LỜI MỞ ĐẦU
Thuật ngữ Quản trị học là thuật ngữ bao chùm tất cả những hoạt động
của một nhà doanh nghiệp trong việc quản trị điều khiển và định hướng cho
doanh nghiệp mình theo hướng đi lên cùng với đó là tạo ra chiến lược và làm
chủ thị trường tạo ra sức ảnh hưởng trong nền kinh tế. Có thể nói quản trị là
cán cân giữ thăng bằng cho một doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Nói đến quản trị là ta nói tới những người đứng đầu và những những
quyết định của họ đối với doanh nghiệp. Muốn quyết định của mình luôn đúng
thì người quản trị doanh nghiệp hay người đứng đầu doanh nghiệp cần phải tự
tạo cho mình một cách làm việc luôn đúng và phải thận trọng trước khi đưa ra
quyết định của mình trong những hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mình.
Các chức năng của quản trị bao gồm: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra. Các chức năng này hỗ trợ cho nhau để hoàn thiện cho quá trình quản trị.
Trong thực tế những nhà quản trị không thể bỏ qua một chức năng nào trong
quản trị vì dựa trên những nội dung của những chức năng này mà các nhà
quản trị tìm hiểu và hoàn thiện các quyết định của mình với doanh nghiệp tìm
ra những mặt tốt của quyết định để phát triển ý tưởng và loại bỏ những mặt
ảnh hưởng không tốt đến doanh nghiệp.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi đang diễn ra một
cách nhanh chóng trên mọi phương diện: Quản trị đã làm thay đổi cách thức
nhiều tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh; sự phát triển của công nghệ
thông tin đã làm thay đổi các khái niệm truyền thống về tổ chức và không gian
làm việc; sự gia tăng của các tổ chức dịch vụ đã làm thay đổi cấu trúc của nền
kinh tế.
Khi nhắc đến một doanh nghiệp thành công chúng ta cũng sẽ nhắc tới
người đứng đầu doanh nghiệp có thể là giám đốc hay chủ tịch hội đồng quản
trị nhưng cấp dưới thường gọi chung những người đó bằng một cái tên đó là
lãnh đạo, thực chấ tên gọi đó là một chức năng của quản trị và đó chức năng
thứ ba trong quản trị đó là lãnh đạo. Sau khi thực hiện hai chức năng hoạch
định và tổ chức của mình thì người quản trị phải thực hiện tiếp tục chức năng
thứ ba đó là chức năng lãnh đạo với chức năng này người lãnh đạo không còn
mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực
hiện chứ không phải hoàn thành công việc bằng chính mình. Hay theoKoontz
và O’Donnell định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con
người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp
độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một
môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể
hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.”
Một định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về quản trị được James
Stoner và Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản trị là tiến trình hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong
tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục
tiêu đã đề ra”. Để một doanh nghiệp phát triển thanh công thì doanh nghiệp
cần có rất nhiều điều kiện nhưng có hai điều kiện quan trọng nhất để doanh
nghiệp tồn tại và phát triển được đó là nguồn tài chính hay nguồn cung cấp
vốn để thực hiện các hoạt động đấu tư và điều kiện thứ và đóng vai trò quan
trọng đó là con người vì con người đóng vai trò quản trị.
Một nhà quản trị giỏi không phải được thể hiện bằng những lời khên chê của
người khác mà thể hiện bằng chính sự phát triển của doanh nghiệp mình thể
hiện qua quy mô sản xuất và sự chiếm lĩnh và ảnh hưởng tới thị trường. và
một một nhà quản trị tốt phải thực hiện đúng các chức năng của mình trong đó
có chức năng lãnh đạo là một chức năng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình quản trị doanh nghiệp, một người có khả năng lãnh đạo phải hội tụ đủ
những yếu tố tri thức, năng lực và phải đưa ra những quyết định đúng đắn dẫn
dắt cho một doanh nghiệp đi đúng hướng và không mắc sai lầm trong những ý
kiến đưa ra.
1.2. Lý thuyết tâm lý xã hội hay quan hệ con người:
Tuy nhiên, quan điểm cổ điển về sự động viên đã được chứng minh là không
phải lúc nào cũng chính xác. Lý thuyết về quan hệ con người đã cho thấy rằng
sẽ tự chủ và tự lãnh đạo bản thân để đạt được những mục tiêu của tổ chức mà họ
được giao phó.
- Các phần thưởng liên quan tới những kết quả công việc của công nhân đóng
vai trò quan trọng trong việc giao phó trách nhiệm thực hiện mục tiêu.
- Trong những điều kiện thích hợp, người bình thường không chỉ chịu trách
nhiệm mà còn học cách chấp nhận trách nhiệm về mình.
- Không ít người có khả năng phát huy khá tốt trí tưởng tượng, tài năng và sức
sáng tạo. Trong điều kiện công nghiệp hiện đại, chỉ có một phần trí thức của con
người bình thường được sử dụng.
Nhiệm vụ thiết yếu của nhà quản trị là sắp xếp các phương thức và điều kiện để
điều hành mọi người đạt mục tiêu một cách tốt nhất.
III. Khái niệm về lãnh đạo:
3.1. Định nghĩa chức năng lãnh đạo:
Lãnh đạo là một thuật ngữ chưa được hoàn chỉnh và vẫn đang tiếp tục được
nghiên cứu. Nghiên cứu về lãnh đạo là nghiên cứu về sự tác động của con người vào
con người. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về lãnh đạo. Một trong
những quan điểm phù hợp được sử dụng phổ biến nhất chính là: lãnh đạo là tiến
trình điều khiển, tác động đến người khác để họ góp phần làm tốt các công
việc, hướng đến việc hoàn thành các mục tiêu đã định của tổ chức. Hơn nữa,
lãnh đạo còn là khả năng lôi cuốn người khác đi theo mình, đồng thời biết thông tin
cho nhân viên cấp dưới để họ cần làm những gì và đạt được những gì.
3.2. Nhà lãnh đạo là ai?
Nhà lãnh đạo: là danh từ chỉ chủ thể thực hiện hành động lãnh đạo. Hiểu rộng
hơn, nhà lãnh đạo là người có khả năng tạo ra tầm nhìn cho một tổ chức hay một
nhóm và biết sử dụng quyền lực của mình để gây ảnh hưởng cho những người đi
theo thực hiện tầm nhìn đó.
Một nhà lãnh đạo phải đảm bảo được 3 yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả
năng truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh hưởng.
huống mà phải điềm tĩnh, chủ động đối phó một cách tốt nhất.
-
Trung thực với các cộng sự: là một đức tính hết sức cần thiết đối với một nhà
lãnh đạo. Nó sẽ chiếm được sự kính trọng và quý mến của mọi người trong công ty.
Là nguồn động lực thúc đẩy họ làm việc tốt hơn.
-
Cởi mở song kiên quyết khi cần thiết: thể hiện bản lĩnh của nhà lãnh đạo. Là
người luôn có cuộc sống cởi mở với mọi người nhưng là một người quyết đoán
trong công việc. không “theo đuôi” người khác.
-
Giản dị nhưng không xuề xòa: sự giản dị sẽ làm anh ta gần gũi với mọi người
hơn, nhưng không xuề xòa, vì sẽ làm giảm đi sự kính trọng của mọi người.
-
Nhiệt tình và gương mẫu: người lãnh đạo là tấm gương cho mọi người noi
theo, nếu thiếu sự nhiệt tình, gương mẫu trong công việc sẽ rất khó khăn trong công
tác lãnh đạo.
-
Trung tâm đoàn kết của tổ chức: người này sẽ là người trung gian hòa giải
• Hệ thống 4: Kiểu lãnh đạo ‘tham gia theo nhóm’. Thể hiện tin tưởng, hy
vọng cấp dưới, tổ chức cho đối tượng tham gia ý kiến theo nhóm.
Hình 1: Bốn hệ thống phong cách quản trị theo Likert
Tiếp cận dựa trên quyền lực quản trị, ta có các phong cách lãnh đạo như sau:
- Phong cách lãnh đạo độc đoán: Người lãnh đạo chuyên quyền là người thích ra
lệnh và chờ đợi sự phục tùng, là người quyết đoán, ít có lòng tin vào cấp dưới. Họ
thúc đẩy nhân viên chủ yếu bằng đe doạ và trừng phạt.
- Phong cách lãnh đạo dân chủ: Người lãnh đạo theo phong cách dân chủ thường
tham khảo ý kiến của cấp dưới về các hành động và quyết định được đề xuất.
- Phong cách lãnh đạo tự do: là phong cách nhà quản trị cho phép người dưới
quyền ra quyết định riêng của mình và họ ít tham gia vào việc ra quyết định của các
tổ chức.
4.2.3. Lựa chọn phong cách lãnh đạo:
Lực chon phong cách theo kiểu ô bàn cờ của Giáo sư do Robert Blake và
Jane Mouton đề xuất có:
+ Hàng ngang (trục hoành): thể hiện sự quan tâm đến công việc.
+ Hàng dọc (trục tung): thể hiện sự quan tâm đến con người.
Phong cách 1.1: các nhà quản trị quan tâm rất ít đến con người và sản xuất,
và tham gia tối thiểu trong công việc của họ, xét theo mọi ý nghĩa và mục đích. Họ
bỏ mặc công việc, dẫm chân tại chỗ và hành động như những người báo tin đem các
thông tin từ cấp trên xuống cho cấp dưới.
Phong cách 9.9: là những người thể hiện trong các hành động của họ sự hiến
dâng cao nhất có thể được cho cả con người lẫn sản xuất. Họ là các ‘nhà quản lý
đồng đội’ thực sự có khả năng nối kết được các nhu cầu sản xuất của một cơ sở với
các nhu cầu cá nhân.
của mọi nguồn lực, cần phải được phát triển toàn diện về: tư tưởng, trình độ, năng
lực, thể lực, phẩm chất đạo đức…Có như vậy, con người mới có khả năng tự làm
chủ được bản thân và xã hội. Có nhiều cách khác nhau để tiến hành việc giáo dục
con người. Căn cứ vào nội dung giáo dục người ta chia thành 2 loại: giáo dục căn
bản và giáo dục cụ thể.
• Giáo dục căn bản giúp con người phát triển toàn diện thông qua các hình thức
đào tạo dài hạn cũng như bồi dưỡng ngắn hạn phù hợp với trình độ và điều kiện của
từng đối tượng khác nhau.
• Giáo dục cụ thể là giáo dục từng mặt, từng tình huống cụ thể. Thông qua các
hình thức: thuyết phục, tự phê bình, khen thưởng – kỷ luật, tổ chức các phong trào
thi đua lao động sản xuất, động viên khuyến khích…
4.3.4. Sự kết hơp của các phương pháp:
Trong lãnh đạo cần sử dụng kết hợp các phương pháp nhằm tạo ra một động
lực kinh tế mạnh mẽ hơn, phương pháp hành chính tạo ra động lực chính trị, phương
pháp kinh tế tạo ra động lực vật chất, phương pháp giáo dục tạo ra động lực tinh
thần. Đồng thời sử dung kết hợp các phương pháp sẽ khắc phục cho nhau những
nhược điểm trong mỗi loại phương pháp.
V. Xây dựng sự tin cậy: cốt lõi của lãnh đạo
5.1. Sự tin cậy là gì?
Sự tin cậy là điều mong đợi tích cực rằng người khác sẽ không- bằng lời, hành
động, hoặc quyết định- hành động một cách cơ hội. Quan trọng nhất, sự tin cậy hàm
ý sự hiểu biết, sự thân quen và rủi ro. Sự tin cậy là một tiến trình phụ thuộc vào lịch
sử dựa trên những vấn đề liên quan nhưng giới hạn về một số kinh nghiệm. Điều
này đòi hỏi thời gian để hình thành, xây dựng và tích lũy. Hầu hết chúng ta đều nhận
thấy khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, để tin ngay một người nếu chúng
ta không biết mọi điều về họ.
5.2. Sự tin cậy là yếu tố then chốt cho lãnh đạo:
Sự tin cậy dường như là thuộc tính chính tương ứng với lãnh đạo. Khi cấp
phương pháp, lề lối làm việc, phong cách làm việc…
Xung đột giữa các thành viên trong tổ chức. Thường xuất hiện do mâu thuẫn
giữa trách nhiệm và quyền lợi. Trong tổ chức nếu một hoặc một số người được
hưởng một đặc ân nào đó, chẳng hạn anh ta rất ít nhiệm vụ, trách nhiệm mà ngược
lại được hưởng một quyền lợi lớn hơn người khác thì ngay lập tức sẽ bị người khác
dị nghị, dần dần phát sinh ra mâu thuẩn và xảy ra xung đột.
6.3. Giảm trừ xung đột:
Để giảm trừ xung đột, nhà quản trị cần thực hiện một số công việc chủ yếu
sau:
• Bản thân người lãnh đạo phải thể hiện tính mẫu mực về nhiều mặt; là trung
tâm đoàn kết nội bộ; không ngừng nâng cao uy tín cá nhân trong tổ chức; đảm bảo
một khoảng cách cần thiết; có bản lĩnh và tự chủ.
• Tổ chức lao động khoa học, hợp lý và kiên quyết giữ nghiêm kỷ luật.
• Lựa chọn các “Ê kíp” lãnh đạo và tập thể làm việc tốt nhất có thể được.
•
Luôn giữ các mối quan hệ thân thiện, bình đẳng, công minh trong đối xử.
PHẦN II
TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
ĐỘC ĐOÁN CỦA STEVE JOBS TẠI APPLE.
I. TÌM HIỂU VỀ CON NGƯỜI CỦA STEVE JOBS VÀ
1.1. Cá tính:
• Tự tin, có tính tự lập, tự chủ cao:
-
Steve Jobs sinh ngày 24/2/1955 tại California, Mỹ. Ngay trong tuần đầu tiên
chào đời, số phân của Jobs dường như đã được định sẵn. Bố mẹ Steve là sinh viên
nguyên tắc riêng của ông cả xấu lẫn tốt. Với tính cách ngang tàng luôn làm theo
những gì mình thích, ông không muốn bị chi phối bởi mọi thứ xung quanh.
• Có khả năng lôi cuốn người khác: Steve Jobs có khả năng thuyết phục và
lôi cuốn người khác, chính khả năng này đã tạo cho ông thói quen được người khác
nghe theo, phục tùng, từ đó hình thành nên phong cách độc đoán của ông.
1.2. Môi trường:
• Năm 1997, khi Steve Jobs quay lại Apple (sau khi bị đuổi khỏi công ty năm
1985), công ty đang trong thời kỳ tuột dốc. Để vực dậy một đế chế đang lụi tàn, cần
thẳng tay loại bỏ những phần tử mục rỗng, thối nát, và sáng tạo những thứ mới hơn,
hoàn hảo hơn bằng sự nỗ lực hết mình. Chính vì vậy, sự cứng rắn và uy quyền của
nhà lãnh đạo là vô cùng cần thiết đối với Apple lúc này.
• Lúc quay trở về Apple, nhân viên không có tính tự chủ, thiếu kỷ luật, thiếu
nghị lực và thiếu sáng tạo, thậm chí còn chống đối. Chính vì vậy, Steve Jobs cần áp
dụng phong cách lãnh đạo độc đoán.
• Việc ông “bị đá ra khỏi công ty” do chính mình thành lập và tâm huyết với
nó đã khiến ông trở nên độc đoán sau khi quay trở lại công ty, nhằm mục đích khiến
nhân viên khiếp sợ và phục tùng mình.
• Do Steve Jobs nắm giữ chức vụ cao nhất ở Apple nên ông có quyền hạn và vị
trí cao nhất công ty, do đó ông dễ lạm dụng quyền lực của mình.
• Môi trường cạnh tranh khốc liệt và tính chất của ngành công nghệ thông tin
đòi hỏi Apple phải có những chiến lược kinh doanh tạo ra bước đột phá mang tính
sáng tạo và bảo mật tuyệt đối. Các sản phẩm được tạo ra luôn đạt đẳng cấp cao,
hoàn hảo và vượt lên trên sự mong đợi của khách hàng. Như ông đã từng nói “dân
chủ không tạo ra những sản phẩm tuyệt vời, để làm được điều này thì các anh cần có
một nhà độc tài thông thái”.
II. Thực trạng về phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs tại Apple:
2.1. Những biểu hiện độc đoán của Steve Jobs:
• Những biểu hiện độc đoán của Steve Jobs:
lặng – văn hóa công ty nổi tiếng của Apple….
• Cách thức điều hành của Steve Jobs trong công việc:
-
Là cha đẻ của hơn 103 bản quyền của Apple, mọi thứ từ giao diện iPod đến
hệ thống hỗ trợ cho bộ thang máy được dùng trong các cửa hàng bán lẻ của Apple,
ông luôn có sự tham gia và giám sát đến từng chi tiết nhỏ nhất. Ông không thể yên
tâm mọi thứ sẽ hoàn hảo nếu không có sự giám sát chặt chẽ trong mọi khâu
-
Steve Jobs dường như đứng đầu và có mặt ở khắp mọi nơi trong công ty.
2.2. Luật im lặng – hệ quả từ phong cách điều hành độc đoán của Steve Jobs:
Bí mật không chỉ là “chiến lược” quan hệ với giới truyền thông mà đã trở
thành thứ văn hóa đặc trưng của Apple. Đó là hệ quả được đưa đến từ những hành
động độc đoán của Steve Jobs.
• Luật im lặng do Steve Jobs đặt ra. Luật này quy định nghiêm ngặt về việc
tuyệt đối bảo mật mọi thông tin liên quan đến Apple đối với khách hàng, đối thủ
cạnh tranh và thậm chí đối với chính các nhân viên và cổ đông của mình.
• Biện pháp trừng phạt của Apple là hết sức nghiêm khắc:
-
Với bất kì ai vi phạm nguyên tắc im lặng, dù là vô tình hay chỉ là sự vi phạm
“chút xíu” đều phải nhận án phạt thường là sa thải ngay lập tức.
-
việc nấy” và mọi người phòng này không hề biết những đồng nghiệp phòng bên
đang làm gì.
III. Phân tích thực trạng phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs:
3.1. Ưu điểm:
3.1.1. Ưu điểm trong phong cách lãnh đạo độc đoán của Steve Jobs:
• Việc Steve Jobs áp đặt những suy nghĩ của mình lên nhân viên và đưa ra
những quyết định độc đoán trong chớp mắt giúp Jobs tận dụng được thời gian, giúp
giải quyết nhanh chóng những việc khẩn cấp mà nếu chần chừ sẽ gấy hậu quả
nghiêm trọng cho công ty, giúp nhà lãnh đạo tận dụng được thời cơ, tránh được
những bàn cãi không cần thiết. Đặc biệt áp đặt toàn bộ những suy nghĩ khác người
của ông lên toàn bộ công ty, hàng loạt sản phẩm độc đáo mang tính đột phá cao đã
ra đời. Sản phẩm của Apple là sự đẳng cấp trong thiết kế và không giống một sản
phẩm nghe nhìn điện tử giải trí nào.
• Những đòi hỏi khắt khe của Jobs trong công việc, cùng với việc không ngần
ngại sa thải nhân viên nào không đáp ứng đủ yêu cầu đã tạo sức ép lên nhân viên để
bản thân họ phải thật sự cố gắng. Không những hoàn thành công việc được giao mà
phải hoàn thành một cách xuất sắc. Một người chỉ làm tốt công việc được giao khi
anh ta đứng trước áp lực về thời gian hoàn thành và yêu cầu cao về chất lượng công
việc.
• Trong giai đoạn sau khi Jobs về tiếp quản Apple thì công ty đang trong giai
đoạn tuột dốc thảm hại, đội ngũ nhân viên kỷ luật thấp, không có nghị lực, thiếu tính
sáng tạo, bộ máy hoạt động quan liêu. Lúc này, chính sách điều hành độc đoán của
Jobs đã đưa nhân viên đi vào khuôn khổ, mọi người làm việc trong một môi trường
chuyên nghiệp, tính kỷ luật cao và bộ máy công ty vận hành hiệu quả nhất.
• Việc tham gia và giám sát đến từng chi tiết nhỏ nhất của Steve Jobs góp phần
giảm thiểu đến mức tối đa những sai sót, tiết kiệm được chi phí, tạo ra những sản
phẩm tương đối hoàn hảo, mang tính vượt trội của Apple so với các đối thủ cạnh
tranh.
lớn đối với Apple đến nỗi bất cứ một động tĩnh nào của ông cũng dẫn đến một hệ
quả rất lớn đối với công ty, chẳng hạn như khi nghe tin ông bị ung thư thì giá cồ
phiếu của Apple sụt giảm nhanh chóng….
3.2.2. Nhược điểm của luật im lặng:
• Luật im lặng của Steve Jobs tạo ra một môi trường làm việc thiếu thiện cảm,
không khí làm việc nặng nề và mối quan hệ giữa các nhân viên trở nên xa cách.
• Thông tin được bảo mật khiến cho khách hàng ngày càng xa cách công ty vì
hầu như tất cả các thông tin về sản phẩm đều được giữ bí mật tuyệt đối cho đến khi
được tung ra thị trường. Điều này đi ngược lại hoàn toàn với các nguyên tắc tiếp thị
thông thường.
• Việc bảo mật thông tin một cách tuyệt đối như Apple xem ra không còn phù
hợp trong thời đại hiện nay khi mà “sự minh bạch ngày càng trở nên quan trọng và
càng cung cấp nhiều thông tin, thị trường của doanh nghiệp đó càng tốt hơn”. Việc
Apple liên tục bưng bít thông tin về sản phẩm cũng như sức khỏe của Steve Jobs đã
mang lại tâm lý hoang mang và hoài nghi cho khách hàng cũng như các cổ đông của
công ty. Và vấn đề này cũng khiến cho các nhà chức trách liên bang không khỏi đặt
ra nghi vấn về tính hợp pháp của việc bảo mật thông tin một cách thái quá của
Apple.
KẾT LUẬN
Lãnh đạo là một nhiệm vụ khó khăn mà mỗi phong cách lãnh đạo khi sử
dụng độc lập, không kết hợp về lâu về dài và một cách nhuần nhuyễn sẽ mang lại
những hệ quả tiêu cực. Cụ thể là phong cách lãnh đạo độc đoán được Steve Jobs –
giám đốc điều hành của Apple sử dụng trong vòng 12 năm ngự trị ở vị trí cao nhất
đã tạo nên một Apple huy hoàng trong quá khứ và có được vị trí như hiện nay. Tuy
vậy, Apple cũng đang đối mặt với những vấn đề nan giải do phong cách lãnh đạo
của vị giám đốc điều hành mang lại.