Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ 8, khóa XI đã đề ra chủ trương: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”.
Trong đó phải chuyển đổi từ nền giáo dục tiếp cận tri thức, nhồi nhét kiến thức, học
thụ động, thầy giáo làm thay sang nền giáo dục tiếp cận năng lực học tập, phát huy
năng lực sáng tạo theo phương pháp gợi mở, đối thoại, dân chủ, đề cao người học là
trung tâm, tạo nên khả năng tự khai sáng…
Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục
“định hướng nội dung” dạy học hay “định hướng đầu vào”. Chương trình giáo
dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như
đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
Chương trình giáo dục “ định hướng năng lực” nay còn gọi là “dạy học
định hướng kết quả đầu ra” được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng
năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
Dạy và học Hóa học ở trường THPT hiện nay, đã và đang được đổi mới tích
cực, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết TW 8, khóa
XI của BCH Đảng cộng sản Việt Nam, cùng với mục tiêu phát triển năng lực
người học.
Dạy học Hóa học không chỉ có nhiệm vụ trí dục, đạo đức, mà còn có nhiệm vụ
phát triển tức rèn luyện trí thông minh. Dạy học hóa học phải làm phát triển ở HS
những năng lực nhận thức như tri giác, biểu tượng, trí nhớ, tư duy, hứng thú nhận
thức, khả năng sáng tạo...
Quá trình dạy học Hóa học bao gồm 3 công đoạn là : dạy học bài mới – ôn tập,
hệ thống hóa kiến thức và luyện tập – kiểm tra – đánh giá kết quả học tập. Ở bất cứ
công đoạn nào của quá trình dạy học, bài tập đều có một vai trò rất quan trọng để
nâng cao chất lượng dạy học. Ngoài việc rèn kỹ năng vận dụng, đào sâu mở rộng
kiến thức đã học một cách sinh động , BTHH còn được dùng để ôn tập, rèn luyện
một số kỹ năng về hóa học. Thông qua bài tập, giúp HS rèn luyện tính tích cực, trí
thông minh, sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú trong học tập.
sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên”.
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy
học.
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định.
Trong các môn học ở trường phổ thông, Hóa học là môn học có điều kiện
thuận lợi để triển khai đổi mới dạy học và đánh giá theo định hướng phát triển năng
lực cho HS. Ngoài những năng lực chung, phân môn Hóa học bao gồm 5 năng lực
đặc thù: năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực nghiên cứu và thực hành
hóa học, năng lực tính toán, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn
Hóa học, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.
Dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung,
phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách xây
dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và bài tập có vai trò quan trọng. Chương trình
dạy học định hướng năng lực được xây dựng trên cơ sở chuẩn năng lực của môn
học. Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động học của HS. HTBT định hướng
năng lực chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ
để GV và các cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của HS và biết
được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học.
Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người GV
cần thực hiện. Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV cần biết xây dựng các
bài tập định hướng năng lực.
2. Bài tập hóa học:
2.1. Khái niệm về BTHH:
Ở Việt Nam, thật ngữ “bài tập” được hiểu theo nghĩa rộng, bài tập có thể là câu
hỏi hay bài toán.
- Trang 2-
Như vậy, BTHH là bài ra cho HS, được giải quyết nhờ những suy luận logic,
độc lập, thông minh và sáng tạo.
c. Ý nghĩa giáo dục:
BTHH rèn luyện cho HS đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say
mê khoa học hóa học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao
động: lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp sạch sẽ nơi làm việc.
3. Sử dụng bài tập trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng
lực:
Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập. Khi
dạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để
chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn HS học bài ở
nhà. Khi ôn tập, củng cố luyện tập và kiểm tra, đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài
tập...
- Trang 3-
Bản thân BTHH đã là phương pháp dạy học hóa học tích cực, song tính tích
cực của phương pháp này được nâng cao hơn khi được sử dụng như là nguồn kiến
thức để HS tìm tòi, chứ không phải để tái hiện kiến thức. Với tính đa dạng của
mình, BTHH là phương tiện để tích cực hóa hoạt động của HS trong các bài dạy
hóa học, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào việc sử dụng của GV trong quá
trình dạy học.
Trong quá trình dạy học hóa học, để có thể phát triển năng lực HS, chúng ta cần
tăng cường xây dựng và sử dụng các dạng bài tập như sau:
- Sử dụng bài tập thực nghiệm để rèn các kiến thức kĩ năng THTN, góp phát triển
năng lực thực hành hóa học cho HS.
- Sử dụng các bài tập có sơ đồ, hình vẽ, đồ thị góp phần hình thành cho HS năng lực
quan sát, năng lực tư duy hóa học.
- Sử dụng các BTHH xây dựng tình huống có vấn đề, dạy HS giải quyết vấn đề, tổ
chức cho HS tìm tòi, giải quyết vấn đề.
- Sử dụng các bài tập giải quyết vấn đề, các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống
- Bài giảng hấp dẫn, HS hứng thú học tập, làm cho lớp học sinh động, nâng cao kết
quả học tập của HS, giúp HS có niềm tin vào khoa học, là cầu nối giữa lý thuyết và
thực tiễn.
II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ:
1. Đối với chương trình:
Chương trình giáo dục “định hướng năng lực” đã được áp dụng trong những
năm gần đây, tuy nhiên hệ thống sách giáo khoa chưa có sự thay đổi. Số lượng bài
tập sử dụng sơ đồ, hình vẽ là quá ít, trong các sách tham khảo, các đề thi càng hiếm
hơn nữa, nhất là bài tập về hình vẽ.
Bài tập nặng về lý thuyết và tính toán. Các loại bài tập này có ưu điểm giúp cho
HS có được lý thuyết vững chắc và các tính toán Hóa học, nhưng mang nặng tính
hàn lâm, không gây được hứng thú, sự tập trung của HS, cũng như chưa cho thấy
được vấn đề thực nghiệm đặc trưng của bộ môn Hoá học.
2. Đối với giáo viên:
Hiện nay, nhiều GV rất hứng thú với mảng bài tập này, nhưng lại ngại dạy, ngại
sưu tầm, ngại làm bài tập do không có thời gian và cũng hiếm khi có trong các đề
thi. Vì thế với dạng bài này thường GV cũng chưa chú tâm và đầu tư thời gian
nhiều.
3. Đối với học sinh:
Trong quá trình học tập, HS ít được hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép
rồi học thuộc, ít được suy luận, động não, ít được chủ động tích cực. HS ít khi
được tham gia thực hành thí nghiệm, ít được tiếp xúc với các dạng bài tập sử dụng
sơ đồ, hình vẽ do trong các đề thi hầu như không có dạng bài tập này. Đối với HS
hiện nay, việc nhận biết các dụng cụ, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm là một khó khăn,
năng lực tư duy, giải quyết vấn đề rất hạn chế…
Đặc trưng của bộ môn Hóa học là thực nghiệm. Với việc đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực và hướng HS làm quen nhiều hơn với
thực nghiệm thì việc cho HS tiếp xúc với các loại bài tập bằng sơ đồ và hình vẽ là
rất quan trọng. Với loại bài tập này, tính đặc thù bộ môn Hóa Học được thể hiện rất
1.2. Nôi dung kiến thức phần nito:
1.2.1. Nito
1.2.2. Amoniac và muối amoni.
1.2.3. Axit nitric và muối nitrat
Từ mục tiêu và nội dung kiến thức chúng ta xây dựng và sử dụng các dạng bài
tập có sử dụng sơ đồ, hình vẽ.
2. Cơ sở và nguyên tắc xây dựng, sử dụng bài tập về sơ đồ hình vẽ:
2.1. Cơ sở lựa chọn
- Dựa vào mục tiêu của chương trình
- Dựa vào tính tích cực nhận thức của HS
2.2. Nguyên tắc xây dựng và sử dụng bài tập về sơ đồ , hình vẽ:
- Nguyên tắc 1: HTBT góp phần thực hiện mục tiêu môn học. Phải dựa vào
mục đích, yêu cầu về kiến thức, bám sát nội dung bài học. Đảm bảo tính chính xác,
khoa học, logic, hệ thống, hiện đại và đảm bảo tính sư phạm.
- Nguyên tắc 2: Phải xây dựng và sử dụng các bài tập từ đơn giản đến phức tạp,
từ dễ đến khó, chú ý đến các bài tập có tính chất thực tiễn, thí nghiệm, hình vẽ.
Hình vẽ phải có tính quy chuẩn, thẩm mĩ, đường nét cân đối, hài hoà.
- Nguyên tắc 3: HTBT phải phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức và phát
huy được tính tích cực nhận thức, tư duy cũng như phát triển được năng lực của HS.
2.3. Quy trình xây dựng HTBT:
Để xây dựng được HTBT khoa học, phù hợp chúng ta cần trải qua 5 bước:
- Bước 1: Xây dựng cấu trúc HTBT
- Bước 2: Phân tích mục tiêu dạy học.
- Bước 3: Thu thập thông tin để xây dựng HTBT: sách giáo khoa, sách bài tập, sách
tham khảo, tạp chí, mạng internet...
- Bước 4: Tiến hành soạn thảo.
- Bước 5: Lấy ý kiến của đồng nghiệp, thu hồi phản ứng của HS và chỉnh sửa.
- Trang 6-
→ Z
Z
→ T + H2 O
Xác định các chất X, Y, Z, T? Hoàn thành các phương trình phản ứng?
2.4.2. Sử dụng để rèn kĩ năng:
Rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, dự đoán tính chất
các chất, thực hành và lập PTHH liên quan kiến thức của chương.
Ví dụ 1: 1. Viết sơ đồ electron biểu diễn các quá trình biến đổi sau và cho biết quá
trình nào là quá trình oxi hoá, quá trình nào là quá trình khử:
2. Chọn chất phù hợp, viết phương trình thực hiện biến đổi trên.
Ví dụ 2: Thực hiện thí nghiệm như hình vẽ sau.
Nước Clo
Nhỏ vài giọt nước clo vào dung dịch NH3 đặc, thấy có
khói trắng bay ra. Giải thích hiện tượng? Viết phương trình
NH3 đặc
phản ứng?
Khói
trắng
- Trang 7-
Ví dụ 3: Trong phòng thí nghiệm, cách thu khí được mô tả theo các hình vẽ sau:
H2 O
(1)
(2)
→ (E) ↑
3. (A) ↑ + (D) ↑
→ (G) ↑
4. (E) ↑ + (D) ↑
→ HNO3 + (E) ↑
5. (G) ↑ + H2O
Với A, B, C, D, E, G là công thức hoá học của các chất vô cơ.
2.4.4. Sử dụng để rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề:
Việc rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề hiện nay
được đặt ra như một mục tiêu giáo dục, đào tạo. Bài tập sơ đồ, hình vẽ yêu cầu HS
phải phân tích, tìm tòi, đề xuất phương án để giải quyết vấn đề.
Ví dụ 1: Cho sơ đồ điều chế HNO3 trong phòng thí nghiệm:
- Trang 8-
a. Tại sao phải sử dụng H2SO4 đặc và NaNO3 ở dạng rắn?
b. Đun nóng hỗn hợp H2SO4 và NaNO3 có tác dụng gì?
b. Tại sao phải cho bình đựng HNO3 thu được vào nước đá?
Ví dụ 2: Để tách từng chất ra khỏi hỗn hợp N2, NH3, CO2 người ta thực hiện theo sơ
đồ sau:
N2, NH3, CO2
NH3
+X
N2
+T
N2, CO2
C. Fe(NO)2 và NaHCO3
D. Mg(NO3)2 và KNO3
Hướng dẫn: Đáp án B
Bài 3: Cho sơ đồ phản ứng:
+O2(t0, Pt)
+O2
+O2+ H2O
+A1
- Trang 9-
A1
A2
A3
A4
A5.
Biết rằng các hợp chất A1, A2…A5 đều là các hợp chất của nitơ. Chất A5 trong sơ đồ
trên là
A. NO
B. NO2
C. NH3
D. NH4NO3.
Hướng dẫn: A1: NH3; A2: NO; A3: NO2; A4: HNO3; A5: NH4NO3 => Đáp án D
Bài 4: Cho sơ đồ phản ứng sau:
+ H2SO4
+ CO , P,t
T0
Khí X
Y
khí X
Z
M + H2O
X, Y, Z, M lần lượt là:
A. N2, NH4Cl, NH3, N2O5 .
B. NH3, NH4OH, NH4Cl, N2.
C. NH3, NH4Cl, NH4NO3, N2O.
D. NH3, NH4Cl, N2, NH4NO3..
Hướng dẫn: Đáp án C.
Bài 7: Trong sơ đồ biến hóa sau:
0
2
NO2
2
B
A
N2
C
D
Các chất A, B, C, D lần lượt là:
→ Đồng (II) tetreamin hidroxit
nitrat
→ Đồng (II) tetreamin sunfat.
Bài 10: Viết các phương trình phản ứng biểu diễn dãy chuyển hóa sau
→ N2
→ NO
→ HNO3
→ NaNO3.
1/ NH4NO2
→ N2
→ NH3
→ (NH4)2SO4
→ NH3
→ (NH4)2SO4 → NH3
2/ NH4NO3
→ N2 → NH3 → NO → NO2 → HNO3 → NH4NO3 → N2O.
3/ HNO3 → AgNO3 → NO2 → NO→ NaNO3→ NaNO2 → N2
4/ NH3 → NO→ NO2 → NaNO3→ HNO3→ Cu(NO3)2 → CuO→ CuCl2 →
Cu(OH)2→ [Cu(NH3)4](OH)2 → NH3.
5/ NH3 → NO→ NO2 → HNO3→ Cu(NO3)2 → NO2→ HNO3→ NH4NO3→ NaNO3
→ NH3
6/
(2)
(1)
→ NH4 NO3
N2
→ NH3 ¬
NaOH
→ Cu(OH)2.
D
→ G
Hướng dẫn: A: Cu(NO3)2 ; B: NO2 ; C: O2; D: CuO ; E: HNO3; F: NO ; G: CuCl2.
Bài 12: Viết các phương trình phản ứng biểu diễn dãy chuyển hóa sau:
(1)
NH3
(9)
(10)
NH4NO3
(8)
(11)
(19)
(12)
(17)
(16)
NO
(13)
0
t
O2
O2
H2 O
Cu
t
→ A4 →
2. A1 → N2 →
A2 →
A3
A5 → A3.
H O
H SO
HNO
KOH
t C
3. A ↑
→ dd A
→ B
→ A ↑
→ C →
D + H2O.
2
2
4
+X
NO
+ X + H2O
+X
+Z
Y
NO2
Ca(NO3)2
+ X +H2O
Y
+M
NH4NO3
Hướng dẫn: X: O2 ; Y: HNO3 ; Z: Ca(OH)2 ; M: NH3.
Bài 15: Cho hai dãy chất sau:
(1) N2, NO, NO2, NH3, HNO3, NH4NO3.
(2) NO2, NaNO3, HNO3, KNO2, KNO3, Cu(NO3)2.
Hãy lập sơ đồ chuyển hoá biểu diễn mối quan hệ giữa các chất trong hai dãy
trên. Viết các phương trình phản ứng và ghi rõ điều kiện (nếu có)
z
z
σ
y
C.
D.
x
πx
z
σ
Hướng dẫn: Đáp án A.
x
y
z
y
πy
Hướng dẫn: a. Thử tính tan của NH3 và HCl
b. Với NH3: A là nước có pha phenolphthalein.
Với HCl: A là nước có pha quỳ tím
Y
X
- Trang 13-
Bài 6: Trong phòng thí nghiệm, cách điều chế và thu khí được mô tả như các hình
vẽ sau:
(1)
(2)
(3)
(4)
Bộ dụng cụ nào được dùng trong phòng thí nghiệm để điều chế: N2, O2, NH3.
Chỉ ra các hoá chất cần thiết trong quá trình điều chế.
Hướng dẫn: N2: (2), (4); O2: (1) ; NH3: (2).
Bài 7: Cho thí nghiệm như hình vẽ sau:
N2
Hỗn hợp khí N2, H2, NH3
X
Chất X trong ống nghiệm là:
A. HCl
(1)
(2)
(3)
(4)
Nếu cho NH3 dư thì ở ống thu được kết tủa:
A. (1), (2)
B. (2), (3)
C. (2), (4)
D. (3) (4)
Hướng dẫn: Cu2+, Zn2+ ở có khả năng tạo phức với NH3, do vậy không tạo kết tủa.
Al3+, và Fe3+ không có khả năng tạo phức với NH3, sẽ tạo kết tủa là Al(OH)3 và
Fe(OH)3 => Đáp án A.
Bài 10: Hình vẽ bên mô tả thí nghiệm điều
chế NH3 trong phòng thí nghiệm từ hỗn hợp
NH4Cl và
rắn NH4Cl và Ca(OH)2.
NH3
Ca(OH)2
H2O
a. Viết phương trình phản ứng xảy ra.
b.Tại sao phải úp ngược bình khi thu khí NH3?
Làm sao để biết bình NH3 đã đầy hay chưa?
c. Để làm khô khí NH3 cần dùnghoá chất nào?
d. Có thể thu NH3 bằng cách dời nước hay
không?
Hướng dẫn: a. 2NH4Cl + Ca(OH)2 → CaCl2 + 2NH3 + H2O
b. + NH3 nhẹ hơn không khí
+ Dùng quỳ tím ẩm
c. CaO
d. Không
đóm
- Trang 15-
Nêu hiện tượng xảy ra? Giải thích? Viết phương trình
phản ứng?
KNO3
Hướng dẫn: Tàn đóm bùng cháy
Bài 13: Trong phòng thí nghiệm, điều chế và thu khí NO2 như hình vẽ sau:
Bông tẩm Ca(OH)2
a. Vì sao chọn Cu để điều chế NO2?
HNO3 đặc
Có thể dùng kim loại khác được không?
Cu
b. Tại sao phải dùng bông tẩm Ca(OH)2 nút
vào đầu ống nghiệm đựng NO2? Ngoài Ca(OH)2
còn có thể sử dụng hợp chất nào?
Hướng dẫn: a. Cu tác dụng với HNO3 chỉ tạo NO2.
b. Dùng các chất kiềm mạnh như Ca(OH)2, NaOH…
Bài 14: Cho thí nghiệm khí NH3 tác dụng
với oxi không khí như hình vẽ:
a.Mô tả hiện tượng? Viết các pthh xảy ra, cho
biết vai trò các chất trong phản ứng?
b. Khi có plantin làm chất xúc tác thì
sản phẩm thu được là gì? Viết phương trình
phản ứng?
Hướng dẫn: b. Thu được khí NO
Bài 15: Hình vẽ sau mô tả chu trình nitơ trong tự nhiên.
(1)
(2)
Bài 18: Tiến hành thí nghiệm như hình vẽ.
Hiện tượng xảy ra khi nhỏ dung dịch kiềm
mạnh (KOH, NaOH…) vào dung
dịch muối Amôni (NH4+)? Giải thích?
Viết phương trình phản ứng?
(3)
Quỳ ẩm
OH −
NH4+
Hướng dẫn: Khí NH3 thoát ra làm giấy quỳ hoá xanh
Bài 19: Thực hiện hai thí nghiệm như hình vẽ sau:
6,4 gam Cu
V1(l) NO
V2(l) NO
100 ml NaNO3 1M
- Trang 17và HCl 1M
100 ml HNO3 1M
So sánh V1 và V2? ( Các thể tích đo ở điều kiện tiêu chuẩn).
Hướng dẫn: V1 = V2.
SL
%
Rất hứng thú
22
56,41
Hứng thú
9
23,1
Bình thường
5
12,8
Không hứng thú
3
7,69
5,1
Khá
3
8,82
10
25,6
TB
15
44,12
24
61,54
Yếu
10
29,4
3
Trong đề tài này, tôi đã hoàn thành được mục tiêu ban đầu đề ra: đề cập đến
chương trình “định hướng năng lực”, tìm hiểu các vấn đề về BTHH, bài tập sơ đồ hình vẽ trong chương trình “định hướng năng lực”, thực trạng của vấn đề, xây dựng
được một số bài tập có sử dụng sơ đồ, hình vẽ phần Nito- Hóa học 11 theo định
hướng phát triển năng lực HS, tiến hành dạy thực nghiệm và lấy ý kiến phản hồi của
HS nhằm đánh giá hiệu quả của đề tài.
Qua phân tích kết quả cho thấy, việc sử dụng bài tập về sơ đồ, hình vẽ trong dạy
học hóa học có tầm quan trọng đặc biệt để nâng cao chất lượng môn học. Giúp HS
nhớ và nắm vững kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và tư duy, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo, ứng dụng hóa học vào thực tiễn. Từ đó làm giảm nhẹ sự nặng nề và
căng thẳng của khối lượng kiến thức, gây hứng thú, say mê và tạo động cơ học tập
cho HS. Thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kiến thức để xây dựng và sử dụng bài tập
có sử dụng sơ đồ, hình vẽ chiếm tỉ lệ không nhỏ, được thể hiện dưới nhiều góc độ
khác nhau. Do vậy, để áp dụng và phát triển hơn nữa về đề tài này là cần thiết, và
rất khả quan. Đề tài sẽ là một trong những yếu tố chính trong việc hoàn thành đổi
mới chương trình, cũng như PPDH và KTĐG.
II. ĐỀ XUẤT:
Trên cơ sở hiệu quả thu được tôi có một số ý kiến đề xuất sau:
- Sách giáo khoa mới cần tăng cường số lượng bài tập về sơ đồ, hình vẽ, nhất là bài
tập hình vẽ.
- Tăng cường số lượng bài tập về sơ đồ, hình vẽ trong các đề thi.
- Tăng cường về cơ sở vật chất, phương tiện hiện đại, trang thiết bị thí nghiệm nhằm
trợ giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiều và nâng cao chất lượng dạy –học.
- Tiếp tục xây dựng và phát triển HTBT sơ đồ, hình vẽ tạo nên một hệ thống đa
dạng, ứng dụng rộng rãi trong dạy học và KTĐG trong nhà trường phổ thông.
Trong quá trình thực hiện đề tài này đã giúp tôi nâng cao nâng cao năng lực
chuyên môn, phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực. Mặc dù
có nhiều cố gắng và nỗ lực tuy nhiên do kinh nghiệm giảng dạy còn ít nên đề tài
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn của các