học và công nghệ là cơ sở, nền tảng để thay đổi cơ cấu kinh tế:
Khoa học và công nghệ phát triển thúc đẩy nhiều ngành kinh tế như công
nghiệp, giao thông, dịch vụ phát triển và làm cho sự phát triển kinh tế giữa các
ngành, các vùng đồng đều hơn. Thứ hai, khoa học và công nghệ là nền tảng
phát triển đời sống xã hội: Con người vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá
trình phát triển xã hội, trong quá trình sống và phát triển con người không chỉ
cần các điều kiện vật chất, mà còn có những nhu cầu về đời sống văn hóa xã
hội. Khoa học và công nghệ là cơ sở để phát triển và nâng cao đời sống văn hóa
kinh tế: Để phát triển kinh tế thì cần rất nhiều yếu tố, trong đó khoa học và
công nghệ là động lực chủ yếu, bởi: Một là, khoa học và công nghệ là động lực
phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Hai là,
khoa học và công nghệ là động lực phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Ba là, khoa
học và công nghệ là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới, hiện đại hóa công
nghệ, quy trình sản xuất. Thứ hai, khoa học và công nghệ là động lực của
phát triển đời sống tinh thần xã hội: Khoa học và công nghệ là động lực để
phát triển và nâng cao đời sống tinh thần xã hội, bởi: Một là, khoa học và công
nghệ là động lực phát triển y tế, khoa học và công nghệ vừa là điều kiện, vừa là
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.77.
9
động lực để phát triển cả về hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ,
phương pháp và đội ngũ thầy thuốc, cán bộ y tế để nâng cao khả năng phòng
chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ của con người. Hai là, khoa học và công
nghệ là động lực phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với
giáo dục và đào tạo là hai mặt của quá trình nhận thức, khoa học và công nghệ
tạo ra nguồn tri thức, phương pháp, phương tiện để thực hiện quá trình giáo dục
và đào tạo, đồng thời cũng tạo ra nhu cầu, động lực thúc đẩy giáo dục đào tạo
phát triển. Những tri thức khoa học được kết tinh ngày càng nhiều vào công
nghệ, vào sản phẩm, dịch vụ trong đời sống xã hội, từ đó tạo ra nhu cầu, động
lực để người lao động nói riêng và con người nói chung học tập để nâng cao
trình độ tri thức, để hội nhập vào xã hội tri thức. Ba là, khoa học và công nghệ
là động lực phát triển văn hóa, tinh thần: Khoa học và công nghệ phát triển tạo
điều kiện để chuyển hóa, kết tinh, hội tụ các giá trị văn hóa tinh thần ngày càng
nhiều vào sản phẩm, dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng cao những yêu cầu
2.1. QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1.1. Khái quát về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông
nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề qua các cuộc chiến tranh, nên
trình độ sản xuất, năng suất lao động còn thấp, cơ sở vật - chất kỹ thuật còn yếu
kém, trình độ, năng lực của người lao động thấp, công nghệ, trang thiết bị còn
lạc hậu, sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp, vào lao động giản đơn… Để
xây dựng phát triển, hiện đại hóa đất nước, tránh nguy cơ tụt hậu, tất yếu chúng
ta phải lấy “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm”8 của thời kỳ
quá độ. Bởi, nội dung, nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam hiện nay, chính là: 1). Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại; 2).
Hiện đại hóa công nghệ; 3). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; 4).
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả; 5). Hoàn
thiện công tác tổ chức quản lý sản xuất. Có thể khái quát những đặc điểm của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, gồm: Thứ nhất
là, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá: Đó là do đặc điểm, yêu cầu khi
khoa học và công nghệ đang phát triển với tốc độ vũ bão, trong bối cảnh toàn
cầu hóa. Thứ hai là, khoa học và công nghệ được xác định là động lực của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá: Như Đảng ta đã chỉ ra: “Phát triển mạnh khoa học,
công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”9.
Thứ ba là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình khó khăn, phức tạp
và toàn diện của sự phát triển kinh tế - xã hội. Thứ tư là, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển như vũ bão
của khoa học và công nghệ. Về phương thức tiến hành công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, đó là: 1). Phải phát triển công nghệ hiện đại gắn với việc phát huy vai
trò của công nghệ truyền thống nhằm vừa phải phát huy những tiềm năng về lực
lượng lao động dồi dào, về công nghệ truyền thống để phát triển sản xuất; đồng
thời nhanh chóng hiện đại hoá nền kinh tế; 2). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
gắn với việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 3). Công
là yêu cầu tất yếu do tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội hiện nay, cũng như để
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
Thành phố. Thứ hai là, tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng
cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế: Trong những năm
qua, Thành phố đã tập trung phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng:
dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, kết quả thể hiện qua (biểu đồ 1):
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014
(Nguồn: Cục Thống kê TP.Hồ Chí Minh, Niên giám thống kê năm 2014)
Tuy nhiên, với yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Thành phố cần tiếp tục tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao
tỷ trọng các ngành công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao, dịch vụ cao. Thứ ba là,
đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất nhằm hiện đại hoá nền kinh tế: Công
12
nghệ của Thành phố đa phần đã lỗi thời, năng suất, hiệu quả lao động và chất
lượng sản phẩm thấp, sức cạnh tranh kém, nền sản xuất còn mang nặng tính gia
công, sơ chế, dựa vào lao động giản đơn. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập tiến vào nền kinh tế tri thức, Thành phố cần đẩy
nhanh quá trình đổi mới, hiện đại hoá công nghệ để nâng cao năng suất, hiệu
quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư là, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao: Đó là nội dung quan trọng hàng đầu, bởi: 1). Do yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là việc phát triển công nghệ cao của Thành
phố; 2). Thành phố có nguồn lao động dồi dào, có trình độ khoa học và công
nghệ, có tư duy năng động, sáng tạo; 3). Thành phố là trung tâm khoa học, công
nghệ, giáo dục & đào tạo với hàng trăm trường đại học, trường nghề, các trung
tâm nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao. Thứ năm là, hoàn thiện
công trình thi công qua đó đã thúc đẩy việc phát triển, hoàn thiện, đồng bộ hệ
thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, như: 1). Phát triển hệ thống công trình giao thông
ngày càng hoàn thiện, hiện đại đảm bảo kết nối giao thông giữa các khu vực
trong Thành phố, giữa Thành phố với các địa phương trong vùng, phát triển hệ
thống các công trình cảng, bến bãi, các công trình xây dựng cơ bản phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội; 2). Hoàn thành việc điện khí hoá nông thôn, hoàn
thiện hệ thống cung cấp năng lượng, hệ thống cấp, thoát nước; 3). Phát triển
nhanh hệ thống thông tin liên lạc, mạng, viễn thông của Thành phố ngày càng
hoàn thiện, hiện đại. Những đóng góp, tác động của khoa học và công nghệ đối
sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Thành phố Hồ Chí Minh là hết sức to
lớn, trực tiếp, điều đó đã có tác dụng đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Thành phố. Tuy nhiên, sự tác động, ảnh hưởng của khoa học và
công nghệ đến sự phát triển, hoàn thiện, hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ
thuật của Thành phố vẫn còn những hạn chế, dẫn đến hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ
thuật phát triển còn chậm, thiếu đồng bộ, ngày càng quá tải, chưa đáp ứng kịp
yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gây ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Sở dĩ còn những tồn tại đó là do
công tác quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, khoa học,
chưa phù hợp với nhu cầu, tốc độ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
công tác nghiên cứu, triển khai ứng dụng những thành tựu, tiến bộ của khoa học
và công nghệ vào việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế,
chưa trở thành tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong thiết kế, thi công…
2.2.2. Tác động của khoa học và công nghệ đến quá trình đổi mới, hiện
đại hóa công nghệ: Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, cùng với việc
đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao, tiếp nhận những kết quả, thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại vào phát triển sản xuất và đời sống xã hội trong những
năm qua đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới, hiện đại hóa công
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, điều đó được thể hiện qua các tiêu chí: 1). Tác
động của khoa học và công nghệ đến việc đổi mới, thay thế công nghệ, máy
móc trang thiết bị của Thành phố; 2). Tác động của khoa học và công nghệ đến
Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ trọng nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng
được nâng lên trong cơ cấu lao động; 2). Khoa học và công nghệ cũng tác động
không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố
Hồ Chí Minh, trình độ khoa học và công nghệ, năng lực làm chủ, cải tiến công
nghệ, tác phong công nghiệp… của người lao động Thành phố ngày một nâng
cao; 3). Khoa học và công nghệ cũng là nhân tố chính làm chuyển dịch cơ cấu
nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng nguồn
nhân lực chất lượng cao được tập trung vào các ngành công nghệ mũi nhọn,
công nghệ cao. Khoa học và công nghệ đã không chỉ làm gia tăng nhanh chóng
nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn không ngừng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng
15
hiện đại, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có được
những thành tựu, kết quả đó là do Thành phố tập trung quan tâm xây dựng phát
triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là nhiệm vụ
trọng tâm chiến lược. Tuy nhiên, sự phát triển của khoa học và công nghệ chưa
có nhiều tác động tích cực, hiệu quả đến việc phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của Thành phố, nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố còn thiếu
và chất lượng chưa cao, cơ cấu chưa phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sở dĩ, còn những tồn tại, hạn chế đó là
do công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực cao còn chưa phù hợp với yêu
cầu thực tiễn.
2.2.4. Tác động của khoa học và công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Khoa học và công nghệ là nhân tố chính trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Thành phố ngày càng hiện đại, thể hiện: 1). Khoa học và công nghệ là
nhân tố tác động thường xuyên, trực tiếp thúc đẩy cơ cấu kinh tế Thành phố
ít ô nhiễm, công nghệ tiết kiệm năng lượng…, đã có tác dụng tiết kiệm nguyên,
vật liệu, năng lượng trong sản xuất, đó là cơ sở, điều kiện quan trọng để bảo vệ
môi trường, tài nguyên Thành phố. Hai là, khoa học và công nghệ là nhân tố
chính đảm bảo sự phát triển bền vững, đó là việc áp dụng công nghệ hiện đại,
công nghệ cao vào sản xuất và đời sống xã hội, giúp kinh tế Thành phố phát
triển ổn định, giảm bớt sự phụ thuộc vào thiên nhiên, vào nguồn lao động phổ
thông, đảm bảo kinh tế Thành phố tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, sự tác động
của khoa học và công nghệ đến việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
của Thành phố cũng còn những hạn chế, tồn tại, đó là việc sử dụng tài nguyên
đất, tài nguyên nước chưa đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, tình trạng ô nhiễm, ngập
úng, ùn tắc giao thông đang là nỗi bức xúc của người dân, sở dĩ còn những tồn
tại trên là do, việc quy hoạch chưa đồng bộ, khoa học, việc áp dụng các tiêu
chuẩn quản lý bộ vệ môi trường còn chưa chặt chẽ, khoa học.
Kết luận chương 2
Thành phố Hồ Chí Minh với những đặc điểm riêng có của mình là trung
tâm, là đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong những năm qua
Thành phố đã không ngừng đẩy mạnh việc ứng dụng những tiến bộ của khoa
học, công nghệ vào sản xuất - kinh doanh để đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và đạt được nhiều kết quả, thành tựu to lớn. Thành phố đã
phát triển mạnh mẽ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng đồng bộ, hiện
đại; là việc phát triển, hiện đại hóa công nghệ, đặc biệt là các ngành công
nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao; là việc phát triển và
không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; từ đó đã thúc đẩy cơ cấu
kinh tế Thành phố chuyển dịch theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển bền
vững. Tuy nhiên, những tác động của khoa học và công nghệ đối với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, cũng còn những
hạn chế, tồn tại, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Thành phố. Do
17
triển công nghệ cao, “nâng tỷ trọng các yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng
góp vào tăng tưởng kinh tế”10 để hiện đại hóa và từng bước hội nhập vào nền
kinh tế tri thức. Hai là, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ để xây dựng
phát triển đời sống văn hoá xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ
môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ba là, phát huy vai trò của khoa
10
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh: Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, 2015, tr.189.
18
học và công nghệ nhằm bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính
trị - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.
3.1.2. Phát triển khoa học và công nghệ dựa trên những đặc điểm, tiềm
năng, thế mạnh của Thành phố, đồng thời tiếp thu những tiến bộ về khoa
học và công nghệ của thời đại
Một là, Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí phải dựa trên những đặc điểm,
tiềm năng, thế mạnh của mình để xây dựng phương hướng phát triển phù hợp,
mang đặc trưng riêng có của Thành phố, nhằm phát huy cao độ những nguồn
lực, tiềm năng thế mạnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại. Hai là, Phát huy vai
trò của khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Thành phố Hồ Chí phải tiếp thu những tiến bộ, thành tựu khoa học và công
nghệ của thời đại để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tránh
nguy cơ tụt hậu, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững.
3.1.3. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ đối với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới những
đột phá về phát triển công nghệ cao và kinh tế tri thức
đắn, toàn diện về vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bởi: Một là, nhận thức giúp con
người hiểu rõ bản chất, tính quy luật, xu thế phát triển của hiện thực khách
quan, từ đó đưa ra những cách thức, phương pháp phù hợp, hiệu quả trong mọi
hành động, hoạt động thực tiễn của mình một cách chủ động, tự giác, có ý thức,
có kế hoạch. Hai là, từ nhận thức khoa học con người luôn tìm cách ứng dụng
vào tạo ra các công nghệ, phương tiện, phương pháp để nâng cao năng suất,
hiệu quả của quá trình lao động sản xuất, từ đó chuyển hoá những tiềm năng
thành sản phẩm. Ba là, nhận thức đúng đắn giúp con người chuyển từ hoạt động
tự phát, thiếu tổ chức sang hoạt động tự giác, có tổ chức cao. Quá trình nâng
cao nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ phải được tiến hành thường
xuyên trong toàn hệ thống chính trị, xã hội của Thành phố, bao gồm: Một là,
nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền Thành phố
Hồ Chí Minh, bởi đây là xuất phát của mọi chủ trương, đường lối, cơ chế chính
sách, là trung tâm điều khiển, là đầu não của hệ thống tổ chức chính trị, xã hội
Thành phố. Hai là, nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với các cơ quan quản lý, tổ chức
sản xuất - kinh doanh của Thành phố Hồ Chí Minh: đây là nơi triển khai, hướng
dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản
xuất và đời sống xã hội Thành phố; hơn thế nữa, các cơ sở sản xuất - kinh
doanh, chính là cơ sở trực tiếp của việc đổi mới hiện đại hoá công nghệ. Ba là,
nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với người lao động và nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, bởi, những nghị quyết, chủ trương, đường lối, phương hướng, giải pháp
phát huy vai trò của công nghệ có trở thành hiện thực hay không, có phát huy
tích cực hay không suy cho đến cùng là do người lao động và quần chúng nhân
dân thực hiện.
Chí Minh cần nâng cao năng lực bộ máy, đội ngũ cán bộ, phát triển và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực khoa học và công nghệ phục vụ quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Bởi, 1). Muốn phát triển, phát huy vai trò của khoa học và
công nghệ, thì điều căn bản, lâu dài vẫn là phải đẩy mạnh các hoạt động khoa
học và công nghệ để phát triển các nguồn lực khoa học và công nghệ. 2). Thông
qua việc đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ của Thành phố mới phát
hiện những điều chưa phù hợp, những hạn chế, bất cập về việc phát triển, phát
huy vai trò của khoa học và công nghệ Thành phố, từ đó giúp Thành phố tiếp
21
tục bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, cơ chế, chính sách. 3). Nguồn lực khoa
học và công nghệ là vốn quý, là năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu của
Thành phố Hồ Chí Minh đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
phát triển nền kinh tế tri thức, nên cần phải tổ chức, quản lý sử dụng hiệu quả.
Cụ thể cần tập trung vào các nhóm giải pháp: Một là, phát triển và nâng cao
năng lực hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Thành phố Hồ Chí
Minh, sẽ thúc đẩy các nguồn lực khoa học và công nghệ, như phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ, đặc biệt là các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, triển khai khoa học và
công nghệ ở doanh nghiệp. Hai là, phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh, nguồn lực khoa
học và công nghệ là vốn quý, là năng lực nội sinh quan trọng bậc nhất, nên
Thành phố cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực khoa học và công nghệ, một
cách đồng bộ, như Đảng bộ Thành phố đã chỉ ra “thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ
chủ yếu phát triển khoa học - công nghệ: nâng cao trình độ nghiên cứu và năng
lực sáng tạo khoa học - công nghệ; đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý; đẩy mạnh
ứng dụng phát triển công nghệ cao. Tăng đầu tư để phát triển khoa học - công
nghệ; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao”11. Ba là, phát triển dịch vụ khoa
giá trị toàn cầu, từ đó thúc đẩy hỗ trợ các ngành công nghệ trọng yếu phát triển.
3.2.5. Phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
của Thành phố Hồ Chí Minh
Để thực hiện mục tiêu chiến lược của Thành phố, để các giải pháp phát
triển, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trở thành hiện thực, thì Thành
phố cần phát triển sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi, suy
cho đến cùng chiến lược, giải pháp cũng do người lao động thực hiện; vì vậy,
Thành phố cần: Một là, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất
lượng cao. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố Hồ Chí
Minh đang chuyển qua gia đoạn phát triển theo chiều sâu, đó là hiện đại hóa
công nghệ, phát triển công nghệ cao, hội nhập vào nền kinh tế tri thức, điều đó
yêu cầu Thành phố cần phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao làm cơ
sở, nền tảng, động lực phát triển Thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình, với
chất lượng sống tốt. Hai là, sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn nhân lực chất lượng
cao, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực quý giá, là năng lực nội sinh
của khoa học và công nghệ đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
Thành phố Hồ Chí Minh cần được sử dụng hợp lý, hiệu quả để phát huy vai trò
làm cơ sở, động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kết luận chương 3
Để phát huy hơn nữa vai trò của khoa học và công nghệ với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh, luận án đề xuất những
phương hướng sau: Một là, Phát triển khoa học và công nghệ thực sự trở thành
động lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở mục tiêu chiến
lược của Thành phố; hai là, Phát triển khoa học và công nghệ dựa trên những
đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh của Thành phố, đồng thời tiếp thu những tiến bộ
về khoa học và công nghệ của thời đại; ba là, Phát huy vai trò của khoa học và
công nghệ đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí
Minh hướng tới những đột phá về phát triển công nghệ cao và kinh tế tri thức.
12
đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong những năm qua Thành
phố đã không ngừng phát triển, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ
phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được nhiều kết quả,
thành tựu to lớn trên các lĩnh vực, đó là đã phát triển mạnh mẽ hệ thống cơ sở
hạ tầng kỹ thuật; phát triển, hiện đại hóa công nghệ, đặc biệt là các ngành công
nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao; đồng thời không
ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; từ đó đã thúc đẩy cơ
cấu kinh tế Thành phố chuyển dịch theo hướng hiện đại, chính những điều đó
đã tác động đến kinh tế Thành phố trong những năm qua luôn phát triển ổn định
với mức tăng trưởng GDP hàng năm bình quân khoảng 10%, là một trong
những địa phương có mức tăng trưởng cao và ổn định nhất nước. Tuy nhiên,