HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHM TH KIM LAN
ĐảNG Bộ TỉNH THáI BìNH LãNH ĐạO
ĐàO TạO NGUồN NHÂN LựC CHO NÔNG NGHIệP
Từ NĂM 2001 đếN năM 2010
Chuyờn ngnh
: Lch s ng Cng sn Vit Nam
Mó s
: 62 22 03 15
LUN N TIN S LCH S
Ngi hng dn khoa hc: 1. PGS.TS NGUYN TRNG PHC
2. PGS.TS V QUANG VINH
H NI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích
dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Phạm Thị Kim Lan
7
18
21
21
37
51
62
3.1. Yêu cầu mới và quan điểm của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực
từ năm 2006 đến năm 2010
3.2. Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng chủ trương của Trung ương
Đảng về đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp
73
Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Một số nhận xét
4.2. Kinh nghiệm
109
109
127
KẾT LUẬN
142
:
Giáo dục - đào tạo
KHCN
:
Khoa học công nghệ
KT - XH
:
Kinh tế - xã hội
NNL
:
Nguồn nhân lực
NTM
:
Nông thôn mới
UBND
đoạn 2006-2010 của Thái Bình và một số tỉnh lân cận
Bảng 3.3: Số lượng trang trại của Thái Bình năm 2010
105
106
Bảng 3.4: Đóng góp của các ngành kinh tế vào tốc độ tăng trưởng
của Thái Bình so sánh qua 2 giai đoạn 2001-2005 và
2006-2010
107
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các nguồn lực tập trung cho sự phát triển, như: tài nguyên thiên
nhiên, vốn, khoa học công nghệ (KHCN), con người… thì nguồn lực con
người là quan trọng nhất và có tính quyết định cho mỗi quốc gia. Nếu có tài
nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại mà không có con
người có trình độ, năng lực, phẩm chất và sức khỏe để làm chủ trong sử dụng
nguồn tài nguyên đó thì khó có khả năng đạt được sự phát triển như mong
muốn. Con người, vì vậy là nguồn lực trực tiếp và là trung tâm của sự phát
triển. Theo Ph.Ăngghen họ phải là những người “có khả năng nắm vững
nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn..., họ có thể lần lượt
chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã
hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ" [25, tr.475]. Trong tác phẩm "Bàn
về chế độ hợp tác xã”, V.I Lênin lý giải khoa học, cặn kẽ vì sao con người lại
là lực lượng sản xuất hàng đầu. Con người xã hội chủ nghĩa (XHCN) không
thể chỉ biết chữ, mà còn là sản phẩm của nền giáo dục hiện đại. Nếu trước kia
đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, đưa nhanh kỹ thuật nông nghiệp
và công nghệ mới đến từng hộ nông dân, giảm bớt việc làm và thay đổi cơ cấu
lao động, giảm bớt số lao động sản xuất nông nghiệp [54, tr.163].
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH),
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2008) khẳng
định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc..., CNH, HĐH nông nghiệp, nông
dân, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH
đất nước. Đồng thời, trong mối quan hệ nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Đảng
luôn coi nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, do đó đào tạo nguồn nhân
lực phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ
được Đảng quan tâm hàng đầu.
Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, ngày 27/11/2009, Đề án Đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê
3
duyệt, nhằm tăng cường đầu tư đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng
cao chất lượng lao động nông thôn. Mục tiêu đề án đặt ra là mỗi năm đào tạo
1 triệu lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu
kinh tế phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [115].
Thái Bình là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí
địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp toàn
diện. Trong lịch sử, Thái Bình là tỉnh đầu tiên của miền Bắc đạt năng suất lúa
5 tấn/ha, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống người nông dân,
ổn định nông thôn, xây dựng miền Bắc lớn mạnh, đồng thời hoàn thành xuất sắc
vai trò hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và đặc biệt là giai đoạn đẩy
mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có
nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên.
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Thái
Bình lãnh đạo đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm
2010” làm đề tài luận án tiến sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho
nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001
đến năm 2010 nhằm tổng kết thực tiễn và đúc kết những kinh nghiệm có giá
trị; góp phần cung cấp một số luận cứ khoa học, có cơ sở lịch sử cho việc
hoạch định chủ trương phát triển NNL cho nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới của tỉnh Thái Bình.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những yếu tố tác động đến đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh
Thái Bình khi bước vào thế kỷ XXI;
- Hệ thống khái quát các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về đào tạo
NNL cho nông nghiệp trong 10 năm (2001-2010);
5
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện đào tạo NNL cho
nông nghiệp từ 2001 đến năm 2010;
- Nhận xét những thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm từ sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong đào tạo NNL cho nông nghiệp (2001-2010).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và quá trình chỉ đạo thực
hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001
đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận án góp phần làm rõ hơn vai trò của lực lượng sản xuất trong quá
trình phát triển KT - XH trong đó vai trò cốt yếu là NNL.
- Từ thực tiễn đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình, luận án khắc
họa rõ nét về quá trình phát triển trong nhận thức cũng như trong thực tiễn về
đào tạo NNL cho nông nghiệp qua 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010.
- Từ thành công và hạn chế trong quá trình lãnh đạo đào tạo NNL cho
nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, luận án đúc kết một số kinh nghiệm
chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn.
- Luận án có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành của tỉnh
Thái Bình trong đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng và NNL nói chung.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vấn đề đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu thời đại, yêu cầu phát triển KT XH đất nước đã có nhiều công trình, đề tài đề cập dưới nhiều góc độ khác
nhau. Trong quá trình nghiên cứu, có thể chia thành 3 nhóm công trình nghiên
cứu như sau:
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, đào tạo
nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho nông nghiệp nói riêng
Có thể kể đến những công trình sau:
Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn
nước ta”, tác giả Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm [143] đã làm rõ vai trò quyết
định của NNL đối với sự thành công của sự nghiệp đổi mới, tổng kết kinh
của tác giả Trần Văn Miều [80] đề cập đến NNL Việt Nam tức là có lao động
đang làm trong các cơ quan, đơn vị; có lực lượng đang học tập và có lực
lượng chưa được huy động, chưa có việc làm. Vì vậy, ở nước ta hiện nay cần
3 phương án đào tạo NNL là đào tạo mới từ đầu, đào tạo lại và đào tạo thêm.
Bài toán phải giải trong những năm tới là đối với NNL dồi dào như ở nước ta
vấn đề là phát huy NNL đó như thế nào để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
Cuốn sách “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực
tiễn” của tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu
Toàn [27] đã đề cập đến nhiều vấn đề con người, những bất cập, đòi hỏi về nguồn
lực con người trước sự nghiệp CNH, HĐH, những vấn đề quan tâm, bồi dưỡng,
nâng cao chất lượng nguồn lực con người dưới các khía cạnh khác nhau.
Công trình “Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010” của
nhóm tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường và Nguyễn Kim Liệu [58] đã
tập hợp các bài viết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển
9
kinh tế 2001 - 2010. Cuốn sách chia làm 4 phần: Kinh tế tri thức; Chiến lược
phát triển NNL Việt Nam trong chiến lược KT - XH giai đoạn 2001-2010;
Hướng tới nền kinh tế tri thức - cả nước với chương trình phát triển NNL giai
đoạn 2001- 2010; Những thông tin về GD - ĐT.
Công trình “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước” của Đoàn Văn Khái [75] đã phân tích vai trò của nguồn lực
con người trong quá trình CNH, HĐH nước ta, lý giải hợp lý nguồn lực con
người là yếu tố quyết định của sự nghiệp CNH, HĐH. Tác giả đã làm rõ: cơ
sở lý luận cho việc đề ra chiến lược phát triển NNL; một số thực trạng, giải
pháp cho lao động đào tạo nghề; yêu cầu đặt ra đối với NNL trong quá trình
đổi mới ở Việt Nam.
Tác giả Vũ Bá Thể trong cuốn sách “Phát huy nguồn lực con người để
xây dựng cơ chế, chính sách CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Với một
quốc gia phát triển nông nghiệp lâu đời như Việt Nam thì đào tạo NNL phục
vụ nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh toàn cầu, hội nhập là tất yếu lịch
sử. Tác giả khẳng định nguồn lực con người đạt chuẩn cả về số lượng và chất
lượng là cơ sở quan trọng nhất trong bất kỳ chính sách nào.
Trong cuốn sách “Con đường và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” do Nguyễn Kế Tuấn chủ biên [140]
làm rõ yêu cầu xây dựng và phát triển NNL ở nông thôn trong công cuộc đổi
mới; thực trạng của quá trình đào tạo và sử dụng NNL ở nông thôn Việt Nam
hiện nay; những cơ sở lý luận để xây dựng tiêu chí, cơ chế, chính sách về đào
tạo NNL ở nông thôn đáp ứng yêu cầu mới.
Cuốn “Tác động của hội nhập kinh tế đối với phát triển nông nghiệp
Việt Nam” do tác giả Nguyễn Từ chủ biên [146] đã phản ánh những thay đổi
của nông nghiệp, nông thôn hiện nay theo sự tác động của hội nhập kinh tế
quốc tế. Để theo kịp sự thay đổi ấy, NNL nông nghiệp cũng phải được đào
tạo, phát triển để không bị tụt hậu.
Cuốn sách “Nông dân, nông thôn và nông nghiệp, những vấn đề đang
đặt ra” của các tác giả Phạm Hữu Nghĩa, Nguyên Ngọc, Đặng Kim Sơn, Cao
Tự Thanh và Đào Thế Tuấn [85] viết về đề tài nông nghiệp, nông dân, nông
thôn. Các tác giả tuy xuất phát từ góc độ khác nhau để nêu và giải quyết vấn
11
đề nhưng đều chung nhau ở cách nhìn về thực trạng, hướng đi của nông thôn,
nông dân và nông nghiệp Việt Nam hiện nay là muốn CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn thành công thì điều cốt yếu là phải đào tạo những người
nông dân đủ năng lực làm giàu trên chính mảnh đất của mình.
Cuốn sách: “Cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân yếu thế trong quá
trình chuyển sang nền kinh tế thị trường”, của tác giả Vũ Dũng [44] bàn về
đối tượng nông dân yếu thế. Theo tác giả, nông dân yếu thế thuộc nhóm
Trần Thanh Đức [62]; Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi
mới của Nguyễn Thắng Lợi [77]; Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Hồ Văn Vĩnh
[173]; Liên kết 4 nhà tạo đường băng để nông dân cất cánh của Mai Văn
Quyền [92]; Xây dựng nông thôn mới và vấn đề đặt ra của Phạm Tất Thắng
[112]; Đất và nghề: Nhu cầu bức thiết của nông dân của Trần Văn Đông [59];
Đào tạo nguồn nhân lực: còn nhiều việc phải làm, của Phạm Vĩnh Thái
[110]... Các bài báo của các tác giả đều bắt nguồn từ chủ trương đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp của Đảng, đồng thời nhất quán chủ trương coi đào
tạo nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành
công sự nghiệp CNH, HĐH. Trên cơ sở đó các tác giả nêu rõ thực trạng về
đào tạo và sử dụng NNL ở nước ta hiện nay đông về số lượng nhưng chất
lượng lại chưa đáp ứng được yêu cầu KT - XH đặt ra; thực trạng của nông
nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay: ruộng đất bị chia nhỏ manh mún không
phù hợp với sản xuất hàng hóa, tiến độ áp dụng khoa học kỹ thuật chậm dẫn
đến năng suất lao động thấp, làng nghề thiếu công nghệ, sức cạnh tranh kém....
Các tác giả chỉ rõ: bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đòi hỏi NNL làm sao
có thể chuyển mình kịp với nhu cầu của đất nước, thời đại. Vì vậy đào tạo NNL
đáp ứng thời kỳ mới của đất nước là công việc chung của cả xã hội.
Cùng với các công trình, bài viết trên, còn có các đề tài, chương trình
nghiên cứu về vấn đề này như: Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà
nước: “ Con người Việt Nam. Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” mã số KX - 07 (1991 - 1995) do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm [67]
đã nghiên cứu con người Việt Nam truyền thống và hiện đại, thực trạng và
13
vấn đề đào tạo lại đội ngũ nhân lực... Đặc biệt, công trình đã đưa ra cái nhìn
tổng thể mang tầm chiến lược về vấn đề con người trong sự nghiệp CNH,
HĐH. Đề tài khoa học cấp Bộ: “Xây dựng cơ sở lý luận cho chiến lược phát
triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ” của Bộ Khoa học - Công nghệ Môi trường [22]; “Lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
nước ngoài Việt Nam không thể chậm trễ trong việc nâng cao tính cạnh tranh
của NNL. Do đó, đào tạo NNL là nhiệm vụ trọng yếu.
Hội thảo quốc gia “Chân dung người nông dân Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập” [169] đã khẳng định vai trò của
người nông dân với nông nghiệp, nông thôn, khẳng định tầm quan trọng của
đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng, Nhà nước. Từ đó Hội thảo
đề ra những gợi mở có tính định hướng nhằm giải quyết những vấn đề lý luận
và thực tiễn của nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Một số luận án tiến sỹ: “Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của
Phan Thanh Tâm [108] đã làm rõ vai trò của NNL với sự phát triển KT - XH,
xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu CNH,
HĐH đất nước.
“Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu
nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phan Chính Thức
[116] đề cập đến hệ thống đào tạo nghề ở góc độ hệ thống cung ứng nhân lực
lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu thực
trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam.
“ Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông thôn Việt Nam” của tác giả Trần Thanh Bình [19] đã đi sâu vào cơ
sở lý luận và thực tiễn về đào tạo NNL phục vụ quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp và nông thôn. Luận án nêu thực trạng đào tạo NNL cho nông nghiệp và
các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo này.
“Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam” của
Bùi Tôn Hiến [69] đề cập đến hệ thống lý luận về việc làm của lao động qua
đào tạo nghề, phân tích cơ hội việc làm, khác biệt thu nhập của lao động qua
15
đào tạo và mối quan hệ biện chứng giữa việc làm với đào tạo nghề và đề xuất
16
trọng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của Thanh Tùng, Đỗ Hùng [142]; Phát huy nguồn nhân lực nữ và xoá đói giảm
nghèo ở nông thôn của Lê Thi [114]; Phát triển nguồn nhân lực ở Bình Thuận
của Vũ Thị Vinh [172]; Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Sơn La của Nguyễn Đức Thảo [111];
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Lâm Đồng của Nguyễn Tấn Vinh
[171]; Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước của Phan Sỹ Giản [63]; Phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện
Biên của Trương Xuân Cừ [41]; Cao Bằng: gắn giải quyết việc làm với đào tạo
nguồn nhân lực của Hà Minh Trần [135]; Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai của Lê Thị Mỹ Phượng [89];
Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội của
Đồng bằng sông Cửu Long trong xu thế hội nhập của Nguyễn Thị Mỹ Dung,
Cung Thị Ngọc Mai [42]; Đào tạo nguồn nhân lực khoa học cho Hà Nội trong
thời kỳ đổi mới của Trần Thị Minh Ngọc [83]; Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ngành du lịch thành phố Đà Nẵng của Nguyễn Bình Đức [61].
Nghiên cứu vấn đề này có Luận án tiến sỹ: “Giải pháp đào tạo nguồn
nhân lực kỹ thuật nông nghiệp cho thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Tô Minh Giới [64]. Tác giả nêu lên thực tế
Cần Thơ là thành phố nhưng diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, vì vậy
đào tạo NNL kỹ thuật nông nghiệp là cần thiết. Từ đó, tác giả đưa ra những
nguyên tắc, giải pháp, kiến nghị trong công tác đào tạo NNL kỹ thuật nông
nghiệp cho thành phố.
1.1.3. Những công trình liên quan đến vấn đề nhân lực và đào tạo
nguồn nhân lực trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Công trình “Đặc điểm khí hậu Thái Bình” của tác giả Vũ Anh [1] đã đề
cập đến khá toàn diện về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, con người Thái
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình 1975 - 2000” của Đảng bộ tỉnh Thái
Bình [47] đã đề cập đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trên
18
nhiều phương diện trong chặng đường lịch sử từ sau cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đến năm 2000. Qua đó, giúp cho nghiên cứu sinh có được bức
tranh tổng thể về quá trình phát triển KT-XH của địa phương, cũng như tầm
quan trọng, cần thiết về đào tạo NNL cho nông nghiệp và những thuận lợi,
khó khăn trong quá trình đào tạo, phát triển NNL cho nông nghiệp đối với
tỉnh Thái Bình trong giai đoạn luận án đi sâu nghiên cứu.
Ngoài ra, có thể kể đến những công trình “Tổng kết Chương trình mục
tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005” [148]; “Tổng kết Chương
trình mục tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010” [164] của UBND
tỉnh Thái Bình. Những công trình đó đã tổng kết về những kết quả đạt được,
hạn chế cần khắc phục và phương hướng đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh
Thái Bình trong giai đoạn tiếp theo.
Nhìn chung, những công trình liên quan trực tiếp đến vấn đề nhân lực
và đào tạo NNL cho nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình còn rất hạn chế.
Cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh
Thái Bình thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp trong những năm tiến hành
công cuộc đổi mới dưới góc độ Lịch sử Đảng.
1.2. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA
HỌC ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố liên quan đến đề tài luận án
Với ý nghĩa là một trong ba khâu đột phá của Việt Nam trong thời đại
kinh tế tri thức, vấn đề NNL đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Đảng và các
nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã thu được những kết quả sau:
biện pháp của Đảng bộ Thái Bình đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 2001
đến năm 2010.
- Làm rõ tầm quan trọng và những yêu cầu khách quan đặt ra với đào
tạo NNL cho nông nghiệp nói chung, đặc biệt là tỉnh thuần nông như Thái
Bình thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện.
- Làm rõ quá trình hoạch định chủ trương và các biện pháp của Đảng
bộ Thái Bình qua các nhiệm kỳ Đại hội từ khi đổi mới, đặc biệt các nhiệm kỳ
từ năm 2001 đến năm 2010 về đào tạo NNL cho nông nghiệp.
20
- Từ khảo sát thực tiễn, luận án hệ thống, phân tích, đánh giá quá trình
tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương đào tạo NNL cho nông nghiệp qua các
giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2010.
- Trên cơ sở những thành công và những hạn chế, luận án nêu một số
kinh nghiệm chủ yếu của quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực
hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trong những năm tới.
Có thể khẳng định: từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, cho đến nay,
chưa có chuyên khảo nào đề cập một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh
Thái Bình lãnh đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 2001 đến
năm 2010. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trước
đi sâu; tìm hiểu có hệ thống về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;
sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh Thái Bình; sự phát triển của nông nghiệp
tỉnh chủ yếu từ năm 2001 đến năm 2010, tác giả luận án sẽ dựng lại bức tranh
toàn cảnh và quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho
nông nghiệp ở địa phương trong thời gian nói trên, từ đó đưa ra những đánh
giá khách quan trung thực và những thành tựu, hạn chế; rút ra những kinh
nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.