Cơ sở lý luận về tài phán hành chính, thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài phán hành chính ở nước ta - Pdf 35

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH, LỊCH SỬ VÀ
THỰC TRẠNG KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA........................................6
1.1 Khái lược lịch sử khiếu kiện hành chính và tổ chức giải quyết khiếu kiện hành
chính ở nước ta...............................................................................................................6
1.1.1. Thời phong kiến..............................................................................................6
1.1.2. Thời Ngụy quyền Sài Gòn.............................................................................10
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975.............................................11
1.2. Khái niệm và tính chất của khiếu kiện hành chính.............................................12
1.2.1. Khái niệm khiếu kiện hành chính.................................................................12
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính............................................................15
1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính.......................................................................17
1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam..................................19
1.5. Thực trạng khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay.........................................23
1.5.1. Thực trạng khiếu nại hành chính...................................................................23
1.5.2 Thực trạng khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.........................................28
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH , THỰC TRẠNG PHÁP
LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA
..........................................................................................................................................32
2.1. Cơ sở lý luận về tài phán hành chính...................................................................32
2.1.1. Khái niệm và tính chất cuả tài phán hành chính............................................32
2.1.2. Vai trò của tài phán hành chính.....................................................................38
2.1.3 Mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở một số quốc gia..........42
2.1.4. Các quan điểm và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động tài phán hành chính
ở nước ta...................................................................................................................53
2.2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam
......................................................................................................................................60
2.2.1. Thực trạng pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam............................60
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam............78

- Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ : HĐTMVM
- Hành vi hành chính

: HVHC

- Khiếu nại, tố cáo

: KNTC

- Khiếu kiện hành chính

: KKHC

- Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998

: Luật 1998

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ban hành ngày
15/6/2004

: Luật 2004

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ban hành ngày
29/11/2005
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

: Luật 2005
: Pháp lệnh

TTGQCVAHC


: TAND tp.HCM

- Tòa án nhân dân tối cao

: TANDTC

- Tổ chức thương mại thế giới

: WTO

- Uỷ ban nhân dân

: UBND

- Xã hội chủ nghĩa

: XHCN


1

MỞ ĐẦU
Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quyền làm
chủ về mọi mặt của nhân dân được Nhà nước bảo đảm. Công dân , tổ chức có
quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có căn cứ để cho rằng
có QĐHC, HVHC của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi
ích hợp pháp của mình.
Do vai trò , vị trí quan trọng của quyền khiếu nại trong đời sống chính trị,

- Pháp luật của nhà nước ta quy định thế nào về mô hình giải quyết KKHC;
Thực tế hoạt động giải quyết KKHC của chúng ta?
- Tại sao hoạt động giải quyết KKHC của Tòa án đã trải qua hơn 10 năm
nhưng số lượng đơn khởi kiện vẫn ít, tỷ lệ các phán quyết hành chính được thi
hành còn thấp. Trong khi đó số lượng đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan hành
chính vẫn còn nhiều. Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Chúng ta phải làm
gì để khắc phục ?
- Việc duy trì hai hệ thống giải quyết các tranh chấp hành chính như hiện nay
có còn phù hợp hay không. Nếu còn phù hợp thì cần hoàn thiện như thế nào để
các cơ quan này hoạt động có hiệu quả hơn? Nếu việc tổ chức mô hình giải quyết
như hiện nay không còn phù hợp thì nên đổi mới như thế nào. Cơ sở lý luận và
thực tiễn để đề ra mô hình mới?
Là người trực tiếp tham gia giải quyết các KKHC ngay từ khi Toà hành
chính- Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, trên cơ sở các
kiến thức tiếp thu được trong quá trình theo học khoá đào tạo cao học luật, tôi


3

chọn đề tài “Đổi mới mô hình tổ chức giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước
ta hiện nay.” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
KKHC là một thực tế khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà
nước của mọi quốc gia, không phân biệt đó là chính thể hoặc chế độ chính trị
nào.
Ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
đến vấn đề giải quyết KKHC [65, Tr 30]. Nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức
và hoạt động giải quyết KKHC (bao gồm giải quyết khiếu nại hành chính và khởi
kiện vụ án hành chính) đã được thực hiện như: Coâng trình “Thiết lập tài phán
hành chính ở nước ta” cuûa Học viện Hành chính quốc gia do GS. TSKH Nguyễn

đổi mới, hoàn thiện pháp luật về Tòa chức hoạt động giải quyết các KKHC ở
nước ta.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc KKHC và mô hình tổ
chức giải quyết KKHC.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở phương pháp luận
trên, đề tài này sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như:
- Phương pháp trừu tượng khoa học;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp tổng hợp, thống kê;
- Phương pháp phân tích đánh giá…


5

5. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Để nghiên cứu về khiếu kiện hành chính và tổ chức mô hình giải quyết
KKHC không thể không vận dụng những quy tắc cơ bản, các phạm trù, khái
niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như các
khái niệm chính trị học, hành chính học hiện đại. Chúng cho phép ta nhận thức
và thấu hiểu bản chất cũng như đặc điểm riêng của KKHC và việc giải quyết
KKHC, hiểu được mối quan hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với các vấn
đề có liên quan khác.
Về mặt cơ sở lý luận, đề tài này sử dụng những thành tựu lý luận của khoa
học Luật hành chính thế giới, trước hết là của các nước XHCN. Hệ thống các
khái niệm, phạm trù, quan điểm được sử dụng trong đề tài cũng bắt nguồn từ
những kết luận khoa học của lý luận luật hành chính XHCN, ñồng thời còn tiếp
thu những yếu tố khoa học, hợp lý liên quan đến các lý luận về KKHC và các mô
hình tổ chức giải quyết KKHC của các nước có chế độ chính trị khác nhau.

- Chương 3: Vấn đề hoàn thiện mô hình tài phán hành chính ở nước ta.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH, LỊCH SỬ VÀ
THỰC TRẠNG KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA
1.1 Khái lược lịch sử khiếu kiện hành chính và tổ chức giải quyết
khiếu kiện hành chính ở nước ta
1.1.1. Thời phong kiến
Trong các chế độ chính trị, hoạt động hành chính luôn luôn thể hiện tính chất
dân chủ cao hay thấp, dân chủ thực sự hay dân chủ giả hiệu. Do đó khi xây dựng


7

bộ máy hành chính nhà nước mỗi quốc gia thường lựa chọn các phương cách phù
hợp với các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội của nước mình.
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nền văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu
đậm của văn hoá Trung Quốc, nhất là tư tưởng Nho gia. Suốt 10 thế kỷ (từ năm
939 đến 1945) Nho gio đã thâm nhập, có thời kỳ còn chiếm giữ vị trí độc tôn
trong hoạt động của nhà nước phong kiến Việt Nam. Theo quan điểm Nho gia,
trong quan hệ giữa Vua- Dân thì vua là người thay trời trị dân. Toàn bộ quyền
lực quốc gia tập trung vào tay vua, từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp. Vua là
gạch nối giữa trời với dân, vua có nghĩa vụ thay trời lo cho dân được ấm no, hạnh
phúc[24,Tr68].
Trong thời kỳ ấy mọi tầng lớp nhân dân phải có nghĩa vụ tuân thủ lệnh vua,
như con tuân lệnh Cha: “Vua nói chết không chết là bất trung – Cha nói chết
không chết là bất hiếu”. Trong cái trật tự ấy của Nho gio” vua là con trời”, ” ý
vua là ý trời”, “Vua sẽ thay trời trị dân”.
Theo sử cũ, khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009 - 1028), là vị vua khai sáng
triều đại quân chủ trung ương tập quyền hoàn chỉnh đầu tiên ở Việt Nam đã ban

Hiến ty, Ngự sử đài, Đại lý tự… trong đó Thưà ty có thẩm quyền xét xử những
vụ kiện đặc biệt (điền thổ, hộ hôn, công nợ, thuế khoá, phân định điạ giới hành
chính giữa các làng, khiếu kiện việc bầu cử xã trưởng…), Hiến Ty có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm các vụ sang đoạt tài sản, ức hiếp do các quan lại cầm quyền
gây ra, các vụ sách nhiễu cuả viên chức thu thuế, việc mua bán cuả các nhà chức
trách, các vụ sách nhiễu trong thi hành các trát án, việc giả mạo dấu má hay tư
cách sai nha…[9,Tr 141-152].


9

Dưới triều Nguyễn, có cơ quan phụ trách giải oan cho dân là Tam pháp
ty[26,Tr187]. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) theo tấu trình của đình thần, Vua
đã chuẩn cho quy định: Hàng tháng, cứ đến ngày 6, 16 và 26 thì Tam pháp ty mở
hội đồng để nhận các đơn kiện của dân. Tuy nhiên, đối với những việc thật cần
kíp, khẩn thiết không thể đợi đến nhật kỳ nhận đơn thì cho phép bất cứ lúc nào
dân cũng có quyền đến triều đình đánh trống kêu oan. Trước Công chính đường
có treo một cái trống gọi là trống Đăng Văn để cho ai có việc oan thì đến đánh
trống ấy và nộp đơn kêu oan. Dân có quyền kêu oan tới Vua thì cũng có nghĩa vụ
bảo đảm cho việc cáo oan nghiên túc. Nếu không phải sự việc khẩn thiết mà cứ
đánh trống đưa đơn kêu thì việc dẫu có thật cũng bị đóng gông 10 ngày để ngoài
sân, đến khi mãn hạn còn bị phạt đánh 100 trượng, nếu có vu cáo thì chiếu theo
tội vu cáo mà bắt chịu tội [38, Tr143] . Theo luật lệ triều Nguyễn lúc đó kẻ nào
đón xa giá nhà vua hoặc đánh trống Đăng Văn để khiếu oan mà việc không có gì
khẩn thiết thì bị xử phạt 100 trượng; nếu khiếu oan không có sự thực thì theo
mức nặng của tội vu cáo mà xử tội.
Các quy định trên chứng tỏ nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có quan tâm
đến việc khiếu kiện của dân. Không ít quan lại làm điều phi pháp nếu bị kiện đến
tai vua thì bị trừng trị thích đáng như: Cách chức; thu hồi áo, mão…Theo Đại
Nam Thực Lục Chính Biên vào năm 1832 bọn lại viên và người coi kho ở Sơn

phúc thẩm các bản án do Toà hành chính đã xử sơ thẩm; xét xử sơ và chung thẩm
những việc xin thủ tiêu các QĐHC cá biệt hay lập quy có vi phạm, các vụ tranh
tụng liên quan đến tình trạng hành chính của các công chức cao cấp…


11

Ngoài ra, trong tổ chức Tối cao pháp viện còn có Ban bảo hiến có thẩm
quyền giải thích luật; xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, sắc lệnh, nghị
định…và Ban phá án có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án đã
có hiệu lực pháp luật [38, Tr148].
1.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975
Tại miền Bắc Việt Nam, chính quyền thuộc về nhân dân. Đảng và Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương xây dựng một nhà nước Việt Nam của
dân, do dân và vì dân: “Tất cả quyền binh trong nước là của tòan thể nhân
dân”( Điều 1 Hiến pháp 1946) “Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước phải dưạ
vào dân, lắng nghe ý kiến và chiụ sự kiểm sóat cuả nhân dân. Tất cả các nhân
viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân
theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”( Điều 29 Hiến
pháp 1959); “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại và
tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi vi phạm pháp luật cuả
nhân viên cơ quan nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xem xét
và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi vi phạm pháp luật cuả
nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường “(Điều 73, Hiến pháp
1980).
Từ ngày 30/4/1975 đất nước được thống nhất. Kế thưà các quy định về
quyền khiếu nại, tố cáo cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức do nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa quy định, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hoà
XHCN Việt Nam tiếp tục ban hành các quy định có liên quan như: Tất cả các cơ
quan nhà nước từ trung ương đến điạ phương phải trả lời kịp thời và đầy đủ tất cả



13

gì. Tuy nhiên, thông qua việc sử dụng thuật ngữ “khiếu kiện hành chính”, tại
Pháp lệnh 1996 và việc sử dụng của các luật gia, các nhà khoa học thì nó được
hiểu theo hai cách:
Theo nghĩa hẹp, “khiếu kiện hành chính” được hiểu là việc cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi
bị QÑHC, HVHC xâm phạm. Với ý nghĩa này thì khái niệm KKHC đồng nhất
với khái niệm khởi kiện hành chính [ 23, Tr 944 và 986].
Theo nghĩa rộng, “khiếu kiện hành chính” là việc cá nhân, cơ quan tổ chức
khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại
Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị QÑHC, HVHC
xâm phạm[45,Tr2-3], [40,Tr1]. Khái niệm KKHC maø đề tài này nghieân cöùu
được hiểu theo nghĩa rộng.
KKHC là sự biểu hiện cuả tranh chấp hành chính phát sinh trong quá trình
thực hiện chức năng quản lý nhà nước giữa một bên là cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước với một bên là các cá nhân, cơ quan, tổ
chức khi các chủ thể này tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính.
Để hiểu rõ thêm về khái niệm KKHC ta cần tìm hiểu thêm về một số khái
niện liên quan như: Quyết định hành chính, hành vi hành chính, khiếu nại hành
chính, khởi kiện hành chính.
+ “Quyết định hành chính” hiểu theo nghĩa rộng là các quyết định do cơ quan
nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước, bao gồm quyết định quy phạm pháp luật hành
chính và QĐHC cá biệt (ngoài hai loại quyết định trên, có quan điểm còn đưa
thêm một số lọai QĐHC khác như: Quyết định chung hay còn gọi là quyết định
chính sách [24.Tr137], [34,Tr99], quyết định chỉ đạo, hướng dẫn[28,tr67] nhưng


15

vụ, công vụ (khoản 11 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo và khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính).
HVHC có thể bằng văn bản nhưng không chứa đựng mệnh lệnh, có thể chứa
đựng mệnh lệnh nhưng không bằng văn bản, có thể là hành động (như: khám xét
người, thu, giữ, làm hư hỏng tài sản…), có thể là không hành động (không thực
hiện các công vụ, nhiệm vụ của mình, như: Không cấp giấy phép xây dựng,
không giao đất, không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp…).
+ “Khiếu nại hành chính” là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QÑHC, HVHC khi có căn cứ cho rằng
QÑHC, HVHC là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp cuả
mình (khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo).
+ “Khởi kiện hành chính” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức làm đơn kiện
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị QÑHC,HVHC
xâm phạm ( tham khảo khỏan 5 Điều 4 Pháp lệnh TTGQCVAHC).
1.2.2. Tính chất của khiếu kiện hành chính
Do tính đa dạng cuả khái niệm KKHC nên việc nghiên cứu những nét đặc
trưng cuả nó cũng chỉ mang tính tương đối. Đặt trong tổng thể hoạt động quản lý
nhà nước và thể chế chính trị cuả quốc gia, khái niệm KKHC có những tính chất
như: Tính khách quan; Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị; Tính hệ
thống, thứ bậc; Tính bảo đảm bằng pháp luật…
1.2.2.1. Tính khách quan
KKHC là sự việc mang tính khách quan phát sinh trong quá trình quản lý nhà
nước cuả mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào hình thức chính thể và chế độ chính
trị cuả quốc gia đó như thế nào. Bởi lẽ về mặt lý luận, theo quan điểm cuả chủ


16


1.2.2.3. Tính hệ thống, thứ bậc
Quản lý nhà nước là một hệ thống theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ
trung ương đến điạ phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị,
mệnh lệnh và chiụ sự kiểm tra thường xuyên cuả cấp trên. Mỗi cấp cơ quan, mỗi
cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước đều hoạt động trong phạm vi
thẩm quyền được giao. Do vậy, KKHC cũng phải được thực hiện theo thứ bậc
tương ứng, tức là việc khiếu kiện cũng phải được thực hiện theo nguyên tắc từ
dưới lên trên.
1.2.2.4. Tính bảo đảm bằng pháp luật
Quan hệ pháp luật hành chính là một quan hệ không bình đẳng giữa một
bên là các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước với bên kia là các cá
nhân, cơ quan, tổ chức là đối tượng bị quản lý phải tuân thủ các quyết định quản
lý, hành vi quản lý cuả chủ thể quản lý theo nguyên tắc phục tùng. Do đó, để bảo
đảm quyền KKHC cuả người khiếu kiện và bảo đảm trật tự cuả quản lý nhà
nước, việc KKHC phải được quy định bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng
pháp luật.
1.3. Phân loại khiếu kiện hành chính
Phân loại KKHC là việc laøm cần thiết để hiểu rõ các loại khiếu kiện, là cách
thức để tìm kiếm sự trùng lắp, chồng chéo cuả từng loại khiếu kiện, đảm bảo cho
quá trình nghiên cứu được tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh, tạo
cơ sở khách quan cho việc xác định mô hình giải quyết khiếu kiện tương ứng,


18

tránh sự rắc rối, chồng chéo, bỏ trống, giành giật, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ
quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu kiện.
Việc phân loại KKHC có thể dưạ vào nhiều tiêu chí khác nhau. Cũng giống
như caùc phân loại khác, phân loại khiếu kiện hành chính cuõng chỉ mang tính chất

- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật quốc gia;
- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật an ninh, quốc phòng;
- KKHC thuộc hoặc có liên quan đến bí mật cuả bộ, ngành;
- KKHC khác.
1.4. Ý nghĩa của khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế ở Việt Nam
KKHC có tính chất hai mặt. Một mặt nó là hình thức thể hiện quyền cá nhân
trong việc tự do đánh giá họat động của công quyền nhằm bảo vệ các quyền, lợi
ích hợp pháp của mình,với ý nghĩa tích cực này họat động KKHC đã góp phần
thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của quyền lực, đem lại các hiệu quả ích lợi cho
xã hội. Cùng với mặt tích cực trên, nếu KKHC vượt quá mức cho phép hoặc bị
lạm dụng, trong xã hội sẽ xuất hiện hiện tượng thiếu lành mạnh lôi cuốn dư luận
và các nguồn lực vào hướng thiếu ổn định, gây ảnh hươởg đến sự phát triển bền
vững [35,Tr4].
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc xây dựng một nhà nước
thực sự là cuả dân, do dân và vì dân như Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng
định là một trong những nhiệm vụ bức xúc, vô cùng quan trọng.


20

Ý thức được tầm quan trọng cuả KKHC, trong thực tiễn quản lý thông qua
việc nghiên cứu và thực tiễn giải quyết các khiếu kiện hành chính, Đảng và Nhà
nước ta đã kịp thời có các chính sách, pháp luật phù hợp để tổ chức tốt hoạt động
giải quyết khiếu kiện. Thông qua các KKHC chúng ta cũng có thể phát hiện ra
những quy định cuả pháp luật không còn phù hợp, nắm được tâm tư, nguyện
vọng cuả nhân dân để từ đó có những sưả đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp
luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp cuả các cá
nhân, cơ quan, tổ chức. làm cho pháp luật cuả Nhà nước ta thực sự là pháp luật

cuả pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục hải quan, áp thuế suất hàng
nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân…, từ đó có những hướng dẫn, giải thích hoặc quy định điều chỉnh lại cho
phù hợp.
Với chính sách mở cưả và hội nhập quốc tế, từ năm 1977 chúng ta đã trở
thành thành viên cuả Liên hiệp quốc, những năm 1980 chúng ta đã hội nhập kinh
tế đa phương thông qua Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Ngày13/7/2000 Chính
phủ Việt Nam và Chính phủ Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại song phương
Việt Nam- Hoa Kỳ. Đặc biệt bằng việc ký kết Nghị định thư ngày 07/11/2006,
Việt Nam đã chính thức tham gia làm thành viên thứ 150 cuả Tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Qua nghiên cứu một số quy định cuả Hiệp định thương mại
song phương Việt Nam- Hoa Kỳ (HĐTMVM) và các quy định cuả WTO liên
quan đến KKHC, chúng ta có thể thấy rõ các đòi hỏi về một cơ chế pháp lý cho
việc KKHC khi thực hiện HĐTMVM và tham gia WTO:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status