lời nói đầu
Trong nghị quyết lần thứ 7 của Trung ơng Đảng ( tháng 7 năm 1994) có đặt
vấn đề xây dựng một nền kinh tế mở hớng mạnh về xuất khẩu ... Quan điểm
xây dựng một nền kinh tế mở của Đảng đã phù hợp với qui luật hình thành một
nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, là động lực tác động tích cực đến hoạt động của
các ngành, các thành phần kinh tế, đặc biệt là các tổ chức kinh doanh, xuất nhập
khẩu.
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang nỗ lực cố gắng hoà nhập vào nền kinh
tế thế giới, thông qua chính sách kinh tế mở cửa nhằm đẩy mạnh hơn nữa tốc độ
tăng trởng kinh tế, góp phần làm giảm tỉ lệ lạm phát, nâng cao đời sống nhân
dân. Trong một vài năm trở lại đây, tốc độ tăng trởng kinh tế của nớc ta đã đạt đợc ở mức khá cao so với khu vực và thế giới. Đạt đợc kết quả đó, có một phần
đóng góp của các tổ chức đơn vị kinh doanh thơng mại quốc tế (kinh doanh xuất
nhập khẩu) góp phần đa nền kinh tế Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế khu vực
và thế giới.
Công ty xuất nhập khẩu mây tre, Bộ Thơng Mại (gọi tắt là Barotex) ra đời
từ năm 1971. Gần 30 năm hình thành và phát triển, công ty đã đóng góp tích cực
vào hoạt động xuất nhập khẩu chung của cả nớc. Từ khi ra đời cho đến nay công
ty không ngừng củng cố và phát triển về cả mặt chất và mặt lợng, ngày đầu
thành lập công ty chỉ có hơn 20 cán bộ và bộ đội chuyển ngành có trình độ
nghiệp vụ đối ngoại non yếu, tình hình sản xuất hàng xuất nhập khẩu mấy tre ở
các địa phơng thì manh mún, phân tán, cơ cấu hàng hoá thì nhỏ bé, không ổn
định, thị trờng xuất khẩu thì chủ yếu là Liên Xô cũ và các nớc trong phe Xã hội
chủ nghĩa...
Đến nay, công ty đã có một đội ngũ cán bộ hầu hết có trình độ đại học
(chiếm trên 90% cán bộ nhân viên khối kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu) và
với đội ngũ công nhân có tay nghề khá, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đa dạng,
phong phú, thị trờng xuất khẩu đã đợc mở rộng, sản phẩm song, mây, tre của
công ty đã có mặt ở khắp các châu lục trên thế giới.
Những đặc điểm kinh tế, chính trị trong và ngoài nớc những năm gần đây,
đã ảnh hởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng song mây tre xuất
khẩu. Với hàng loạt các sự kiện diễn ra liên tiếp trong thời gian gần đây: Mỹ bỏ
Lúc đầu hoạt động xuất khẩu còn do một bộ phận nhỏ của công ty xuất nhập
khẩu tạp phẩm đảm nhận với kim ngạch ít ỏi chỉ vào khoảng 200.000 Rúp và
Đôla mỗi năm. Từ năm 1960 bộ phận này đợc tách riêng thành phòng mây tre
trực thuộc Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ, với kim ngạch tăng
dần lên 400.000 Rúp và Đôla. Đến năm 1970 đạt 700.000 Rúp và Đô la.
Trớc tình hình đó tháng 4/1971, Tổng công ty xuất nhập khẩu mây tre (tên
giao dịch là Barotex) đợc thành lập với giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu số
1.16.1.032/GP.
Đến năm 1995, căn cứ quyết định số 108 TM /TCCB Tổng công ty xuất
nhập khẩu mây tre đổi tên là công ty xuất nhập khẩu mây tre (gọi tắt là Barotex).
Trải qua 27 năm với những biến đổi lớn lao của đất nớc, Tổng công ty xuất
nhập khẩu mây tre đã không ngừng củng cố và phát triển.
Đợc tách ra từ Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ, tổ chức bộ
máy lúc đầu của công ty xuất nhập khẩu mây tre còn hết sức nhỏ bé. Văn phòng
4
của công ty chỉ có 4 phòng ban và một chi nhánh giao nhận tại Hải Phòng. Cơ
sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, đội ngũ cán bộ nhân viên vừa yếu lại vừa
thiếu. Với 26 cán bộ từ bộ đội chuyển ngành hoặc từ các ngành khác chuyển
sang, số cán bộ có trình độ Đại học, trình độ ngoại ngữ hiểu biết nghiệp vụ kinh
doanh đối ngoại rất ít.
Trong thời kỳ 5 năm đầu tiên, Tổng công ty chủ yếu tập trung vào xây dựng
cơ sở vật chất, tổ chức sản xuất, củng cố bộ máy tổ chức sản xuất. Đến năm
1975 kim ngạch xuất khẩu đã tăng 2,22 lần so với năm đầu thành lập.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nớc đã thống nhất thì phạm vi
hoạt động của công ty đã đợc mở rộng hơn, tuy có nhiều thuận lợi nhng khó
khăn cũng không ít. Đất nớc bắt tay vào khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh,
các cơ sở sản xuất hàng mây tre xuất khẩu ở phía Nam hầu nh cha có gì. Để
nhanh chóng mở rộng ngành hàng phát triển trong toàn quốc, công ty đã lần l ợt
thêm mặt hàng nông sản xuất khẩu và một số ít hàng tiêu dùng. Đồng thời cũng
trong thời gian này công ty đã thí điểm mở rộng tổ chức mô hình các phòng
kinh doanh xuất nhập khẩu, củng cố các phòng chuyên doanh và trung tâm dịch
vụ xuất nhập khẩu, giảm bớt bộ máy và các cán bộ làm công việc gián tiếp. Tiếp
tục thử nghiệm quy chế khoán trong kinh doanh nên đã phát huy đợc một số mặt
tích cực, tăng đợc kim ngạch xuất nhập khẩu, phát huy đợc tính năng động của
cán bộ công nhân viên trong toàn công ty. Cho đến hết năm 1997 kim ngạch
xuất nhập khẩu của công ty trong hai năm (1996 - 1997) đã đạt 63 triệu Rúp USD. Đã mở rộng phát triển xuất khẩu sang 35 thị trờng và nhập khẩu từ 22 thị
trờng thuộc hơn 50 quốc gia trên thế giới. Nh vậy so với năm 1971, năm đầu
thành lập công ty, với năm 1997 (sau 26 năm thành lập) thì kim ngạch xuất nhập
khẩu đã tăng khoảng 30 lần, và với số cán bộ công nhân viên lúc đầu (năm
1971) là 26 ngời thì đến hết năm 1997 toàn công ty đã có 1.534 cán bộ công
nhân viên với 4 xí nghiệp sản xuất, 3 chi nhánh và 15 phòng ban thuộc văn
phòng công ty có trụ sở chính tại 37 Lý Thờng Kiệt - Hà Nội với vốn điều lệ là
24.533.000.000 đồng trong đó:
Vốn cố định: 8.653.000.0000 đồng
Vốn lu động: 15.880.000.000 đồng
Có tài khoản tiền Việt và Ngoại tệ tại ngân hàng ngoại thơng Việt Nam.
6
1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty và chức năng nhiệm vụ của từng
bộ phận
Công ty xuất nhập khẩu mây tre là một doanh nghiệp nhà nớc đợc phép
hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu theo quyết định thành lập số 212
của Bộ thơng mại ký ngày 20 tháng 8 năm 1985.
Quyền hạn của công ty
Đợc quyền ký kết hợp đồng kinh tế với tất cả các tổ chức và cá nhân
trong nớc và quốc tế;
Đợc phép mở rộng văn phòng đại diện của mình ở tất cả các nớc trên thế
Xây dựng và lựa chọn mô hình tổ chức lao động sao cho phù hợp với nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty với phơng châm gọn nhẹ,
hiệu quả và khoa học. Thực hiện công tác đào tạo, bồi dỡng, tuyển dụng cán bộ,
sử dụng cán bộ đúng năng lực, đúng chuyên môn, xây dựng kế hoạch tiền lơng,
tiền thởng, lựa chọn phơng thức trả lơng ngoài ra còn làm công tác chính sách
xã hội.
*3
Phòng hành chính bảo vệ
Phong kế toán tài chính
*4
Phòng kế hoạch thị trờng
*5
Phòng chuyên doanh 1
*6
Phòng chuyên doanh 2
*7
Phòng chuyên doanh 3
*8
1.2. Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến hàng song
mây tre trong những năm qua
Để thấy đợc tình hình xuất khẩu hàng song mây tre trong những năm qua
và triển vọng xuất khẩu trong những năm tới, chúng ta phải đi sâu tìm hiểu
những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến hàng song mây tre. Để
tạo ra hàng hoá xuất khẩu phải trải qua quá trình chế biến và sản xuất hàng hoá.
Đây là quá trình quan trọng trong hoạt động xuất khẩu vì giá cả và chất lợng
hàng hoá do sản xuất và chế biến quyết định. Sản xuất và chế biến hàng song
8
mây tre ở nớc ta từ trớc đến nay vẫn mang tính chất thủ công, làm bằng tay là
chính.
1.2.1 Những thuận lợi và khó khăn
1.2.1.1 Thuận lợi
Ngoài những chính sách lớn của Đảng và nhà nớc u tiên khuyến khích sản
xuất hàng xuất khẩu (nhất là những ngành hàng sản xuất từ nguyên liệu trong nớc nh song mây tre, nứa lá ... ) nh chính sách thuế, cho vay u đãi, ... thì trong sản
xuất và chế biến hàng song mây tre có một số thuận lợi sau:
*16
Về lao động
Nớc ta là nớc nông nghiệp, mới bắt đầu phát triển công nghiệp nhẹ, công
nghiệp chế biến nên ngời lao động còn d thừa nhiều ở các vùng nông thôn. Ngời
lao động Việt Nam vốn cần cù khéo léo và sáng tạo, đấy là những đặc điểm rất
phù hợp với nghề thủ công. Ngoài ra nớc ta còn có nhiều làng nghề, vùng nghề
sản xuất chế biến hàng song mây tre có truyền thống lâu đời, có nhiều nghệ
nhân, thợ lành nghề có nhiệt huyết với nghề.
*17
tre còn gặp nhiều khó khăn nữa nh: Đội ngũ lao động của nớc ta ở các vùng
nghề nhiều nhng cha tinh thông, năng lực sáng tạo còn hạn chế, cha đợc đào tạo
cơ bản, cha đợc đầu t thích đáng về khoa học kỹ thuật, về công nghệ tiên tiến
cho sản xuất chế biến hàng song mây tre. Trong khai thác chế biến còn dùng
công cụ thô sơ, vì vậy dẫn đến năng suất rất thấp, chất lợng không cao. Ngoài ra
khí hậu nhiệt đới ở nớc ta, một mặt cũng gây không ít khó khăn cho việc sản
xuất chế biến hàng song mây tre nhất là vào mùa xuân, độ ẩm không khí rất cao
làm cho công tác bảo quản rất khó khăn, sản phẩm dễ bị mốc ải biến mầu nếu
nh không có phơng pháp và hình thức bảo quản thích hợp.
1.2.2 Tiềm năng nguyên liệu và tình hình sản xuất hàng song mây tre
1.2.2.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng song mây tre trên thế giới
Một điều dễ nhận thấy là không phải nớc nào, vùng nào trên thế giới cũng
có đợc cây song, mây, tre và cũng không phải bất cứ nớc nào, quốc gia nào có
loại cây này đều có ngành song mây tre phát triển.
*19
Tình hình cung trên thị trờng mây tre trên thế giới
Trong nửa đầu thập niên 90, tình hình cung hàng mây tre trên thế giới hầu
nh không có biến động gì đáng kể. So với những năm 80, lợng cung trung bình
những năm gần đây tăng lên rất chậm, hàng năm chỉ tăng trung bình vào khoảng
0,23%/ năm. Trong khi đó chỉ tiêu này của những năm 80 đạt tới 3% / năm. Ta
có thể thấy rõ điều này qua bảng 1.
Song điều chú ý về cung hàng mây tre trên thế giới là cơ cấu của các n ớc
xuất khẩu mây tre nguyên liệu so với các nớc xuất khẩu mây tre thành phẩm
hoặc bán thành phẩm đang có thay đổi. Inđônêxia trớc kia phần lớn là xuất khẩu
song mây nguyên liệu cho Hông Công, Đài Loan, Trung Quốc ... Các nớc này
nhập khẩu nguyên liệu rồi tổ chức sản xuất ra thành phẩm nh chiếu mây, bàn
ghế ... rồi lại xuất khẩu sang các nớc khác. Nhng hiện nay Iđônêxia và một số nớc khác đang có chính sách cấm xuất khẩu song, mây, tre dới dạng nguyên liệu.
Dự đoán trong tơng lai, các nớc trớc kia xuất khẩu nguyên liệu sẽ chuyển sang
22.920.006
0.2
1992
22.965.846
0,2
1993
23.020.964
0,24
1994
23.087.724
0,29
1995
23.173.148
0.37
Trên thế giới, buôn bán đồ dùng gia đình bằng song, mây, tre tăng từ 13,58
tỷ USD (năm 1990) lên 15,2 tỷ USD (năm 1995). Nớc cung cấp khối lợng đồ
dùng gia đình bằng song, mây, tre lớn trên thế giới hiện nay là Inđônêxia,
Philipin, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Công.
*20
Tình hình cầu hàng mây tre trên thế giới
Điểm qua kim ngạch trao đổi trên thị trờng mây tre thế giới những năm gần
đây (Bảng 1) ta sẽ thấy rõ điều đó.
Ngoài mức tăng về số lợng, nhu cầu về hàng song, mây, tre cũng rất đa
dạng, các sản phẩm có kiểu cách đơn điệu vẫn ở dạng thô nh hiện nay không đợc ngời tiêu dùng a chuộng. Sở thích của họ là gọn nhẹ, bền, đẹp và tiện lợi
trong sử dụng.
Dự báo trong thời gian tới, những sản phẩm có độ tiện lợi cao sẽ có nhu cầu
cao nhất. Đó là những sản phẩm: Đồ đạc nội thất trong nhà nh giờng, tủ, bàn
ghế, v.v ... Đợc sản xuất theo từng bộ với các bộ phận tách rời mà ngời tiêu dùng
1997
1998
1999
3.890.543
3.568.254
2.923.662
2.647.410
2.371.159
3.901.825
3.578.597
2.932.140
2.655.093
2.378.035
3.916.263
3.591.838
2.942.989
2.664.911
2.386.833
ấn Độ
6 Trung Quốc
2.302.096 2.308.772 2.317.318
7 Đài Loan
1.657.509 1.662.315 1.668.467
8 Singapo
1.488.282
1.301.216
39.876
873.760
10,00
7,19
6,40
5,59
0,17
3,75
23.254.253
100%
Thứ nhất : Tỷ lệ % kim ngạch của mỗi nớc so với tổng kim ngạch xuất
khẩu của toàn thế giới trong 5 năm qua gần nh không đổi.
Thứ hai: Kim ngạch xuất khẩu của mỗi nớc tăng lên rất đều đặn, không hề
có sự tăng giảm đột biến nào. Điều này chứng tỏ là cung mặt hàng này trên thế
giới là rất ổn định.
*
Theo tài liệu về hàng mây tre của Philipine
12
Tuy khá đồng đều về lợng kim ngạch, nhng mỗi nớc lại có đặc điểm riêng
về nhóm hàng xuất khẩu của mình.
Inđônêxia là nớc có nguồn nguyên liệu dồi dào nhất, do đó lợng kim
mây, tre.
13
ở Việt Nam có đủ 5 dòng họ song mây, trong đó có tới 145 loại, chủ yếu là
giống song mây calamus, hasces ... mà chúng ta quen gọi là song hèo, song bột,
song đá, song cát, mây nớc, mây rút... Nguồn nguyên liệu này đợc tập trung
nhiều ở các tỉnh Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Nghệ An, Thanh
Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam- Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hoà, Tây
Nguyên... ngoài ra còn một số khu vực trồng vờn nh Hng Yên, Thái Bình.
Tình hình sản xuất và chế biến hàng mây tre xuất khẩu ở Việt Nam
Bảng.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng song, mây, tre của cả nớc
Đơn vị tính: 1.000 USD
Năm
1997
1998
1999
2000
Tổng
Tổng kim ngạch 22.823 22.497 25.163 33.72 128.843
2
1.3 Thực tế xuất khẩu hàng song, mây, tre của Barotex
1.3.1.Thị trờng xuất khẩu của Barotex
14
Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu của Barotex*
(Đơn vị: triệu Rúp)
Nớc
1986
1,0
0,4
1,1
1,0
Hung ga ri
1,1
0,7
0,6
0,3
0,3
Rumania
0,4
0,2
0,8
0,7
Tiệp Khắc
0,8
0,6
1,2
2,5
1,3
Tổng cộng
28,4
30,6
36,0
49,2
38,7
Bảng 5. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre từ năm 1991 đến 1995
(Đơn vị: triệu USD)
Năm
Nhật Bản
1.500.000
Singapo
Đài Loan
1.000.000
Hàn Quốc
500.000
Malaysia
Hồng Công
Bảng 6. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo loại hàng của Barotex vào Nhật
Bản (từ 1993 - 1995)*
Loại
Song mây nguyên liệu
Mặt mây
Mành các loại
Hàng mây tre đan
Tổng số
*
Tài liệu về thị trờng của công ty
1993
500.575
69.800
92.100
16
Hinh 2. Sơ đồ biểu diễn kim ngạch xuất khẩu của Barotex vào một số nớc ở
khu vực Tây Băc  u năm 1995*
1.200.000
Tây Ban Nha
Hà Lan
1.000.000
Italia
800.000
600.000
Pháp
400.000
Thuỵ Điển
200.000
Đức
Châu Phi tuy là thị trờng rất khó xâm nhập nhng công ty cũng đang đầu t
tìm hiểu để không để lỡ những cơ hội có thể có.
Sang năm 1996, công ty vẫn đầu t và duy trì phát triển các mặt hàng
chuyên doanh song, mây, tre xuất khẩu, cố gắng khai thác thơng nhân, thị trờng
để phát triển mặt hàng mới. Đặc biệt là ở hai khu vực châu á Thái bình dơng và
Trung
3.034
719
Nam
3.381
Công
ty
9.500
Năm 1996
Băc Trung
4.900
1.900
Nam
2.700
Bảng 8. Kim ngạch xuất khẩu song, mây, tre năm 1997 của công ty
Barotex. (Đơn vị tính 1000 USD)
Năm
1996
1997
Kim ngạch xuất khẩu song, mây, tre
9.500
6.665
Bảng 9. Kim ngạch xuất khẩu song, mây, tre năm 1997 của công ty Barotex
3,15
200
3,0
Thuỵ Điển
407
4,28
201
3,01
Pháp
242
2,54
168
2,52
Singapo
241
2,53
90
1,35
Hàn Quốc
594
6,25
113
1,69
Đài Loan
147
1,54
113
1,69
Các nớc khác
2.762
225.000 đ
500.000 đ
287.000 đ
5.017.000 đ
550 USD/1tấn
Theo số liệu tính toán của xí nghiệp sản xuất mây tre Kiêu Kỵ- Gia LâmHà Nội thì xuất khẩu một bộ bàn ghế mã 51020 gồm : một bàn chính, 2 bàn phụ,
2 ghế đi văng thì toàn bộ chi phí sẽ là:
Chi phí nguyên liệu song mây các loại
Chi phí nguyên liệu sợi mây vỏ
Chi phí nguyên liệu ruột mây
Chi phí nguyên liệu đinh, vít các loại
Chi phí nguyên liệu xăng
Chi phí nguyên liệu dầu bóng
Chi phí nguyên liệu giấy nháp
Chi phí nguyên liệu bao bì
Các chi phí khác
Giá thành xuất khẩu
Giá bán FOB
Vậy chi phí để có 1 USD là:
1.017.0
360.000 đ
168.000 đ
60.000 đ
9.000 đ
20.000 đ
100.000 đ
10.000 đ
30.000 đ
1,2 USD/chiếc
Chi phí để có 1 USD: 11.700 đ : 1,2 USD = 9.750
Giá bán 1 USD trên thị trờng Hà Nội cuối năm 1997 là 11.500 đ/1USD.
Vậy: 11.500đ - 9.750 đ = 1.750 đ
Khi xuất khẩu một mã hàng mây đan với giá 1USD thì ngời xuất khẩu đợc
lãi: 1.750 x 1,2 = 2.100 đ
Nh vậy tỷ lệ lãi sẽ là: 18%.
20
Phần 2
Phơng hớng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng
song, mây, tre của công ty xuất nhập khẩu mây tre Bộ
Thơng Mại
2.1 Phơng hớng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng song, mây, tre
của công ty xuất nhập khẩu mây tre Bộ Thơng Mại
Qua công tác nghiên cứu khảo sát, công ty đã chủ động sử dụng tất cả các
hình thức để thực hiện mục tiêu tìm kiếm thị trờng nh:
Tăng cờng cử các đoàn ra nớc ngoài (kể cả những ngời trực tiếp sản xuất
ở các địa phơng cũng đợc đi cùng với các đoàn công ty) để trực tiếp quảng cáo,
giới thiệu hớng dẫn và tìm hiểu thị hiếu khách hàng nớc ngoài.
Chủ động mời, tiếp xúc và lôi kéo khách hàng nớc ngoài vào Việt Nam,
tạo điều kiện cho khách hàng tiếp xúc với các cơ sở sản xuất để khách hàng có
điều kiện cơ sở để quyết định nhanh việc ký kết hợp đồng.
Tích cực tham gia hội chợ triển lãm trong nớc và nớc ngoài.
Tăng cờng cải tiến sáng tác đa dạng hoá đề tài, mẫu mã mới và sử dụng
nhiều hình thức tuyên truyền quảng cáo bằng catalogue, lịch, tờ bớm...
Gửi đơn chào hàng tới tất cả các khách hàng mới thông qua các đại diện ở
các cơ quan thơng vụ của ta ở nớc ngoài, đồng thời tổ chức các hội nghị khách
phấn đấu phải là đơn vị có kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre lớn nhất trong cả
nớc. Văn phòng công ty và các đơn vị trực thuộc (trừ xí nghiệp giầy) phải nắm
hàng mây tre, không buông lỏng quản lý, không để thông tin về khách hàng,
mẫu mã, giá cả xuất khẩu chuyển ra bên ngoài.
2.1.2.2 Tích cực khai thác nguồn hàng, thị trờng, mở rộng kinh doanh trên
cơ sở tính toán đảm bảo kinh doanh có lãi hoặc ít ra đủ bù chi phí để tăng kim
ngạch, doanh thu, tạo việc làm cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
2.1.2.3 Về phơng thức kinh doanh
Đối với hàng song, mây, tre thì chủ yếu tự doanh mua đứt bán đoạn, bằng
mọi cách phải tạo đủ vốn dể kinh doanh.
2.1.3 Về tổ chức nguồn hàng xuất khẩu
Trong điều kiện hoạt động trong cơ chế thị trờng, để duy trì và phát triển
kim ngạch mặt hàng song, mây, tre xuất khẩu, vấn đề quyết định hàng đầu hiện
nay là vốn, cơ chế chính sách và điều hành chỉ đạo của doanh nghiệp.
Thống nhất về nguyên tắc quản lý, điều hành trong sản xuất, thu mua về
ngành hàng song mây tre trong nội bộ công ty.
22
Chuyển hớng hoạt động của công ty về cơ sở sản xuất, về các làng nghề
có mặt hàng xuất khẩu cho công ty nh:
Xây dựng các hợp tác xã cổ phần có tham gia vốn của công ty
Xây dựng các đại diện cho công ty ở các cơ sở để thu mua hàng xuất
khẩu
Tăng cờng hơn nữa sự phối hợp của các phòng ban, chi nhánh với công
ty để tạo ra mặt hàng và khả năng xuất khẩu.
Chấn chỉnh, xem xét để chọn lọc lại các đối tác kinh doanh mua hàng và
bán cho công ty, đảm bảo an toàn về vốn và kinh doanh có lãi.
Phải u tiên đặt hàng cho các cơ sở sản xuất có quan hệ làm ăn lâu dài ổn
định với công ty.
Khai thác tốt nguồn vốn vay của ngân hàng thơng mại, nhng phải
tính toán hết sức chặt chẽ, khi đa vào lu thông xuất nhập khẩu của công ty chi
nhánh, xí nghiệp sao cho bảo toàn đợc vốn.
3)
Đổi mới công tác điều hành quản lý, chỉ đạo thu mua hàng xuất
khẩu trong đơn vị từ khâu tài chính - giá cả thu mua hàng xuất khẩu.
4)Xây dựng mối quan hệ và lề lối làm việc sâu sát hơn, đối với khách hàng
và cơ sở sản xuất không vì lợi ích cá nhân để thua lỗ cho doanh nghiệp, ảnh hởng đến sự phát triển của công ty.
5)
Tìm kiếm khách hàng trong nớc và nớc ngoài để thu hút vốn đầu t
cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo ra cơ cấu mới để tăng trởng kim ngạch xuất
khẩu cho công ty, chi nhánh, xí nghiệp, trung tâm xuất nhập khẩu.
2.2.2.Đối với nhà nớc
Xây dựng đề án kiến nghị và trình bộ và nhà nớc.
1) Đề án củng cố và phát triển ngành hàng mây tre mỹ nghệ Việt Nam để
nhà nớc quan tâm, có cơ chế chính sách đối với làng nghề, với thợ thủ
công truyền thống, với nghệ nhân...
2) Kiến nghị Bộ thơng mại, chính Phủ, Bộ tài chính giải quyết các chính
sách cho ngành hàng.
3) Kiến nghị nhà nớc (ngân hàng đầu t phát triển nông nghiệp, ngân hàng
phục vụ ngời nghèo) có chính sách u đãi và ổn định cho ngời thợ thủ
công sản xuất hàng xuất khẩu vay ngắn hạn từ 1,0 đến 1,2 %/ tháng trên
cơ sở có hợp đồng bán sản phẩm cho công ty Barotex Việt Nam.
4) Kiến nghị nhà nớc giảm lợi nhuận phải nộp của ngành hàng mây tre
xuống còn 20 - 25 % / năm (lợi nhuận phải nộp) .
24
5) Kiến nghị Bộ và nhà nớc nghiên cứu cho tổ chức hội chợ chuyên ngành
ở trong nớc và có sự chỉ đạo thống nhất công tác hội chợ và quảng cáo
hiệu quả, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách. Đặc biệt với hơn 500 cơ sở sản
xuất hàng song, mây, tre xuất khẩu nằm rải rác từ Bắc vào Nam ngành hàng mây
tre đã giải quyết đợc việc làm cho hàng triệu lao động, tạo công ăn việc làm cho
số lợng lớn lao động truyền thống tại các vùng nghề và một số lao động đang
dôi thà trong xã hội, ghi nhận những đóng góp to lớn đó, nhà nớc và bộ chủ
quản trong nhiều năm đã có những tặng thởng cao quí cho công ty.
Đạt đợc kết quả trên đây trớc hết là công lao đóng góp to lớn của những
ngời thợ thủ công trong cả nớc, những ngời khai thác nguyên liệu của các cơ sở
sản xuất và địa phơng đã vợt mọi khó khăn, chung sức chung lòng với công ty để
tạo ra ngày càng nhiều những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cho đất nớc.
Đó cũng là kết quả của sự năng động, sáng tạo và quá trình làm việc đầy
trách nhiệm của cán bộ công nhân viên công ty và các tổ chức kinh doanh ngành
hàng mây tre xuất khẩu và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan hữu quan từ
trung ơng tới địa phơng. Thành tích trên đây tuy thật sự đáng khích lệ nhng so
với tiềm năng và thế mạnh về lao động, nguyên liệu của đất nớc thì kim ngạch
hàng mây tre xuất khẩu đạt đợc trong những năm qua còn thấp và chỉ chiếm một
tỷ lệ nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Để đạt đợc mục tiêu về
kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre từ nay đến năm 2000, đảm bảo kim ngạch
năm sau cao hơn năm trớc 15 - 25% ngoài sự nỗ lực của những ngời thợ thủ
công, những cơ sở sản xuất ở các địa phơng và cán bộ công nhân viên trong toàn
công ty, thì nhà nớc cần có những chính sách và cơ chế phù hợp hơn đối với các
cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, đồng thời cũng cần có sự hỗ trợ tích cực của các
ngành hữu quan từ trung ơng tới các địa phơng.
Nhìn lại chặng đờng đã đi, có lúc khó khăn trắc trở, có những bớc thăng
trầm nhng nói chung trong giai đoạn nào công ty cũng thực hiện tốt các nhiệm
vụ mà nhà nớc giao cho. Trớc mắt khó khăn còn nhiều, nhng với kinh nghiệm
quí báu đã đợc đúc rút, với sự hợp tác chặt chẽ giữa những ngời thợ thủ công
trong cả nớc với công ty, chắc chắn những chặng đờng khó khăn trớc mắt của
công ty sẽ vợt qua. Về phần mình công ty cần cùng với các cơ sở sản xuất các
địa phơng năng động, nhậy bén để điều chỉnh hoạt động và các mối quan hệ