THỰC TRẠNG SƠ CỨU BAN ĐẦU NGƯỜI BỆNH BỎNG TRƯỚC KHI ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TAI KHOA CHẤN THƯƠNG BỆNH VIỆN A TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 35

THỰC TRẠNG SƠ CỨU BAN ĐẦU NGƯỜI BỆNH BỎNG
TRƯỚC KHI ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TAI KHOA
CHẤN THƯƠNG BỆNH VIỆN A TỈNH THÁI NGUYÊN

Hoàng Viết Thái

1


MỤC LỤC
Tran
g
ĐẶT VÂN ĐỂ: .................................................................................................. ….…….. 2
Chương 1: TỔNG QUAN
1. Sơ lược nghiên cứu......................................................................................……..…4
2. Giải phẫu và mô học của da.....................................................................……..…4
3.
Nguyên nhân gây bỏng ...........................................................................……..…5
4. Sơ cấp cứu bỏng .....................................................................................………....6
5. Biến chứng bỏng......................................................................................…….…. 8
Chương 2 : ĐÔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu....................................................................……..….9
2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................……..….9
3. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................……..….9
4. Cách chọn mẫu……………….…………........................................................……..…9
5. Chỉ tiêu nghiên cứu……....................................................................................…..……9
6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu………............................................……….10
7. Xử lý số liệu…………...................................................................................……….10
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Tỷ lệ người bệnh bỏng theo tuổi và giới…………………..……………………11
Bảng 2: Tỷ lệ người bệnh bỏng theo địa giới hành chính…..……...……………………11

Tại Pháp hàng năm có khoảng 500.000 người bị bỏng, trong đó có 10.000 người
bỏng nặng cần phải điều trị tại bệnh viện, số người bệnh tử vong do bỏng ước tính
khoảng 1000 người/năm.
Tại Việt Nam, số liệu điều tra tại 40 tỉnh thành trên toàn quốc cho thấy mỗi năm
có khoảng 800.000 – 850.000 người bệnh bỏng, chiếm khoảng 1% dân số, chiếm
6-10% trong chấn thương ngoại khoa. Bỏng gặp ở mọi lứa tuổi, giới tính, nông
thôn hay thành thị. Bỏng do sinh hoạt chiếm phần lớn (65%), bỏng ở trẻ em (38,656,8%) tổng số nạn nhân bỏng [4]. Theo [3], số trẻ vào điều trị tại Viện Bỏng quốc
gia chiếm 53,83% tổng số bệnh nhân, trong đó trẻ em
Năm 1942, Alien H.s và Koch S.L đề nghị dùng phương pháp băng ép vết thương.
2. Giải phẫu và mô học của da
Da là một cơ quan che phủ lớn nhất của cơ thể, có nhiều chức năng và thay đổi
theo từng vùng. Da gồm 3 lớp: Biểu bì, trung bì, hạ bì. Biểu bì và trung bì ngăn
cách nhau bởi màng đáy:
+ Biểu bì là biểu mô lát tầng sừng hóa, gồm 4-5 lớp, từ dưới lên trên có:
• Lớp đáy (lớp sinh sản): Bao gồm một hàng tế bào hình khối vuông hoặc hình trụ,
có khả năng sinh sản cao.

Lớp sợi (Manpigi): Bao gồm 3-5 hàng tế bào hình đa diện.
• Lớp hạt: Gồm 5-7 hàng tế bào dẹt, hình thoi, bào tương nhiều hạt sừng.
• Lớp bóng: Gồm 3-5 hàng tế bào dẹt, đã mất nhân và bào quan
• Lớp sừng: Gồm những tế bào đã hóa sừng thành dải sừng.
+ Trung bì gồm tế bào của mô liên kết, mạch máu, thần kinh, tuyến bã, nang lông
và tuyên mồ hôi, các chất nền tảng: fibronectin, Proteoglycan, sợi tạo keo, sợi lưới, sợi


chun.. .Trung bì còn được chia thành 2 lớp nhỏ:

Lớp nhú: Ngay dưới màng đáy, tập trung nhiều mạch máu,thần kinh
• Lớp lưới:Gồm nhiều tế bào xơ sợi, thành phần phụ của da và thần kinh,
mạch máu.
+ Hạ bì: Gồm mô liên kết mỡ, mạng lưới mạch máu thần kinh da. Hạ bì có ổ mỡ


5


chứa tế bào mỡ, lớp cân nông và mô liên kết lỏng lẻo [1].
3. Nguyên nhân gây bỏng.

gian của tia lửa rất ngắn từ 0,2 – l giây.

+ Bỏng do luồng điện: Luồng điện dẫn truyền qua cơ thể sẽ gây các rối loạn bệnh lý toàn
thân và tổn thương tại chỗ. Bỏng do luồng điện gây rối loạn bệnh lý toàn thân chia làm 4
mức độ:
• Nhẹ: Luồng điện gây những co bóp mạnh, tri giác còn nguyên vẹn.
• Vừa: Cơ co mạnh và mất tri giác
• Nặng: Mất tri giác và rối loạn hoạt động của tim, hô hấp, tiết niệu....
• Rất nặng là chết lâm sàng.
6


3.4 Bỏng do bức xạ:
Bao gồm bỏng do tia hồng ngoại, tử ngoại và Rơnghen, tia laser.. .mức độ tổn
thương tuỳ thuộc vào loại tia, mật độ, chùm tia, khoảng cách từ nguồn tia đến da và thời
gian tác dụng.

4. Sơ cấp cứu bỏng
Sơ cấp cứu người bệnh bỏng là những công việc vừa mang tính chất cộng đồng
vừa mang tính chất chuyên môn, bao gồm những can thiệp được tiến hành ngay
trong khoảng thời gian sau khi bị nạn, trước khi người bệnh đến được cơ sở y tế
đầu tiên.
Mức độ nặng hay nhẹ của bỏng cũng như sự thành công trong điều trị bỏng,
không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả điều trị tại các bệnh viện, mà còn phụ thuộc
nhiều vào việc sơ cứu ngay sau bỏng. Sơ cứu ban đầu có vị trí đặc biệt quan trọng,
nếu xử trí đúng ngay sau bỏng sẽ làm giảm diện tích, độ sâu của bỏng, làm diễn
biến của người bệnh nhẹ hơn… nếu xử trí sai làm kết quả ngược lại.
Sơ cứu bỏng càng sớm càng tốt, tốt nhất trong khoảng 30 phút đầu sau bỏng,
sau khoảng thời gian trên việc ngâm rửa ít có tác dụng [6].
4.1. Sơ cứu tại chỗ với bỏng nhiệt: gồm các bước cơ bản sau:

4.3. Sơ cấp cứu bỏng hóa chất
- Bước 1: Nhanh chóng đưa nạn nhân khỏi tiếp xúc với tác nhân gây bỏng.
- Bước 2: Ngâm rửa vùng bỏng bằng nước sạch càng sớm càng tốt. Thời gian
ngâm rửa nước sạch thường kéo dài hơn so với bỏng nhiệt (30 – 60 phút). Không
tiến hành rửa ngay bằng nước với bỏng do các hợp chất hữu cơ của Nhôm, Natri,
Liti và các acid (HNO3, H2SO4) đậm đặc.
- Bước 3: Trung hòa tác nhân gây bỏng, chỉ tiến hành sau khi đã ngâm rửa vết
bỏng bằng nước sạch.
+ Với bỏng kiềm, vôi tôi có thể dùng các chất dễ kiếm: nước chanh, dấm ăn
+ Với bỏng acid có thể dùng nước vôi trong, nước xà phòng 5% hoặc dung dịch
Natribicacbonat 2 – 3 %.
- Bước 4: Che phủ và băng ép nhẹ vết bỏng bằng băng gạc sạch.
- Bước 5: Bù nước và điện giải sau bỏng: uống Oresol, nước chè đường ấm.
- Bước 6: nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất.
5. Biến chứng bỏng
Biến chứng của bỏng là sự tăng nặng về tình trạng bệnh bỏng. Biến chứng của
bỏng có thể gây ra các biến loạn chức năng trong cơ thể làm ảnh hưởng trực tiếp
đến tính mạng, hiệu quả điều trị và để lại những di chứng suốt đời cho người bệnh.
Biến chứng bỏng có thể xảy ra ngay trong giai đoạn đầu sau bỏng (biến chứng
sớm: sốc bỏng, nhiễm trùng nhiễm độc) hoặc cũng có thể xảy ra vào giai đoạn hồi
phục bỏng (biến chứng muộn: sẹo co dính, hạn chế vận động).
8


Theo Lê Thế Trung(1972), tổn thương bỏng gây ra những rối loạn bệnh lý toàn thân
xuất hiện có tính quy luật gọi là bệnh bỏng. Quy luật này trải qua 4 thời kỳ [4]

5.1. Thời kỳ đầu: Sốc bỏng (48h đầu):
Sốc bỏng là trạng thái suy sụp đột ngột toàn bộ chức năng quan của cơ thể do
chấn thương bỏng gây nên. Sốc bỏng thường gặp ngay sau khi bị bỏng, hay gặp ở



4. Cách chọn mẫu: có chủ đích, tất cả người bệnh bỏng đến khám và điều trị tại
Khoa Chấn thương Bệnh viện A Tỉnh Thái Nguyên
5. Chỉ tiêu nghiên cứu
5.1. Thông tin chung
- Tuổi, giới, dân tộc, nơi ở
- Tác nhân gây bỏng: Nhiệt độ, hóa chất, điện, phóng xạ
- Nguyên nhân: tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, tai nạn giao thông
- Nơi bị bỏng theo địa giới hành chính: thành thị, nông thôn, miền núi
- Bỏng xảy ra theo chỗ ở, nơi làm việc
5.2. Thông tin sơ cứu bỏng ban đầu
- Người bệnh bỏng được sơ cứu, không được sơ cứu
- Thời điểm sơ cứu bỏng: thời gian từ lúc xảy ra bỏng đến khi được sơ cứu
- Người sơ cứu: cán bộ y tế cơ sở, người nhà, tự sơ cứu
- Phương pháp sơ cứu bỏng
- Sơ cứu bỏng đúng, không đúng
- Nguồn cung cấp kiến thức sơ cứu bỏng cho người làm sơ cứu
5.3. Biểu hiện biến chứng bỏng
- Sốc:
+ Tinh thần: tỉnh, kích thích, lơ mơ
+ Da, niêm mạc: hồng ấm, tái lạnh, nổi vân tím
+ Mạch, huyết áp
- Nhiễm khuẩn: Thân nhiệt của người bệnh từ ngày thứ 3 sau bỏng
6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người bệnh hoặc người
nhà hoặc người vận chuyển bệnh nhân dựa theo phiếu điều tra được thiết kế trước
7. Xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm SPSS 18.0



n
11
3
1
8
3

%
32.4
42.9
50
47.1
75

n
34
7
2
17
4

%
100
100
100
100
100

Tổng


%
25
57.8
17.2
100

Nhận xét: Người bệnh bị bỏng ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ cao nhất 57.8%
Bảng 3: Nguyên nhân gây bỏng
Nguyên nhân
Tai nạn sinh hoạt
Tai nạn giao thông
Tai nạn lao động
Tai nạn khác
Tổng

n
56
4
3
1
64

%
87.5
6.3
4.7
1.5
100



n

%

n

%

n

%

1

2,9

0

0

0

0

5

29.4

1


85.9

Hóa chất
Tia lửa điện

0

0

0

0

0

0

2

11.8

0

0

2

3.1


0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Tổng

34

100

7

100


9.4
Tổng
64
100
Nhận xét: Tai nạn bỏng xảy ra tại nhà chiếm tỷ lệ cao (85.9%) so với các nơi khác
12


Bảng 6: Tỷ lệ người bệnh bỏng được sơ cứu
Sơ cứu
n
%

52
81.3
Không
12
18.7
Tổng
64
100
Nhận xét: Tổng số 64 người bệnh bỏng đến khám và điều trị có 52/64 người
bệnh được sơ cứu trước khi đến viện chiếm 81.3%.
Bảng 7: Thời gian sơ cứu sau bị bỏng
Sơ cứu
n
%
Trước 30 phút
48
92.3


Chưa đúng
n
%

Tổng
n
%

Ngâm rửa nước mát > 15 phút

17

100

0

0

11

32.7

Rửa qua nước mát

0

0

19


11.5

Bôi mỡ Trăn

0

0

3

8.6

3

5.8

Khác

0
17

0
100

0
35

0
100

75

5

13.9

17

32.7

Chưa đúng

4

25

31

86.1

35

67.3

Tổng

16

100



%

14
9
2

26.9
17.3
3.8

27

51.9

52

100

Nhận xét: Nguồn cung cấp thông tin về sơ cứu bỏng chiếm chủ yếu từ các
Trường Y chiếm 26.9 %.Tỷ lệ người chưa tiếp cận thông tin sơ cứu bỏng còn cao.
chiếm 51.9%.
Bảng 12: Liên quan giữa sơ cứu bỏng với biểu hiện tinh thần của người bệnh
Sơ cứu
Tinh thần

Sơ cứu đúng

Sơ cứu chưa đúng


7

58.3

47

73.4

Kích thích

2

11.8

10

28.6

5

41.7

17

26.6

Li bì. hôn mê

0


Tổng

14


Nhận xét: Đa số người bệnh nhập viện trong tình trạng tỉnh táo ( 73.4%). người
bệnh có biểu hiện kích thích là 26.6% trong đó nhóm người bệnh được sơ cứu
không đúng và không được sơ cứu chiếm 23.4%.
Bảng 13: Liên quan giữa sơ cứu bỏng với biểu hiện da. niêm mạc
Sơ cứu Sơ cứu đúng Sơ cứu chưa đúng Không sơ cứu

Tổng

Da. niêm mạc

n

%

n

%

n

%

n

%


2

16.7

7

10.9

0

0

0

0

0

0

0

0

17

100

35

47.1

22

62.9

7

58.3

37

57.8

Bình thường

9

52.9

13

37.1

5

41.7

27


0
2

%
0
100
0
100

Sơ cứu chưa đúng
n
0
11
4
15

%
0
73.3
26.7
100

Không sơ cứu
n
0
1
1
2

%

Nhiệt độ
n
%
n
%
n
%
n
%
Sốt cao
Sốt nhẹ
Không sốt
Tổng

0
2
15
17

0
11.8
88.2
100

3
19
13
35

8.6

tác sơ cứu chúng tôi nhận thấy:
Bỏng gặp ở người bệnh là nam nhiều hơn nữ, đặc biệt là ở nhóm dưới 5 tuổi
nam chiếm 67.6%. Điều này cũng phù hợp với tính cách hiếu động và đặc điểm
giới tính của trẻ.
Bỏng chủ yếu do nhiệt nóng ướt chiếm 85.9% so với tác nhân khác, cao hơn so
với nghiên cứu của Vũ Mạnh Độ & cộng sự (75.5%). Bỏng xảy ra nhiều tại khu
vực nông thôn (57.8%). Đây là do điều kiện kinh tế và công tác chăm sóc trẻ
thường dùng nước nóng tắm cho trẻ và lơ là trong việc xắp xếp, quản lý các vật
dụng đựng nước nóng trong gia đình.
Đa số người bệnh bỏng được sơ cứu trước khi đến bệnh viện điều trị (81.3%),
việc sơ cứu đều được thực hiện sớm ngay sau bỏng (92.7%). Công tác sơ cứu ngay
sau bỏng chủ yếu là do người nhà hoặc tự sơ cứu (69.2%) cho thấy người dân đã có
ý thức về sự nguy hiểm của bệnh bỏng nhất là những biến chứng do bỏng để lại.

Kiến thức sơ cứu sau bị bỏng đã có nhiều kênh thông tin truyền tải nhưng công
tác sơ cứu ngay sau bỏng làm chưa tốt, vẫn còn nhiều người bệnh bỏng chưa được
sơ cứu (18.7%) và sơ cứu chưa đúng (67.3%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ người chưa tiếp cận thông tin sơ cứu bỏng còn cao chiếm 51.9%. Nguồn
cung cấp thông tin về sơ cứu bỏng từ các phương tiện truyền thông chỉ chiếm
17.3%, chính vì vậy nên khi xảy ra tai nạn bỏng người bệnh và gia đình thường sử
16


dụng các phương pháp không đúng như: dội nước mắm, bôi kem đánh răng, các
loại mỡ động vật…đây là những yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và tổn
thương thêm cho người bệnh.
Người bệnh ở nhóm không được sơ cứu và nhóm sơ cứu chưa đúng có tỷ lệ biểu
hiện mạch nhanh, huyết áp tăng và da – niêm mạc tái lạnh cao hơn hẳn nhóm được
sơ cứu đúng. Đây là các biểu hiện của hiện tượng sốc nhẹ. Do đó cần phải nâng
cao kỹ năng sơ cứu bỏng trong cộng đồng để hạn chế các biến chứng do bỏng.

cùng làm theo.
3. Phải có kế hoạch đào tạo lại, định kỳ tập huấn và đánh giá kết quả công tác sơ
cứu bỏng đối với cán bộ y tế cơ sở, góp phần hạn chế biến chứng do bỏng gây ra
và nâng cao kết quả điều trị.

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 – Bệnh học Ngoại khoa, tập II (2004): Trường ĐH Y Hà Nội, Nhà xuất bản y
học, tr. 167 – 174.
2 – Điều dưỡng Ngoại khoa (2005): Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định, (tài liệu
lưu hành nội bộ, dùng cho ĐH chính qui), tr. 391- 404.
3 – Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Ngọc Tuấn (2002): Dịch tễ bỏng
trẻ em 17 năm (1985-2001) tại Viện Bỏng Quốc gia. Tạp chí Thông tin Y Dược,
tháng 12/2002.
4 – Lê Thế Trung (2003): Những kiến thức chuyên ngành bỏng. Nhà xuất bản y
học.
5 – Nguyễn Như Lâm, Đặng.T.Bích Hoà (2006): Đánh giá thực trạng sơ cấp cứu
nạn nhân bỏng tại các cơ sở y tế. Y học thảm hoạ & bỏng. Số 1. tr. 70-77.
6 – Sơ cấp cứu điều trị bỏng (2006): Viện Bỏng Quốc gia. Nhà xuất bản y học.
7 – Đỗ Thanh Long, Nguyễn Hồng Thái, Hoàng Thị Tích (2007): Tình hình khám
bệnh tiếp nhận người bệnh tại Viện Bỏng Quốc gia năm 2006. Y học thảm hoạ &
bỏng. Số 1. tr. 22- 25.
8 – Vũ Mạnh Độ & cộng sự (2007): Nhận xét chăm sóc sơ cứu bỏng ban đầu

người bệnh bỏng đến khám và điều trị tại khoa chấn thương bệnh viện đa
khoa tỉnh Nam Định.

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status