ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
PHẠM THỊ MỸ PHƯỢNG
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Luận án được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Cán bộ hướng dẫn khoa học
PGS,TS. TRỊNH DOÃN CHÍNH
Chủ tịch hội đồng:
Phản biện độc lập 1:
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển nhanh như vũ
bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sự hình thành nền kinh tế tri
thức ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận động và phát triển của tất cả các
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn với sự phát triển của nền kinh tế tri
thức đặt ra yêu cầu ngày càng cao cho sự phát triển gắn kết giữa nguồn nhân
lực chất lượng cao với khoa học và công nghệ. Đây là hai nguồn lực quan
trọng nhất quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia trong giai
đoạn hiện nay.
Tiền Giang là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, ít tài nguyên, nhưng được thiên nhiên ưu đãi, có vị trí địa lý - tự nhiên
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, năng
động và sáng tạo. Mặc dù trong thời gian qua tỉnh Tiền Giang rất chú trọng đến
công tác đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển khoa học công nghệ
nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân chính là
thiếu sự gắn kết giữa phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ nên chưa tạo sự phát triển đồng
bộ. Do vậy, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ là một khâu đột phá, là một trong
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Đây là vấn
đề vô cùng cấp thiết nhằm rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
tỉnh Tiền Giang.
Với những lí do trên, xét về mọi phương diện từ lý luận đến thực tiễn, tác
giả đã chọn vấn đề “Quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” của tác giả Lê
Văn Phục do Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 2014;
“Phát triển khoa học và công nghệ - Một số kinh nghiệm của thế giới” của
GS.TS. Tạ Ngọc Tấn chỉ đạo biên soạn, do Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà
Nội xuất bản năm 2012; “Nền kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ kỹ thuật”
của TS. Trần Đình Thêm và TS. Trần Đức Ba do Nxb.Thanh niên xuất bản năm
2011; “Khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu” của GS. TS. Vũ
Đình Cự do Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1996; “Công nghệ
tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam” của TSKH. Phan Xuân Dũng (chủ biên) do Nxb.Chính trị quốc gia, Hà
Nội xuất bản năm 2008; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá nhiệm
vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam” của TSKH. Phan Xuân Dũng (chủ
biên), do Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2006; “Vai trò của tri
thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”
của TS. Trần Hồng Lưu do Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2009;
“Khoa học và công nghệ Việt Nam - Những sắc màu tiềm năng” của Liên hiệp
các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam do Nxb. Thanh niên xuất bản năm 2000,
và “Khoa học và các khoa học (La science et les sciences)” của Phan Ngọc,
Phan Thiều (dịch) do Nxb.Thế giới xuất bản năm 1995; “Đẩy mạnh xã hội hóa
3
các hoạt động khoa học - công nghệ ở Việt Nam” của PGS.TS. Định Trọng
Thịnh, TS. Nguyễn Minh Phong do Nxb.Tài chính, Hà Nội xuất bản năm 2011;
… Đây là những công trình nghiên cứu những vấn đề về con người, nguồn
nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực, khoa học
và công nghệ dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có các công trình:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” của GS.TS.
4
hệ của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội; hay công trình “Xây dựng, phát
triển thị trường khoa học và công nghệ nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” của TS. Hồ Đức Việt (chủ biên) do Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội xuất bản năm 2010, đã đi sâu phân tích và định hướng xây dựng và phát
triển thị trường khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
trong nền kinh tế thị trường,…
Thứ ba là, những văn bản, nghị quyết, chính sách, kế hoạch, đề án về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công nghệ
của tỉnh Tiền Giang
Đề cập đến chủ đề này có các Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và
hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI) do Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội xuất bản năm 2013; các Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, IX, X, XI do Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản; các Văn kiện đại
hội đại biểu lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng bộ tỉnh Tiền Giang. Ngoài ra còn
những văn bản, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học
và công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức và sử dụng, thu
nhút nhân tài của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Sở Khoa học
và Công nghệ, Sở Nội vụ tỉnh Tiền Giang,… Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
để tỉnh Tiền Giang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển
khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích: Tìm ra những phương hướng và giải pháp cơ bản nhất nhằm
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển khoa học và
công nghệ ở Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhiệm vụ:
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt các phương pháp và
các nguyên tắc cơ bản của triết học mácxít như khách quan, toàn diện, phát
triển, lịch sử cụ thể, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và
so sánh, thống kê để nghiên cứu và trình bày những vấn đề đặt ra trong luận án.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học
Luận án đã góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và công nghệ nói chung,
cũng như làm rõ tình hình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với
phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang nói riêng trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ý nghĩa thực tiễn
- Là cơ sở lý luận góp phần hoạch định những chủ trương, những biện pháp
nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học và công
nghệ ở tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy.
7. Cái mới của luận án
- Luận án đã chỉ ra thực trạng mối quan hệ biện chứng giữa phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ trong thời
6
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang.
- Luận án đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản để góp phần
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnhTiền Giang .
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 328.
3
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2004): Quản lý nguồn nhân lực ở Việt
Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội và Hà Nội, tr. 8.
1
7
thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một
nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” 4.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực có
vai trò vô cùng quan trọng nên khi xem xét, phân tích nguồn nhân lực phải xét
ở những góc độ về số lượng, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng.
Về số lượng nguồn nhân lực: Số lượng nguồn nhân lực là tổng số người
lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
được quy định bởi quy mô dân số và lực lượng lao động. Thực tế, có hai nhóm
yếu tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn nhân lực.
Về chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực được quy
định bởi các yếu tố như sức khỏe, đạo đức, trình độ văn hóa, trình độ chuyên
môn kỹ thuật, năng lực sáng tạo và thẩm mỹ; trong đó trình độ văn hóa và
chuyên môn kỹ thuật đóng vai trò quyết định. Định nghĩa này đã thể hiện
những tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện ở phương diện cơ cấu trình độ đào
tạo, cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu phân bố nguồn nhân lực ở
các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau,…
Về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nếu nguồn nhân lực được đào tạo
và sử dụng hợp lý sẽ nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Ngược lại, nếu sử dụng nguồn nhân lực bất hợp lý, phân công không
đúng người, không đúng việc sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của quốc
gia.
có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững của cộng
đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là tổng thể các cách thức,
phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo sự tăng trưởng về số lượng,
chất lượng và hiệu quả quản lý, sử dụng, lao động sáng tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về số lượng là phải
mở rộng quy mô dân số và lực lượng lao động theo một cơ cấu hợp lý nhằm
đảm bảo lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu trẻ, khỏe, có khả năng chịu
đựng và thích nghi tốt trước những áp lực công việc; phải đảm bảo tỷ lệ sinh và
phân bố dân số thích hợp với đặc trưng phát triển của từng vùng miền, lãnh thổ;
làm giảm số người thất nghiệp, số người làm nội trợ; làm cho số người trong độ
tuổi lao động có việc làm và nâng cao hiệu quả lao động của số người đang làm
việc trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Song song với việc nâng cao về số lượng, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao phải được chú trọng về mặt chất lượng. Nghĩa là phát triển ở các
phương diện thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và nhân cách, đạo
đức, lối sống, phong cách, thái độ làm việc. Đây là những tố chất cơ bản nhất
để nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện vai trò của mình trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò
quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì nguồn nhân lực chất lượng cao là
chủ thể và động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và quyết định sự
thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần rút ngắn
toàn diện của mỗi quốc gia; là một trong những động lực mạnh mẽ của sự
nghiệp đổi mới lực lượng sản xuất, đặc biệt là góp phần ổn định và phát triển
bền vững kinh tế - xã hội; là cơ sở xây dựng đời sống văn hóa, vật chất, tinh
thần xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu hướng đến hội nhập quốc tế.
1.3. QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Trong bộ Tư bản, C.Mác khẳng định, để sản xuất ra những con người phát
triển toàn diện cần phải có một nền khoa học - kỹ thuật hiện đại. Song song đó,
10
khoa học và công nghệ muốn phát triển phải có những con người có sức khỏe,
có trí tuệ năng động, sáng tạo, có trình độ chuyên môn cao để phát minh ra
những sản phẩm khoa học và công nghệ cho nhân loại. Như vậy, sự phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học và công nghệ có mối
quan hệ biện chứng với nhau.
1.3.1. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là mục tiêu và động
lực để phát triển khoa học và công nghệ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học và công nghệ, cùng với việc so sánh với các nguồn lực khác thì nguồn
nhân lực chất lượng cao là mục tiêu và động lực để phát triển các nguồn lực
khác, nhất là nguồn lực khoa học và công nghệ. Song song với sự phát triển
của nguồn nhân lực chất lượng cao, trong lực lượng sản xuất, công cụ lao
động có một vai trò quan trọng không kém. Nó là thước đo sự chinh phục tự
nhiên của con người. Hiện nay, chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của cách
mạng khoa học và công nghệ, nên những phát minh và thành tựu của khoa học
và công nghệ trở thành công cụ lao động hiện đại và có hiệu quả cao trong
tiến trình phát triển của nhân loại. Khoa học và công nghệ là thành quả do
thì bên cạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải phát triển khoa học
và công nghệ. Vì khoa học và công nghệ là tiền đề và điều kiện phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao. Qua đó, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong
khu vực và thế giới đặc biệt là trong giai đoạn đầy biến động về kinh tế - xã hội
toàn cầu hiện nay.
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa
học và công nghệ là nhân tố quyết định sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
Kết luận chương 1
Ngày nay, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với khoa học và công
nghệ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia, dân tộc. Hai yếu tố này có quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, nguồn
nhân lực chất lượng cao là mục tiêu và động lực phát triển mọi nguồn lực
khác, trong đó có khoa học và công nghệ; còn khoa học và công nghệ là điều
kiện và tiền đề góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì thế, đầu
tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học và
công nghệ là một trong những quốc sách hàng đầu của quốc gia, là động lực
cơ bản thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở TỈNH TIỀN GIANG
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ - TỰ NHIÊN, ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG
2.1.1. Điều kiện địa lý - tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh
Tiền Giang
Tiền Giang là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm
2.1.2.2. Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang tuy có đặc trưng chung giống với các tỉnh ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của tỉnh nên đặc
điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng có những nét đặc thù riêng của
tỉnh Tiền Giang
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang là một quá trình
toàn diện, lấy phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản làm
trung tâm để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành hợp lý.
Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang lấy phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học và công nghệ làm điều kiện và động
lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế tri thức.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang lấy phát triển
kinh tế và an sinh xã hội làm mục tiêu chung cho sự phát triển toàn diện
Thứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình khó khăn và lâu dài
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tiền Giang.
13
2.2. THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÁC ĐỘNG GIỮA PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỚI PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA Ở TỈNH TIỀN GIANG
2.2.1. Thực trạng của sự phát triển gắn kết giữa nguồn nhân lực chất
lượng cao với khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Tiền Giang
* Những thành tựu đạt được trong việc vận dụng sự gắn kết giữa phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học và công nghệ ở
tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Suốt quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang
tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế còn chậm, chưa tạo chuyển biến rõ
nét. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp. Lĩnh vực nông
nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, lúng túng trong tái
cơ cấu nền nông nghiệp, việc áp dụng công nghệ sinh học và công nghệ cao
trong sản xuất còn hạn chế. Kinh tế hợp tác phát triển chậm, hiệu quả thấp. Chỉ
đạo và triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới chưa đạt chỉ
tiêu nghị quyết đề ra.
Công nghiệp phát triển còn mang tính tự phát, thiếu tính quy hoạch, kế
hoạch, chưa có chiến lược rõ ràng; quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu,
chủ yếu là sơ chế, giá trị gia tăng không cao, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao.
Sản xuất, kinh doanh của các ngành kinh tế, các doanh nghiệp và nhân dân còn
gặp nhiều khó khăn.
Kết cấu hạ tầng ở một số địa phương chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, nhất
là giao thông; kết cấu hạ tầng nông thôn còn khó khăn. Môi trường đầu tư chậm
được cải thiện, tiến độ đầu tư và triển khai xây dựng các công trình, dự án trọng
điểm trên địa bàn còn chậm.
Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, hiệu quả đào tạo
nghề trong nông nghiệp, nông thôn còn thấp. Sự phát triển văn hóa chưa tương
xứng với phát triển kinh tế; đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phân dân cư
vùng căn cứ kháng chiến còn chênh lệch so với khu vực đô thị. Số hộ cận
nghèo còn cao. An ninh, trật tự, an toàn xã hội còn tiềm ẩn diễn biến phức tạp;
công tác giải quyết khiếu kiện trong nhân dân, nhất là kiếu kiện đông người,
phức tạp còn kéo dài. Tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong nhân dân còn khá
gay gắt, hiệu lực và hiệu quả giải quyết của chính quyền chưa cao.
Công tác khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng ở một số vụ còn
chậm. Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là quản
lý quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, đất đai, bảo vệ môi trường, cải cách
hành chính. Một số tổ chức đoàn thể còn lúng túng trong việc đổi mới nội dung,
nhập quốc tế hóa nên đòi hỏi tỉnh Tiền Giang phải có nguồn nhân lực chất
lượng cao phát triển toàn diện về phẩm chất đạo đức, thể lực, trí lực và năng lực
lao động sáng tạo.
Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nhiều thời cơ và thách thức,
tạo điều kiện cho sự đổi mới về chất của nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm
đáp ứng kịp thời những biến đổi mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa hiện nay. Thực tiễn đã chứng minh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mang
đến nhiều thời cơ cho nguồn nhân lực chất lượng cao ở Tiền Giang như: tạo
nhiều cơ hội về việc làm và tạo môi trường cạnh tranh phát triển hiệu quả lao
động sáng tạo của nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ở
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, công nghiệp chế biến; nhưng cũng đặt ra một
thách thức lớn cho nguồn nhân lực là phải có đội ngũ cán bộ khoa học và công
nghệ chất lượng cao, có năng lực lao động sáng tạo, có những phát minh khoa
học vĩ đại phục vụ cho nhu cầu phát triển, thích ứng với đặc điểm và nội dung
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Tiền Giang.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển và nâng cao vị thế của khoa học và công nghệ. Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở tỉnh Tiền Giang là quá trình chuyển đổi trạng thái kinh tế - xã hội từ nền
16
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp sang nền
kinh tế nông - công nghiệp hiện đại, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Vì
thế, phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở đẩy mạnh phát
triển khoa học và công nghệ, vận dụng những thành quả khoa học và công nghệ
vào sản xuất làm cho nền kinh tế phát triển hơn. Đây là đòi hỏi bức thiết nhất
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình phát triển kinh tế thị
trường, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Tiền Giang trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang góp phần thúc
17
nghệ sẽ giúp Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Tiền Giang có những
phương hướng và giải pháp thích hợp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao gắn với phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo động lực thúc đẩy sự
thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang trong
thời kỳ văn minh trí tuệ.
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO KẾT HỢP VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA
3.1.1. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển
khoa học và công nghệ phải xuất phát từ thế mạnh và yêu cầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang
Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển
khoa học và công nghệ gắn với thế mạnh từng vùng của tỉnh, đi vào trọng tâm,
trọng điểm.
Hiện nay, tỉnh Tiền Giang có 03 vùng kinh tế trọng điểm và 16 đô thị với
những đặc trưng riêng nên cần có những phương hướng phát triển khác nhau
phù hợp với các vùng miền trong toàn tỉnh.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển
khoa học và công nghệ phải nhằm phục vụ cho việc thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang muốn thành
công phải đặt nó gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,
đổi mới căn bản, toàn diện về nhận thức, ứng dụng khoa học và chuyển giao
công nghệ phục vụ cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đối với tỉnh Tiền Giang, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa yêu cầu
phải phát triển toàn diện con người, đặc biệt là con người có trình độ cao, có
năng lực lao động sáng tạo, biết vận dụng tốt các thành tựu khoa học và công
nghệ vào sản xuất. Muốn phát triển khoa học và công nghệ phải nâng cao chất
lượng của đội ngũ cán bộ, những người làm công tác nghiên cứu khoa học và
đào tạo những người có kỹ năng và ứng dụng công nghệ trên mọi lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội,...
3.1.3. Kết hợp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với phát triển
khoa học và công nghệ tạo động lực thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Tiền Giang
Thứ nhất, quy hoạch các đề án, chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao và phát triển khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Tiền Giang.
Để thực hiện mục tiêu phát triển của tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, Đảng
bộ, chính quyền và các ban ngành trong tỉnh phải đề ra những quy hoạch, đề án,
19
chiến lược cụ thể để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển
khoa học và công nghệ. Thông qua các kế hoạch, quyết định, chiến lược, đề án
về phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức, viên
chức, tỉnh Tiền Giang đã có được nguồn nhân lực tăng lên về số lượng và chất
lượng. Những đề tài, dự án, chiến lược, kế hoạch đẩy mạnh hoạt động nghiên
cứu, triển khai khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã
góp phần quan trọng khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, mở ra các
hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất
công nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều lao động, góp phần xóa
20
động để thu hút nhiều học sinh tham gia học nghề. Thường xuyên kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện nội dung, chương trình đào tạo và đánh giá kết quả đào
tạo để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm phát huy chất lượng giáo dục và
đào đạo. Quan tâm thực hiện tốt các chính sách xã hội hóa giáo dục, kêu gọi
đầu tư xây dựng các trường, các trung tâm đào tạo nghề dân lập, tư thục đảm
bảo đào tạo nghề cho lao động nhất là lao động nông thôn. Tăng cường đầu tư
vốn cho phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, đổi mới nhận thức trong quan điểm phát triển khoa học và công
nghệ ở tỉnh Tiền Giang.
Để phát triển khoa học và công nghệ, tỉnh Tiền Giang phải tập trung sức
chăm lo cho sự phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, tăng cường đầu tư
cho phát triển khoa học cơ bản, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, khoa học
ứng dụng; xây dựng các trung tâm nghiên cứu khoa học vững mạnh làm điểm
tựa cho phát triển công nghệ, đảm bảo luận cứ khoa học cho định hướng phát
triển của tỉnh.
Mặt khác, việc cụ thể hóa những khung pháp lý minh bạch, tạo môi trường
kinh doanh năng động, cạnh tranh lành mạnh; đồng thời, phát triển thị trường
khoa học và công nghệ, thúc đẩy ứng dụng khoa học và phát triển công nghệ, giải
phóng mọi năng lực sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển sẽ giúp tỉnh tỉnh Tiền
Giang ngày càng phát triển.
3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp
lý vững chắc để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát
triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Tiền Giang trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao
Tỉnh Tiền Giang là một tỉnh có điều kiện địa linh nhân kiệt, ngay từ những
năm đầu sau khi giải phóng, tỉnh đã chú trọng đến việc đầu tư phát triển nguồn
tạo, thay đổi cả hệ thống chương trình, phương thức lãnh đạo, quản lý, nội
dung, hình thức và phương pháp giáo dục - đào tạo,… nhằm đào tạo ra những
con người có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cao, có kỹ năng lao động sáng
tạo và hiệu quả, phát minh ra nhiều thành quả khoa học và công nghệ phục vụ
sản xuất và đời sống.
Hai là, phát triển khoa học, chuyển giao công nghệ và đẩy mạnh ứng dụng
những thành tựu khoa học và công nghệ vào mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống
của nhân dân.
Muốn thực hiện cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ trong thời kỳ
toàn cầu hóa, chúng ta cần phải đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và đào
tạo. Giáo dục và đào tạo phải được “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa”, “quốc tế hóa”
về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học. Nhiều tri thức và công nghệ
mới ra đời, đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Quá
trình giáo dục phải được tiến hành liên tục, để người lao động có thể thích nghi
được với những đổi mới của tiến bộ khoa học và công nghệ.
3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, đầu tư ngân sách tạo điều
kiện phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học
và công nghệ của tỉnh Tiền Giang
Trước hết, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, đầu tư ngân sách tạo điều
kiện để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học
22
và công nghệ.
Đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa
học và công nghệ, tỉnh Tiền Giang tăng cường đầu tư ngân sách, tiếp tục thực
hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; sử dụng và quản lý có hiệu quả các
nguồn đầu tư cho giáo dục; đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục. Đồng thời
chú trọng đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ. Áp dụng khoa học và
góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế -