Mở đầu
Hiện nay, trên đất nớc ta đặc biệt là khu vực nông thôn tình trạng thiếu
việc làm cho lao động đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần phải giải
quyết, bởi lẽ nó quyết định đến tăng trởng, phát triển kinh tế và ổn định chính
trị xã hội. Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và phát
triển nông thôn em nhận thấy vấn đề Tạo việc làm cho ngời lao động ở nông
thôn còn nhiều bất cập. Nhận thức đợc vấn đề này, em đã chọn lựa đề tài
Một số giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta làm đề án môn học chuyên ngành.
Đề án môn học đợc kết cấu làm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề lý luận chung về Lao động - Việc làm
Phần II: Thực trạng Lao động - Việc làm ở nông thôn nớc ta
Phần III: Phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc
làm cho lao động nông thôn.
Phần I
Những vấn đề lý luận chung về lao động Việc làm
I. Một số vấn đề về lao động
1. Một số khái niệm về lao động, nguồn nhân lực, nguồn lao động.
- Khái niệm về lao động, C.Mác viết: Lao động trớc hết là một quá trình
diễn ra giữa con ngời và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của
chính mình, con ngời làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất của
họ với tự nhiên.
- Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo
quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đợc
biểu hiện trên hai mặt: Về số lợng đó là tổng số những ngời trong độ tuổi lao
động và thời gian làm việc có thể huy động đợc của họ. ở nớc ta hiện nay quy
định độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam giới và 15 đến 55 tuôỉ đối
với nữ.
nghiệp và tổng số nguồn lao động.
Để biểu thị tình trạng không sử dụng hết lao động ngời ta dùng thất
nghiệp hoá hình và thất nghiệp hữu hình. Thất nghiệp hoá hình gồm: bán thất
nghiệp và thất nghiệp vô hình đó là những ngời có việc làm trong nông thôn
hoặc khu vực thành thị không chính thức nhng làm việc với mức năng suất
thấp, đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
d. Thời gian lao động: Đợc tính bằng số ngày làm việc (năm, số ngày
làm việc/tuần, số giờ làm việc/tuần hoặc/ngày. Thời gian lao động phụ thuộc
vào tỷ lệ thời gian lao động đợc sử dụng. Tỷ lệ thời gian lao động đợc sử dụng
trong một năm là số phần trăm của tổng số ngày công làm việc thực tế so với
tổng số ngày công có nhu cầu làm việc (bao gồm số ngày công thực tế đã làm
việc và số ngày có nhu cầu làm thuê) của dân số hoạt động kinh tế thờng
xuyên trong một năm.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến chất lợng, lực lợng lao động.
a. Giáo dục đào tạo: Đợc coi là quan trọng nhất của sự phát triển tiềm
năng của con ngời theo nhiều nghĩa khác nhau. Nói chung, yêu cầu đối với
giáo dục là rất lớn nhất là giáo dục phổ thông đợc thể hiện qua mối quan hệ
giữa thu nhập và giáo dục, hầu hết là những ngời tốt nghiệp cấp III có thu
nhập cao hơn tốt nghiệp cấp I. Kết quả của giáo dục - đào tạo làm tăng lực lợng lao động có trình độ tạo khả năng thúc đẩy nhanh phát triển công nghệ và
tăng trởng kinh tế. Nó còn thể hiện qua việc tăng năng suất lao động của mỗi
cá nhân nhờ việc nâng cao trình độ và tích lũy kiến thức.
b. Sức khoẻ: Cũng nh giáo dục, sức khoẻ làm tăng chất lợng của ngời lao
động cho cả hiện tại và tơng lai. Ngời lao động có sức khoẻ tốt sẽ làm việc có
năng suất, chất lợng hiệu quả hơn.
c. Bố trí điều kiện lao động: Điều kiện lao động rất quan trọng nó bao
gồm: công cụ làm việc, bảo hộ lao động, nghỉ ngơi... ảnh hởng tới chất lợng
lao động cho hiện tại và tơng lai. Nếu có môi trờng, điều kiện làm việc tốt sẽ
tận dụng đợc hiệu quả nhờ việc tăng năng suất lao động, tâm lý an toàn khi lao
+ Hậu quả của bùng nổ dân số của những năm trớc đây đã dẫn đến tỷ lệ
tăng nguồn lao động khá cao, bình quân hàng năm 3,2% đến 3,5% và mỗi
năm có khoảng hơn một triệu thanh niên bớc vào tuổi lao động.
+ Việc sắp xếp lại sản xuất và lao động trong khu vực Nhà nớc đã dẫn
đến d thừa rất lớn về lao động.
+ Lao động tự do di chuyển từ nông thôn ra tìm việc làm ở thành thị và
nơi khác cần lao động tăng chậm do:
+ Thiếu vốn đầu t.
+ Chiến lợc lựa chọn công nghệ thích hợp cha đợc xác định thật rõ ràng,
cơ cấu kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch nhng diễn ra chậm.
+ Một số ngành (vùng) có tiềm năng lớn, có khả năng thu hút đợc nhiều
lao động nhng thiếu điều kiện biến khả năng thành hiện thực nh vốn, hạ tầng
cơ sở, kỹ thuật và công nghệ hoặc thị trờng tiêu thụ.
3. Sự cần thiết phải tạo việc làm: Tạo việc làm cho lao động hơn là vấn
đề đặt ra và phải giải quyết cho mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, giai đoạn
phát triển kinh tế đất nớc. Tạo việc làm có vai trò hết sức quan trọng trên các
vấn đề sau đây:
- Tạo việc làm tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) từ đó thúc đẩy tăng
trởng kinh tế.
- Tạo việc làm đầy đủ cho mọi ngời lao động không những tạo điều kiện
để cho ngời lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các
tệ nạn xã hội, làm cho xã hội càng văn minh hơn.
- Tạo việc làm cho ngời lao động còn có ý nghĩa hết sức quan trọng ở chỗ
tạo cho họ thực hiện đợc quyền và nghĩa vụ của mình trong đó có quyền cơ
bản nhất là quyền đợc làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần
xây dựng đất nớc.
- Tạo việc làm cho ngời lao động làm cho hố phân cách giàu nghèo thu
hẹp lại, khoảng cách giữa đô thị và nông thôn đợc rút ngắn góp phần vào thực
hiện tích cực công tác xoá đói giảm nghèo.
- Tạo việc làm tại chỗ nhất là ở nông thôn góp phần hạn chế dân di
(tất nhiên sẽ có cuộc sống vật chất tinh thần khá giả). Nếu tập trung quá mức
sẽ phải giải quyết việc làm do mất cân đối của cung, cầu lao động. Và những
nơi có địa hình khó khăn thì ngợc lại. Thời tiết, khí hậu thuận lợi cũng có vị
thế tơng tự nh địa hình.
3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp: Nông thôn nớc ta với hơn 90%
dân số làm nông nghiệp. Việc làm bị chi phối bởi đặc điểm đặc thù của sản
xuất nông nghiệp đó là: lệ thuộc vào tự nhiên, mang tính khu vực rõ rệt, trải
rộng trên không gian rộng lớn, ruộng đất là t liệu sản xuất không thể thay thế
đợc, có tính thời vụ cao. Rõ nét nhất là tính thời vụ cao trong nông nghiệp đã
làm d thừa lao động dẫn tới đại bộ phận lực lợng lao động thiếu việc làm
nghiêm trọng, biểu hiện:
- Ruộng đất bình quân đầu ngời thấp (0,1 ha/ngời) không tạo ra sự tích tụ
tập trung để đa nông nghiệp nên sản xuất hàng hoá đại diện là kinh tế trang
trại.
- Tính thời vụ cao biểu hiện ở cây, con nuôi theo quy luật phát triển sinh
học. Để tồn tại và phát triển phải có thời gian và do thời gian lao động với thời
gian sản xuất không khớp nhau sinh ra tính thời vụ:
+ Vào thời vụ sản xuất thì yếu tố lao động đợc huy động hết công suất để
cho kịp thời vụ: từ gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Các thời điểm này coi
nh lao động có việc làm đầy đủ.
+ Trong thời gian chờ cho cây, con nuôi sinh trởng thì không cần lao
động tác động. Thời điểm này nông thôn d thừa lao động nhiều nhất. Tính ra
một năm thì khoảng thời gian hoạt động làm việc 3-4 tháng, số thời gian còn
lại là thiếu việc làm.
4. Trình độ phát triển kinh tế nông thôn: Do lịch sử để lại, bị chiến
tranh tàn phá nên khi bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta
có điểm xuất phát thấp đợc biểu hiện cụ thể:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu, sản xuất còn mang tính tự
Nh vậy với các yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ tới việc làm ở khu vực
nông thôn. Nông thôn có địa bàn rộng, trải khắp đất nớc, mật độ dân c đông,
trình độ sản xuất lạc hậu dẫn tới không tạo ra việc làm đầy đủ nên thu nhập
thấp. Thu nhập không đủ để trang trải cho cuộc sống tối thiểu cả bản thân và
gia đình, từ đó không đủ đầu t để tái sản xuất (kể cả tái sản xuất giản đơn) tạo
việc làm cho bản thân, gia đình và xã hội. Chính vì thế vấn đề "tạo việc làm
cho nông thôn" diễn ra cấp bách và phải đợc giải quyết trớc mắt cũng nh lâu
dài. Nhà nớc phải là ngời tác động chính để cùng với nhân dân cùng giải quyết
vấn đề việc làm.
Phần II
Thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn nớc ta
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, ở giai đoạn đầu nớc
ta với khoảng hơn 80% dân số sống ở nông thôn ảnh hởng đến số lợng lao
động. Thực trạng lao động việc làm diễn ra gay gắt trở thành vấn đề cần giải
quyết của xã hội nông thôn. Từ kết quả điều tra mỗi quốc gia về lao động việc làm hàng năm của Bộ Lao động thơng binh xã hội và Tổng cục Thống kê,
có thể khái quát một số vấn đề cơ bản về hiện trạng, xu hớng biến động của
lao động nông thôn trên các mặt hoạt động. Từ đó rút ra những mặt tích cực,
tiêu cực, những mâu thuẫn và thách thức đặt ra xung quanh vấn đề giải quyết
việc làm.
I. Thực trạng lao động - việc làm: trong nông thôn do đặc thù
của sản xuất nông nghiệp, việc làm tại chỗ và chủ yếu công việc là làm thủ
công nên dân số đủ từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế thờng xuyên
là lực lợng tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
1. Quy mô nhân khẩu hộ gia đình và quy mô lực lợng lao động: xem
xét vấn đề này để thấy rõ xu hớng biến đổi qua các năm, thực trạng mỗi năm
từ đó nó ảnh hởng tới số lợng lực lợng lao động ở nông thôn.
77.046.343
Năm 1999
76.327.885
%
15.006.355
59.466.787
100
15.706.602
59.958.090
100
16.245.171
60.801.172
100
17.918.185
58.409.700
100
ngời
20,15
79,85
4,68
20,76
các năm và thành thị giảm nhanh hơn so với nông thôn.
Biểu 2. (Bảng ngang)
2. Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thờng xuyên: chất lợng
của lực lợng lao động ảnh hởng rất nhiều tới việc làm đó là trình độ văn hoá,
chuyên môn kỹ thuật. Nhìn chung hiện nay đội ngũ lao động ở nông thôn nớc
ta không đáp ứng đợc yêu cầu của công việc, không phù hợp với công việc do
trình độ văn hoá thấp, chuyên môn kỹ thuật không có chiếm tỷ lệ lớn.
- Số ngời cha biết chữ và cha tốt nghiệp cấp I chiếm trong tổng lực lợng
lao động còn lớn. Xu hớng qua các năm ngày càng giảm cả số lợng và tỷ lệ,
năm 1996 tỷ lệ này là 29,21% đến năm 1999 giảm xuống còn 26,8%. Bình
quân hàng năm giảm 298.971 ngời với tốc độ giảm 3,53%/năm.
- Số ngời đã tốt nghiệp cấp II tăng lên cả về số lợng và tỷ lệ qua các năm.
Đặc biệt là số ngời đã tốt nghiệp cấp III. Từ năm 1996 đến năm 1999 tổng
bình quân hàng năm là 147.987 ngời, với tốc độ tăng 5,55%/năm. (Biểu 3)
Biểu 3. (Bảng ngang)
Về trình độ chuyên môn, kỹ thuật của ngời lao động qua các năm (biểu
4). Lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp (học nghề) trở lên tăng không đáng kể
cả về số lợng và tỷ lệ. Từ năm 1996 đến 1999 bình quân hàng năm tăng 20410
ngời với tốc độ tăng bình quân 0,905%/năm. Trong đó tăng nhanh và nhiều
nhất là lao động đợc đào tạo từ trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trong 4 năm
tăng 112237 ngời với tốc độ tăng bình quân 10,86%/năm. Đặc biệt là ở trình
độ sơ cấp đến năm 1999 giảm 109361 ngời với tốc độ giảm bình quân
6,04%/năm.
Biểu 4.
3. Số ngời đủ từ 15 tuổi trở lên thiếu việc làm thờng xuyên: lực lợng
lao động nông thôn hiện nay hiếu việc làm rất lớn, đang là vấn đề cấp bách ở
nông thôn, cần phải giải quyết.
a) Số ngời HĐKT thờng xuyên từ đủ 15 tuổi chia theo nhóm tuổi: Ta thấy
Bình quân mỗi năm chiếm 72,0525%/năm. Biến động không ổn định qua các
năm. Trong độ tuổi và trên độ tuổi ở tổng số, nhìn chung, tỷ lệ thời gian bình
quân đợc sử dụng lần lợt là 72,53%/năm và 66,3975%/năm.
Biểu 8.
5. Số ngời ở nông thôn ra thành thị tìm việc làm: Do lao động nông
thôn thờng xuyên thiếu việc làm quanh năm và thời vụ, với hy vọng ra đô thị
tìm kiếm việc làm để tăng thu nhập, nuôi sống bản thân và gia đình. Trong các
năm vừa qua luôn có một lợng lớn dòng ngời di chuyển từ nông thôn ra đô thị.
Biểu 9.
Qua biểu trên ta thấy tổng số ngời di chuyển qua thành thị tìm việc làm
giảm dần qua các năm. Từ năm 1996 đến năm 1999 giảm bình quân 466320
ngời với tốc độ giảm bình quân 22,83%/năm so với năm 1996. Cơ cấu tỷ lệ
nhóm tuổi trong độ tuổi và trên độ tuổi không ổn định.
II. Đánh giá tình hình lao động việc làm. Những mâu thuẫn
và thách thức đặt ra xung quanh vấn đề giải quyết việc làm
trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nông thôn nớc
ta.
1. Đánh giá tình hình lao động - việc làm: Từ kết quả điều tra lao động
- việc làm toàn quốc từ năm 1996 - 1999 (của Bộ Lao động thơng binh xã hội
và Tổng cục thống kê) ta rút ra những mặt tích cực, cha làm đợc, từ đó phải
khuyến khích mặt tích cực và những vấn đề cần phải làm để giải quyết công
ăn việc làm cho lao động nông thôn.
Tỷ lệ lực lợng lao động và tỷ lệ tham gia lực lợng lao động ở nông thôn
đã giảm dần qua các năm. Nh vậy, có nghĩa là tại nông thôn diễn ra quá trình
đô thị hoá, hình thành các thị trấn, thị tứ và số lao động chủ yếu trong nhóm
(15 - 24) tham gia học tập văn hoá, chuyên môn tăng lên từ năm 1996 đến
năm 1999 tăng 1365727 ngời. Trong những năm tới khi độ tuổi này hết học
lực lợng lao động qua 4 năm của nhóm tuổi này, trong khi đó năm 1996 tỷ lệ
này là 23,36%. Từ năm 1996 đến 1999 số ngời thiếu việc làm trong độ tuổi
lao động tăng cao (nhóm tuổi từ 15 - 59) là lực lợng chủ yếu làm ra của cải vật
chất cho xã hội, từ năm 1996 đến năm 1999 số ngời thiếu việc làm tăng
5938997 ngời. Báo hiệu vấn đề việc làm cần giải quyết rất lớn trong nông
thôn, thực hiện ngành nghề phụ cho thanh niên, dạy nghề cho họ.
+ Đối với nhóm ngành kinh tế quốc dân cấp I: Đến năm 1999 ta đã giảm
đợc tỷ lệ thiếu việc làm trong ngành nông, lâm, ng nghiệp và ngành công
nghiệp, xây dựng tơng ứng là 1,58% và 1,64% so với năm 1996. Tuy nhiên,
qua các năm tỷ lệ lao động thiếu việc làm trong nông lâm ng nghiệp còn lớn
đến năm 1999 là 11623074 ngời. Do đó, trong những năm tới ta phải giảm bớt
lao động thuần nông, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ tạo
thêm nhiều việc làm trong nông thôn.
+ Đối với khu vực thành phần kinh tế: Đến năm 1999 tỷ lệ lao động thiếu
việc làm ở khu vực Nhà nớc, nớc ngoài, hỗn hợp chiếm tỷ lệ nhỏ (1,9%). Tuy
nhiên tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành phần ngoài Nhà nớc tăng cao (năm
1999 là 98,1%). Điều đó chứng tỏ khu vực ngoài nhà nớc (t nhân rất khó khăn
về việc giải quyết việc làm. Nhà nớc cần đầu t giúp đỡ họ về vốn, công nghệ,
thị trờng để họ phát triển sản xuất kinh doanh.
- Tỷ lệ thời gian lao động đợc sử dụng của lực lợng lao động: Trong độ
tuổi lao động tỷ lệ thời gian lao động đợc sử dụng từ năm 1996 đến 1999 đã
tăng lên 1,28% đối với tổng số và 2,24% đối với mức phấn đấu trong những
năm tới này tỷ lệ này lên là 80%.
- Số ngời ở nông thôn ra thành thị tìm việc làm: Trong những năm qua,
số ngời di chuyển ở nông thôn ra thành thị tìm việc làm đã giảm, phần nào
phù hợp với chủ trơng phát triển kinh tế nớc ta nói chung, kinh tế đô thị và
nông thôn nói riêng, đó là tạo việc làm tại chỗ, xây dựng đô thị hoá tại nông
thôn. Tuy nhiên số ngời trên độ tuổi lao động (60) vẫn ra tìm việc làm. Phải
của kinh tế hộ và của lao động khu vực này đã tạo ra khối lợng việc làm rất
lớn, đặc biệt là việc phát triển kinh tế VAC, phát triển ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, kinh tế hộ và các loại hình kinh tế khác ở
nông thôn cho đến nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế, đa số vẫn là sản xuất nhỏ
tự cung tự cấp, khả năng tích luỹ để đầu t phát triển và mở rộng việc làm còn
thấp xa so với nhu cầu thực tế. Một bộ phận đáng kể các hộ bị thiếu hụt hoặc
không hội tụ đủ đợc các yếu tố và các điều kiện cần thiết để tổ chức sản xuất
kinh doanh và tạo ra việc làm. ở nhiều vùng nông thôn có tới 70 - 80% hộ
nông dân thiếu vốn, 50 - 60% thiếu đất canh tác và phơng tiện sản xuất, 20 30% thiếu kinh nghiệm, kiến thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Do vậy, tình
trạng và nguy cơ thiếu việc làm ở các hộ này đặt ra bức xúc, ít có cơ hội cải
thiện. Cùng với nó là xu hớng phân hoá giàu nghèo, phân tầng mức sống và
những hệ quả xã hội khác.
- Ba là, áp lực việc làm và thu nhập đã tạo ra xu hớng di chuyển lao động
tự phát từ nông thôn ra thành thị và đến các vùng nông thôn khác. Việc di dân
tự do và tìm kiếm việc làm tự phát tại những vùng đất mới dẫn đến những hệ
quả khó kiểm soát. Vì phần lớn trong số họ thuộc diện nghèo, thiếu phơng tiện
sản xuất và hoạt động chủ yếu là khai thác tự nhiên, góp phần làm suy thoái
tài nguyên, môi trờng. Đây cũng là một thách thức lớn đang đặt ra.
- Bốn là, những năm gần đây nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách, giải
pháp nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn,
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở khu vực này, đồng thời tạo môi trờng và điều kiện cho việc tạo lập, mở rộng việc làm của dân c. Ngoài vốn đầu
t cho các dự án, chơng trình phát triển kết cấu hạ tầng Nhà nớc cũng đã đầu t
và hỗ trợ hàng trăm tỷ đồng cho các chơng trình dự án tạo việc làm, xoá đói
giảm nghèo, khuyến nông... Nhờ vậy mà hàng triệu hộ gia đình và lao động ở
nông thôn đã có cơ hội tạo việc làm và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, hiệu ứng
tạo việc làm của các chính sách, giải pháp nói trên còn nhiều mặt bất cập biểu
hiện.
+ Một số chính sách thiếu nhất quán đồng bộ, cha khuyến khích đầu t
phát triển mở rộng việc làm nh chính sách thuế sử dụng đất, thuế khai thác và
sử dụng tài nguyên...
Hiện nay, nhu cầu tạo việc làm cho lao động trong nông thôn là rất lớn
cần phải giải quyết, nó vừa là vấn đề có tính cấp bách vừa có tính chiến lợc lâu
dài ở nớc ta, phấn đấu từ nay đến năm 2005, khoảng 40 triệu lao động có việc
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn xuống 5 - 6%, nâng tỷ lệ thời gian lao
động đợc sử dụng ở nông thôn lên 80%. Chúng ta cần tập trung đi vào các hớng cơ bản sau đây:
1. Di dân nông thôn - nông thôn: nhằm phân bổ lại lực lợng lao động
trên địa bàn nông thôn, làm giảm sức ép về ruộng đất ngày càng ít, công việc
làm thiếu thốn ở một số vùng; đồng thời khai thác đợc tiềm năng lao động,
tiềm năng đất đai, bờ biển, diện tích đồi, gò, sông ngòi các mặt nớc góp phần
nào giảm bớt sức ép dân số, việc làm tại các đô thị lớn của cả nớc. Thực hiện
phơng hớng này đòi hỏi chúng ta phải giảm tốc độ tăng dân số, kế hoạch phát
triển, phân bố lại cơ cấu dân c sao cho hợp lý và sớm ổn định quy mô dân số.
Hiện nay nông thôn di dân theo các hớng sau:
- Từ đồng bằng nơi có mật độ dân c đông lên miền núi dân c tha thớt, ra
vùng biển, hải đảo.
- Di dân từ miền Bắc vào miền Nam để tạo cơ hội việc làm tốt hơn.
- Di dân từ nông thôn ra các thị trấn thị tứ ở nông thôn, hay khu vực có
dịch vụ, buôn bán phát triển trong thời kỳ nông nhàn.
Đa số dân c di dân là di dân tự do (tự phát) xuất phát từ nhu cầu của bản
thân. Các cuộc di dân có kế hoạch (tổ chức) của Nhà nớc còn ít. Vì vậy phải
có biện pháp quản lý để kiểm soát bộ phận di dân này và hớng họ tự tìm việc
theo đúng pháp luật. Đối với các cuộc di dân có kế hoạch của Nhà nớc cần có
cơ chế chính sách giúp đỡ họ (dân di c) để họ yên tâm đầu t thâm canh tạo
việc làm tại nơi di dân.
2. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn: Chúng ta phải đa cơ
cấu kinh tế nông thôn từ nay đến năm 2020 theo hớng công - nông nghiệp,
dịch vụ. Qua đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù
hợp với cơ cấu kinh tế là giảm lao động làm việc ở khu vực nông nghiệp, tăng
không muốn làm hoặc không có khả năng làm.
- Kinh tế hợp tác (hợp tác xã), tuy có bị thu hẹp so với trớc, hiệu quả kinh
tế cha cao nhng nó còn giữ vị trí quan trọng là một cứu cánh cho các hộ nông
dân, kinh tế trang trại các khâu dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất.
- Kinh tế cá thể (hộ gia đình mà đại diện là kinh tế trang trại), t nhân là
khu vực kinh tế năng động đã và đang thu hút hàng chục triệu lao động làm ra
nhiều của cải cho xã hội mà nhà nớc không cần bỏ vốn đầu t. 4. Phát triển các
ngành nghề phụ trong nông thôn: Hiện nay trong nông thôn đang tồn tại hai
loại: ngành nghề truyền thống và ngành nghề mới.
Ngành nghề nông thôn phần lớn có nguồn nguyên liệu khá dồi dào, trớc
hết là sản phẩm nông, lâm, ng nghiệp và một số nguyên liệu phi nông nghiệp.
Vùng nguyên liệu này thờng gắn với các nghề truyền thống, gắn với các làng
nghề, với các cơ sở thủ công. Nhờ đó mà ngành nghề nông thôn thờng chủ
động về nguyên liệu, chi phí sản xuất thấp, ngoài sản xuất có lợi. Nhiều sản
phẩm của ngành, của làng nghề truyền thống đã đợc nhiều thị trờng chấp nhận
nh thêu ren, sơn mài, mây che đan, sản phẩm trạm chổ. .. Tuy nhiên cái khó
lớn nhất hiện nay không còn là vốn, không phải là sản xuất mà là việc tiêu thụ
sản phẩm. Thị trờng của ngành nghề trong nớc gắn với gần 80% dân số sống ở
nông thôn, vì vậy cần phải mở rộng việc xuất khẩu ra nớc ngoài thúc đẩy phát
triển hơn nữa so với hiện nay, tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn, góp
tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo.
5. Tạo việc làm từ nớc ngoài: Hiện nay xu thế phát triển kinh tế là toàn
cầu hoá nền kinh tế mở cửa và hội nhập nền kinh tế thế giới là điều kiện phát
triển kinh tế trong nớc, góp phần tạo việc làm. Đối với nớc ta càng khuyến
khích hình thức tạo việc làm này thông qua ký kết hợp đồng với nớc ngoài
nhằm tạo điều kiện cho lao động cả nớc nói chung và lao động nông thôn nói
riêng tạo công ăn việc làm. Có thể qua các hình thức sau:
- Gia công cho nớc ngoài: Dùng nhân lực tại chỗ (lợi dụng u thế giá nhân
- Đầu t vốn phải lựa chọn công nghệ mà trong đó phù hợp với nguồn vốn
hiện có, không cần hiện đại, trớc mắt sử dụng nhiều lao động làm việc. Trong
thời kỳ công nghiệp hoá, phải tận dụng tất cả các nguồn vốn, nhà nớc có cơ
chế chính sách để khai thác các nguồn vốn này vào phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo việc làm cho ngời lao động:
- Nguồn vốn đầu t của ngân sách nhà nớc là quan trọng, cần thiết: trong
những năm vừa qua, vốn đầu t của ngân sách đã có tác dụng rất lớn trong việc
tăng nhanh năng lực của sản xuất nông nghiệp, phát triển hạ tầng cơ sở, phát
triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Mặc dù vậy nguồn này đầu t vẫn ít
chỉ chiếm 13 - 14% so với tổng vốn đầu t toàn xã hội. Cần tăng tới khoảng
2,5% cho khu vực nông thôn để giải quyết tạo việc làm cho lao động.
- Nguồn vốn đầu t của bản thân nông thôn: hiện nay nguồn vốn này rất
lớn do kinh tế phát triển, thu nhập tăng họ có tỷ lệ để dành so với GDP cao.
Đặc biệt có vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế trang trại hộ gia đình và phát
triển ngành nghề phụ. Cần phát huy hơn nữa nguồn vốn này để phát triển kinh
tế, mở rộng sản xuất kinh doanh tạo việc làm.
- Nguồn của ngời dân thành thị đầu t vào nông nghiệp nông thôn: phải
tận dụng nguồn vốn d thừa này để phát triển nông nghiệp nông thôn.
- Nguồn vốn các tổ chức tín dụng: trong hệ thống tín dụng thì Ngân hàng
Nông nghiệp nông thôn Việt Nam giữ vai trò chủ yếu ngoài ra còn có các tổ
chức tín dụng nhân dân phục vụ phát triển sản xuất nông thôn. Cần tách hệ
thống ngân hàng nông nghiệp ra để xác định nhiệm vụ cho vay kinh doanh và
cho vay hỗ trợ từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn tạo việc làm.
- Nguồn vốn đầu t nớc ngoài và kiều bào nớc ngoài: sau khi có luật đầu t
nớc ngoài (1988) vốn đầu t nớc ngoài vào nền kinh tế nớc ta tăng hết sức
nhanh. Tuy nhiên do hạn chế của nông dân, lao động nông thôn nên sức thu
hút còn ít. Các dự án đầu t nhỏ và đa phần là nhân đạo. Vì vậy cần phải tập
trung xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực. Có chính sách để khuyến khích
công ăn việc làm cho lao động nông thôn.
- Tổ chức tốt và thực hiện tốt các chính sách khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ng, khuyến công nghiệp, dịch vụ nông thôn nhằm không ngừng nâng
cao trình độ hiểu biết về sản xuất hàng hoá, về kinh doanh nông nghiệp...
3. Sự hỗ trợ của ngành công nghiệp: sự hỗ trợ này là cần thiết nhằm
thúc đẩy phát triển sản xuất từ đó thúc đẩy tạo việc làm. Mối quan hệ giữa khu
vực công nghiệp đô thị là quan hệ mật thiết nếu muốn nông thôn phát triển thì
công nghiệp đô thị phải lớn mạnh, cụ thể mối quan hệ qua lại sau: - Bộ phận
công nghiệp sản xuất t liệu sản xuất cho nông thôn (kể cả máy móc thiết bị,
vật t nguyên liệu cho các ngành kinh tế ở nông thôn).
- Bộ phận công nghiệp chế biến các loại sản phẩm của nông thôn trớc hết
là nông, lâm, thuỷ hải sản nhằm nâng cao giá trị của chúng.
- Bộ phận công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cho nông thôn.
Quan trọng nhất vẫn là ngành công nghiệp chế biến, bởi lẽ các sản phẩm
của nông nghiệp nông thôn trớc hết là sản phẩm tơi sống, nếu không chế biến,
bảo quản thì sẽ hao hụt tự nhiên lớn, giá trị của sản phẩm không cao gây lãng
phí vì vậy xây dựng công nghiệp chế biến phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xây dựng tại các vùng chuyên môn bán các nông sản, gần nơi tập trung
đợc nguyên liệu (nơi có đờng giao thông đi lại thuận tiện).
- Đảm bảo đợc chất lợng hàng hoá nông sản đầu ra, tiêu hao ít nguyên
liệu trên một đơn vị sản phẩm tiêu thụ đợc trên thị trờng cả trong nớc và quốc
tế.
- Đảm bảo phục vụ cho lợng nông sản vào vụ thu hoạch (công suất đất
đai) để tránh hao hụt mất mát tự nhiên.
4. Sự can thiệp của Nhà nớc: Hiện nay vấn đề tạo việc làm cho lao
động nông thôn với nguyên liệu hiện có không thể giải quyết đợc. Vì vậy phải
có sự tác động rất lớn của Nhà nớc thông qua cơ chế, chính sách của nhà nớc
cả tầm vĩ mô và vi mô. Với các biện pháp chính sách đã có cần hoàn thiện
thêm một số chính sách cơ bản sau đây:
a) Chính sách vĩ mô: với loại chính sách này Nhà nớc cần tác động vào:
lao động nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Kết luận
Tạo công ăn việc làm trong nông nghiệp nông thôn là một vấn đề cần
giải quyết nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nó vừa
tác động đến toàn bộ xã hội thiếu việc làm hoặc không có việc làm đầy đủ sẽ
tác động đến mức tăng trởng kinh tế và thu nhập quốc dân.
Trong nông nghiệp nông thôn vấn đề việc làm đã đợc Đảng và Nhà nớc
đặc biệt quan tâm, đã đa ra nhiều kiến nghị và giải pháp tạo việc làm để nông
thôn thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần đợc bàn bởi bản thân nông thôn với nguồn lực lao động của nó không đáp ứng
đợc công việc chuyên môn kỹ thuật cao... Vì vậy thiếu việc làm ngày một
tăng, ngời nông thôn di c ra thành thị tìm việc làm ngày càng nhiều dẫn tới
bao nhiêu vấn đề kinh tế - xã hội cần giải quyết.
Để giải quyết vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn ngày càng
hoàn thiện hơn. Trong bài viết này em đã đa ra một số giải pháp nhằm tạo
việc làm cho lao động nông thôn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Hoàng Văn Định đã
giúp đỡ tận tình để hoàn thành bài viết này.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - NXB CTQG.
2. Bộ luật lao động nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Giáo trình kinh tế phát triển. Tập I - Khoa kinh tế phát triển - Trờng
đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
4. Giáo trình kinh tế lao động - Khoa Kinh tế lao động và dân số - Tr ờng
đại học Kinh tế quốc dân.
5. Giáo trình kinh tế nông nghiệp - Khoa kinh tế nông nghiệp và phát