ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG QUẢNG
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG
NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.62.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐẶNG VĂN MINH
THÁI NGUYÊN - 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Hồng Quảng
ii
Mục lục
iii
Danh mục ký hiệu viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục bản đồ, biều đồ
vii
MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
3
27
2.1 Đối tượng nghiên cứu
27
2.2 Địa điểm nghiên cứu
27
2.3 Nội dung nghiên cứu
27
2.4 Phương pháp nghiên cứu
38
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
30
3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường.
30
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
36
3.5.1 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010
52
3.5.2 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn từ năm
2006 đến năm 2010.
56
3.5.3 Đánh giá tính hợp lý và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử
dụng đất của huyện Đông Triều giai đoạn 2006 - 2010 theo nhóm đối
tượng điều tra
62
3.5.3.1 Đánh giá về tính hợp lý khi chuyển mục đích sử dụng
62
3.5.3.2 Đánh giá về kết quả thực hiện với khi xây dựng phương án quy
hoạch sử dụng đất
62
3.5.3.3 Đánh giá về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị
trường khi thực hiện thu hồi đất theo phương án quy hoạch
62
3.5.3.4 Đánh giá về chính sách tái định cư khi thu hồi đất
3.5.5.3 Giải pháp về quản lý hành chính
74
3.5.5.4 Giải pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường
75
3.5.5.5 Các giải pháp tác động khác
76
v
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
78
I Kết luận
78
II Kiến nghị
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
Quy hoạch
FAO
Tổ chức nông lương thế giới
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Đông Triều - tỉnh
Quảng Ninh
45
Bảng 3.2 Phương án quy hoạch sử dụng đất 2006 - 2010
57
Bảng 3.3 So sánh các chỉ tiêu sử dụng đất năm 2006 – 2010
53
Bảng 3.4 So sánh phương án quy hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 với
thực tế thực hiện tại thời điểm 2010
Bảng 3.5 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch sử
dụng đất huyện Đông Triều giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 3.6 Chính sách bố trí tái định cư khi thực hiện quy hoạch sử dụng
đất theo nhóm đối tượng điều tra
64
Hình 3.6 Đánh giá đơn giá bồi thường, hỗ trợ về đất so với giá thị
trường khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo nhóm đối tượng điều
tra
65
Hình 3.7 Ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất đến sự phát
triển kinh tế và các vấn đề xã hội của địa phương
69
1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất
đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi
tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất,
sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất.
Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định
trong không gian. Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử
dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá ở làm cho mật độ dân cư
ngày càng tăng. Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị và quá trình công
nghiệp hoá làm cho nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công
cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức xúc” nay càng trở nên “nhức
tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư và gây lãng phí đất đai. Hiện tượng vi phạm
pháp luật về đất đai còn nhiều, nhất là trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất”.
Tỉnh Quảng Ninh cũng không nằm ngoài tình hình chung của cả nước,
quy hoạch sử dụng đất chung của các huyện, thị xã và của cả tỉnh Quảng Ninh
còn nhiều vấn đề cần bàn. Trong tỉnh vẫn còn xảy ra một số vụ tham nhũng, xà
xẻo đất đai bị phát hiện gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân mà
một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do những tồn tại, bất
cập trong công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ phát triển của tỉnh Quảng
Ninh, trên địa bàn huyện Đông Triều đã diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị
3
hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày một gia tăng, đã
tác động mạnh mẽ đến sự biến động cơ cấu đất đai của địa phương và công tác
quy hoạch sử dụng đất vẫn chưa đáp ứng hết được những đòi hỏi cấp thiết đó.
Dẫn đến vấn đề sử dụng và quản lý trên địa bàn huyện Đông Triều gặp nhiều khó
khăn và phức tạp. Ngày càng nhiều công trình, dự án lớn được đầu tư phát triển
trên địa bàn huyện cần bố trí đất, sự gia tăng dân số cũng gây áp lực không nhỏ
đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa bàn đều có
nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển. Vì vậy để phát triển đúng hướng và bền
vững, công tác quản lý đất đai có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là quy hoạch sử
dụng đất.
Yêu cầu đặt ra là công tác quy hoạch sử dụng đất phải mang tính khả thi
cao, phù hợp với thực tế cũng như dự báo được hướng phát triển của địa phương,
tránh tình trạng quy hoạch không được thực hiện, quy hoạch treo và phải điều
chỉnh quy hoạch. Vì vậy đề tài “Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch
sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 trên địa bàn huyện Đông Triều - tỉnh Quảng
Ninh” được đặt ra với mong muốn tìm giải pháp góp phần nâng cao tính khả thi
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của Quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất
* Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất,
mảnh đất, miếng đất...) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên
hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn,
chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính...), tạo
ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu,
lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề
xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong
lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất
như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy,
quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3
tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai.
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều
tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu...
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất
theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật.
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các
biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và
quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc
phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử
6
hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất). Trong quy
hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên
(như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế...), cũng như quan hệ giữa người với
người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người
chủ đất - GCNQSDĐ). Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc
đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản
xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội.
* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ
yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ...
toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy
hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như:
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công
nghiệp, môi trường sinh thái...
* Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những
yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô
thị hoá công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp...), từ đó xác định quy hoạch
trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện
pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử
dụng đất 5 năm.
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế
- xã hội. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong
thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi
đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và
biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch
sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn.
* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy
hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng,
8
Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy hoạch sử
dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính [11].
(1). Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các
vùng kinh tế tự nhiên);
(2). Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
(3). Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
(4). Quy hoạch sử dụng đất cấp xã (không thuộc khu vực quy hoạch phát
triển đô thị).
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự
nhiên của lãnh thổ. Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng
đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo
nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến
cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước.
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao
gồm: Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho
hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một
bước quy hoạch sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn;
Làm căn cứ, cơ sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử
dụng đất của địa phương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm làm căn cứ
để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về
đất đai.
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định
cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân
cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng). Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này
đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính. Đối với quy
hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại
Điều 30 [14].
10
vệ môi trường;
(6). Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối
hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Hình thành hệ thống cơ cấu
sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng
đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng
đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao
nhất.
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tính khả thi và hiệu qủa của quy
hoạch sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm tiêu chí đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phương
án quy hoạch sử dụng đất
Trước hết, cần giới hạn về khái niệm của “tiêu chí” (hay tiêu chuẩn) đánh
giá trong phạm vi nghiên cứu (đây là vấn đề khó, còn nhiều tranh luận và chưa
có một định nghĩa chính thống nào). Theo từ điển tiếng Việt: “Tiêu chí là tính
chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại sự vật, một khái niệm...” [18].
Như vậy, từ khái niệm nêu trên đối với tiêu chí đánh giá tính khả thi và
hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất có thể nhìn nhận như sau:
- Đề nhận biết, cần có một hệ thống các chỉ tiêu: có thể là chỉ tiêu tổng
hợp hay theo từng yếu tố, chỉ tiêu định tính hoặc định lượng;
- Còn để xếp loại (phân mức đánh giá) cần có chuẩn để so sánh: có thể là
một chuẩn mực hay ngưỡng để đánh giá dựa trên các định mức, chỉ số cho phép,
đơn giá hoặc quy ước nào đó được chấp nhận...
1.2.2 Bản chất và phân loại tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất
12
Về mặt bản chất, tính khả thi biểu thị khả năng thực hiện của phương án
quy hoạch sử dụng đất khi hội tụ đủ một số điều kiện hoặc yếu tố nhất định cả về
phương diện tính toán, cũng như trong thực tiễn.
(2). Khả thi về phương diện khoa học - công nghệ, bao gồm:
* Cơ sở tính toán và xác định các chỉ tiêu sử dụng đất:
- Tính khách quan của các yếu tố tác động đến việc sử dụng đất: điều kiện
tự nhiên, định hướng phát triển kinh tế - xã hội;
- Sử dụng các định mức, tiêu chuẩn;
- Xây dựng các dự báo theo quy luật phát triển khách quan; căn cứ theo
mô hình mẫu...
* Phương pháp công nghệ được áp dụng để xử lý tài liệu, số liệu và xây
dựng tài liệu bản đồ...
(3). Khả thi về yêu cầu chuyên môn - kỹ thuật, gồm các tiêu chí đánh giá
về:
* Mức độ đầy đủ các nội dung chuyên môn theo các bước thực hiện quy
hoạch và các nội dung cụ thể của phương án quy hoạch sử dụng đất...
* Nguồn tư liệu và độ tin cậy của các thông tin phụ thuộc vào cách thức
thu thập, điều tra, xử lý và đánh giá;
* Tính phù hợp, liên kết (từ trên xuống dưới) của các chỉ tiêu sử dụng đất
theo quy định trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp.
(4). Khả thi về các biện pháp cần thiết để phương án quy hoạch thực hiện
được. Theo kinh nghiệm, tiêu chí này có thể được đánh giá căn cứ theo đặc điểm
hoặc tính chất đầu tư của nhóm các biện pháp sau đây:
* Nhóm 1: Là các biện pháp về tổ chức lãnh thổ (cần đầu tư kinh phí)
nhằm tạo điều kiện không gian phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh
và mục đích sử dụng đất của doanh nghiệp và người sử dụng đất). Cụ thể bao
14
gồm: các biện pháp cần thiết khi thực hiện việc chu chuyển đất đai và chuyển đổi
mục đích sử dụng (khai hoang, phục hoá, lấn biển, khôi phục mặt bằng sử dụng
đất, cải tạo cơ bản nhằm đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước
hoang hoá vào sử dụng...); xác định ranh giới và cơ cấu diện tích đất của các chủ
đất để thực hiện các công trình, dự án...
* Các giải pháp về quản lý và hành chính:
- Xác định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thực hiện và
quản lý quy hoạch;
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử
dụng đất đã được quyết định, xét duyệt;
- Kiểm soát chặt chẽ tình trạng tự phát chuyển đổi đất trồng lúa sang đất
trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản hoặc chuyển sang sử dụng vào các mục
đích khác không theo quy hoạch;
- Thực hiện tốt việc đào tạo nghề, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề đối với
lao động có đất bị thu hồi...
* Các giải pháp về cơ chế chính sách
- Tạo điều kiện để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
trên đất nông nghiệp nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, phù hợp với nhu cầu thị
trường;
- Bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có đất canh tác và đất ở;
- Tổ chức tốt việc định canh, định cư;
- Ổn định đời sống cho người dân được giao rừng, khoán rừng; khuyến
khích ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ có liên quan đến sử dụng đất nhằm
tăng hiệu quả sử dụng đất.
1.2.3 Bản chất và phân loại hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất
Hiệu quả là tổng hoà các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường mà quy
hoạch sử dụng đất sẽ đem lại khi có thể triển khai thực hiện phương án trong
16
thực tiễn (với phương án đã được đảm bảo bởi các yếu tố khả thi).
Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế
của xã hội. Quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, liên
quan đến nhiều vấn đề và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như các mối