ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH KHẮC TIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC CHO GIỐNG NGÔ LAI DK 8868
TẠI HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên – 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài..................................................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
3.1. Đối tượng............................................................................................. 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................. 4
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài................................................... 4
4.1. Ý nghĩa khoa học................................................................................. 4
4.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 5
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu ...................................................... 5
1.2. Giá trị kinh tế của cây ngô...................................................................... 6
1.3. Tình hình nghiên cứu mật độ, khoảng cách và phân bón cho ngô trên
thế giới và ở Việt Nam................................................................................... 7
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới................................................... 7
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................. 10
1.4. Tổng quan về đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất ngô tỉnh
Yên Bái. ....................................................................................................... 19
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất ngô của huyện
Trấn Yên, tỉnh Yên Bái................................................................................ 23
1.6. Cơ sở khoa học xây dựng liều lượng phân bón .................................... 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 28
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu........................................................ 28
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 28
2.2.1. Nội dung 1: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật về mật độ và lượng
phân đạm phù hợp cho giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè thu năm 2012
trong vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại huyện Trấn Yên, tỉnh
Yên Bái..................................................................................................... 56
3.2. Kết quả mô hình trình diễn trong vụ xuân năm 2013 tại huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái ........................................................................................ 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 63
1. Kết luận.................................................................................................... 63
2. Đề nghị..................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 65
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA
: Phân tích biến động
CCC
: Chiều cao cây
CCĐB
: Chiều cao đóng bắp
CIMMYT
: Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế
CV%
: Không có ý nghĩa
STPT
: Sinh trưởng phát triển
PC
: Phân chuồng
TGST
: Thời gian sinh trưởng
UTL
: Ưu thế lai
X13
: Vụ xuân 2013
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong các giai đoạn sinh trưởng ........12
Bảng 1.2: Kết quả sản xuất ngô tỉnh Yên Bái từ năm 2000-2011 ...................20
Bảng 1.3: Kết quả sản xuất ngô của huyện Trấn Yên từ năm 2005-2012 .......26
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm đến thời gian sinh
Hình 3.1: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 ........................................................39
Hinh 3.2: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013......................41
Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau ...................43
đến số lá của giống ngô lai DK 8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ
xuân năm 2013 ...................................................................................43
Hình 3.4: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 .........................................................51
Hình 3.5: Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân đạm khác nhau đến
năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống ngô lai DK
8868 trong vụ Xuân năm 2013...........................................................52
Hình 3.6: Năng suất lý thuất và năng suất thực thu của giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu 2012 và vụ Xuân năm 2013.............................53
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trấn Yên là một huyện vùng thấp nằm ở phía Nam tỉnh Yên Bái, trên
toạ độ địa lý: từ 21031’48’’ đến 21047’38’’ vĩ độ Bắc; từ 104038’37’’ đến
104059’00’’ kinh độ Đông. Phía Bắc Trấn Yên giáp với huyện Văn Yên và
huyện Yên Bình, phía Nam giáp với huyện Văn Chấn, phía Tây giáp huyện
Văn Chấn và huyện Văn Yên, phía Đông giáp huyện Yên Bình và thành phố
Yên Bái và tỉnh Phú Thọ.
Hệ thống sông ngòi Trấn Yên nằm trong hệ thống sông Hồng. Sông
CP333, NK54, LVN 25, LVN 99...... và được trồng tập trung trên diện tích
đất soi bãi là chính.
Tuy nhiên, trong sản xuất cây ngô của huyện vẫn chưa phát huy hết
tiềm năng thế mạnh, năng suất, chất lượng ngô rất thấp bình quân mới đạt
30,6 tạ/ha. Với năng suất này chỉ bằng 74,8 % năng suất ngô của cả nước và
bằng 92,1% năng suất ngô của các tỉnh miền núi phía Bắc. Một trong những
nguyên nhân làm năng suất ngô tại huyện Trấn Yên chưa cao đó là kỹ thuật
của người dân còn hạn chế, đặc biệt việc trồng với mật độ hợp lý cho từng
giống ngô lai và biện pháp kỹ thuật như lượng phân bón như đạm, lân, kali
phù hợp còn chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù công tác giống ngô đã
được các cơ quan chức năng của huyện quan tâm, đưa nhiều giống phù hợp
vào cơ cấu giống của địa phương. Một số giống ngô lai do công ty TNHH
Dekalb Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ, đặc biệt là giống ngô DK 8868 chưa
được đưa vào nghiên cứu, trồng thử nghiệm trên đất soi bãi.
Giống ngô lai DK 8868 là giống ngô lai do công ty TNHH Dekalb Việt
Nam nhập khẩu từ Mỹ, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam công nhận tạm thời là giống Quốc gia vào cuối năm 2010. Đây là giống
ngô phù hợp với trồng vụ xuân, vụ hè thu; thích nghi rộng trên đất 3 vụ trong
3
năm; chịu hạn, úng, sinh trưởng khoẻ, cây mập và kháng bệnh tốt, bộ lá siêu
bền. Giống ngô DK 8868 có đặc tính nổi trội là trồng dày, tạo ra năng suất
cao (trung bình đạt 10 tấn) và ổn định qua các mùa vụ; Theo khuyến cáo của
nhà sản xuất thì thời gian sinh trưởng của giống từ 95-105 ngày (miền Nam),
< 110 ngày (miền Bắc, tùy theo vụ), trồng được cả 3 vụ trong năm.
Giống ngô DK8868 đã được trồng khảo nghiệm tại các huyện Chợ
Mới, Ba Bể, Ngân Sơn và thị xã Bắc Kạn. Kết quả khảo nghiệm tại mô hình ở
Cẩm Giàng cho thấy tỷ lệ tách hạt đạt cao, 5m2 thu được hơn 6kg ngô hạt
- Nghiên cứu xác định mật độ và lượng phân đạm cho giống ngô lai DK
8868 trong vụ hè thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 trên đất soi bãi tại
huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái;
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài sẽ bổ sung thêm dữ liệu khoa học về giống ngô DK8868 trên
đất soi bãi tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định được mật
độ và lượng phân đạm phù hợp cho giống ngô lai DK 8868 trên đất soi bãi tại
huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được mật độ thích hợp và lượng phân đạm phù hợp cho
giống ngô lai DK 8868 trên đất soi bãi huyện Trấn Yên nói riêng và tỉnh Yên
Bái nói chung.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò quan trọng góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây trồng. Khả năng thích ứng và sản
lượng thu được của giống liên quan chặt chẽ, phụ thuộc vào điều kiện sinh
thái của các vùng miền cũng như trình độ và tập quán canh tác của các vùng
miền đó. Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, nhất là những
giống mới có tiềm năng năng suất cao thì một trong những yêu cầu quan trọng
đầu tiên là phải tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng thích ứng cũng nhu
thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón...) đối với giống mới đó
phần lớn sản lượng ngô được dùng cho chăn nuôi, Mỹ 76%, Bồ Đào Nha
91%, Ý 93%, Trung Quốc 76%...(Ngô Hữu Tình, 2003)[31].
Mặt khác, trong đông y, ngô là cây trồng cũng có tác dụng rất hữu ích
với sức khỏe con người. Mỗi bộ phận trên cây ngô đều có tác dụng chữa các
bệnh khác nhau. Râu ngô và ruột cây ngô có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi
tiểu, tiêu thũng, thông mật, cầm máu.
Cây ngô còn được sử dụng chữa bệnh huyết áp cao bằng cách uống
nước luộc bắp hàng ngày, mỗi ngày 2 – 3 lần, uống liền hai, ba tháng. Chữa
đái đường bằng cách uống mỗi ngày 20 – 30g bột mầm bắp ngô khô trong
nước sắc đọt khoai lang đỏ, hay hàng ngày ăn chè bắp sữa nấu với củ mài,
đồng thời ăn rau lang đỏ nấu canh, chữa phù thũng, viêm thận cấp, đái đỏ hay
viêm gan tắc mật, đái vàng và da vàng theo tỷ lệ 40g râu bắp hay 150g ruột
cây bắp sắc uống (Viện dược liệu, 1990)[34].
Ngô còn dùng để chữa những bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận,
viêm túi mật, viêm gan với hiện tượng trở ngại bài tiết mật, có thể dùng bắp
dưới hình thức thuốc pha hoặc nấu sôi, hay chế thành cao lỏng, mỗi ngày
uống 2- 3 lần, mỗi lần 30 – 40 giọt trước bữa ăn (Đỗ Tất Lợi, 1986)[15].
7
1.3. Tình hình nghiên cứu mật độ, khoảng cách và phân bón cho ngô trên
thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trên thế giới:
Tạo giống chịu mật độ cao là một trong những mục tiêu quan trọng của
các nhà tạo giống ngô. Bằng nhiều phương pháp người ta đã không ngừng cải
thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới.
Năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40 năm qua tăng thêm 58% là nhờ
đóng góp của giống lai đơn, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp
khoảng cách hàng (Minh Tang Trang và Peter, 2005)[45].
12,2 tấn/ha ở mật độ 80.256 cây/ha. Việc năng suất tăng ở khoảng cách hàng
hẹp so với hàng rộng, đặc biệt ở mật độ cao, được giải thích là do tiếp nhận
năng lượng mặt trời tốt hơn, giảm bốc hơi nước và hạn chế cỏ dại phát triển
do sớm che phủ mặt đất.
Mật độ gieo trồng có quan hệ mật thiết với năng suất ngô. Tại vùng
Simnic, Rumani trong 2 năm 2009 và 2010 các nghiên cứu về mật độ gieo
trồng đã được tiến hành với các giống ngô lai Fundulea 475, Kamelias,
Danubian, KWS 2376, Rapsodia và Kitty. Trong cả hai năm ngô được gieo
vào ngày 15/4 với 3 mật độ thí nghiệm: 40.000 cây/ha, 50.000 cây/ha và
60.000 cây/ha. Kết quả cho thấy mật độ gieo trồng 60.000 cây/ha cho năng
suất cao nhất 8190 kg/ha, tiếp theo là mật độ 50.000 cây/ha năng suất đạt
7570 kg/ha và cuối cùng là mật độ 40.000 cây/ha năng suất đạt 7430 kg/ha
(Borleanu, 2010)[41].
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới
Để đạt năng suất cao và ổn định, ngô cần được bón phân cân đối, đặc
biệt là giữa các yếu tố NPK. Điều này được chứng minh rất rõ qua các thí
nghiệm bón các tổ hợp phân cho ngô trong suốt 28 vụ của Viện Kali quốc tế
cho thấy chỉ có bón cân bằng NPK năng suất ngô mới cao và ổn định.
Theo Shan (1994)[47], mức bón phân được khuyến cáo cho ngô ở Đài
Loan là 175 kg N + 95 kg P2O5 + 70 kg K2O/ha.
9
Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của
tất cả các protein. Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để xác định năng
suất ngô. Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ, sự phân chia tế
bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả là giảm diện tích lá, kích thước
của cây và năng suất giảm. Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá hiệu
quả ngay từ đầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ để quá
trình đồng hóa quang hợp đạt cực đại (Wolfe và CS, 1988)[58].
kali là kết quả của việc cây trồng lấy đi một lượng lớn kali, tỷ lệ cung cấp kali
thấp, tình trạng thiếu kali trong một số loại đất cũng như sự rửa trôi kali ở
những vùng mưa nhiều.
Theo Thomas Dieroff và CS (2001)[53], lượng dinh dưỡng mà ngô hút
như sau:
- Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N; 20 kg P2O5; 75
kg K2O; 9 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha.
- Ngô địa phương năng suất 2,5 tấn/ha tổng lượng hút 65 kg N; 11 kg
P2O5; 42 kg K2O; 5 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha.
Ở tỉnh Jinlin - Trung Quốc, bón 150 – 169 kg K2O tăng năng suất ngô
từ 1,2 – 1,6 tấn/ha (tăng từ 12 – 21%). Ở tỉnh Liaoning, trên nền NP bón
112,5 kg K2O/ha tăng năng suất ngô từ 17,3 - 23,2%, bón 225 K2O/ha tăng
năng suất ngô từ 20,1 - 26,2 % (Lei và CS, 2000)[44] .
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.2.1. Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô ở Việt Nam
Các nghiên cứu về mật độ và khoảng cách gieo trồng ngô ở nước ta đã
được nghiên cứu cách đây khá lâu. Chúng ta luôn có quan niệm: Mật độ trồng
gắn liền với đặc điểm của giống, điều kiện sinh thái và mùa vụ, khả năng đầu
tư của nông dân ở từng vùng cụ thể. Những năm 1984-1986, Trung tâm
Nghiên cứu Ngô Sông Bôi đã trồng giống ngô MSB49 ở các mật độ 9,52 vạn
cây/ha (70 x 15 cm), 7,14 vạn cây/ha (70 x 20 cm) và 5,7 vạn cây/ha (70 x 25
cm), với 3 mức phân bón khác nhau. Kết quả cho thấy ở mật độ 9,52 vạn
cây/ha với mức phân bón 120 N: 80 P205: 40 K20 kg/ha cho năng suất cao
11
nhất (55,30 tạ/ha) và ở mật độ 5,7 vạn cây/ha cho năng suất thấp nhất. Tuy
nhiên, sự sai khác về năng suất giữa các công thức không đáng kể (Ngô Hữu
Tình, 1987)[30]. Đến năm 2005, Bộ Nông nghiệp đã ban hành Hướng dẫn
quy trình kỹ thuật thâm canh ngô lai đạt năng suất trên 7 tấn/ha ở các tỉnh
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Sơn Dương - Tuyên Quang, Chợ Mới - Bắc
Kạn cho thấy mật độ 7,1 vạn cây/ha với khoảng cách hàng 50 cm và cây cách
cây 28 cm thích hợp cho THL IL3 x IL6. Với mật độ khoảng cách này tạo cho
quần thể ngô đạt đến mức độ tối ưu trong tiếp nhận ánh sáng mặt trời và nhiệt
độ, tạo điều kiện cho cây ngô sinh trưởng phát triển tốt. Thời gian sinh trưởng
trung bình trong vụ Xuân là 111 ngày, vụ Thu là 98 ngày; khả năng chống
chịu tốt với bệnh khô vằn; chống chịu khá với sâu đục thân và bệnh đốm lá;
năng suất thực thu đạt cao nhất (dao động từ 82,34 - 86,23 tạ/ha), vượt đối
chứng từ 16,8 - 18,9% (Dương Thị Nguyên và cs, 2011) [24] [25].
1.3.2.2. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô ở Việt Nam:
Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ
Văn Sơn (1995) [27] đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồng
bằng sông Hồng, thu được kết quả như sau:
- Để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy đi từ đất trung bình một lượng đạm, lân,
kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O = 12,2 kg.
- Lượng NPK tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là: N = 33,9 kg;
P2O5 = 14,5 kg; K2O = 17,2 kg.
- Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45.
- Tỉ lệ N: P: K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
Bảng 1.1: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong các giai đoạn sinh
trưởng
ĐVT: %
Nguyên tố
6 - 7 lá
Trỗ cờ
Thu hoạch
khác như đạm và lân còn tiếp tục đến lúc ngô chín.
Theo Đường Hồng Dật (2003) [7] trung bình với năng suất 60 tạ/ha ngô
hạt, cây ngô lấy từ đất 155 kg N, 60 kg P2O5, 115 kg K2O (tương đương 337
kg urê, 360 kg supe lân, 192 kg clorua kali).
Theo tác giả Ngô Hữu Tình (1995) [29], trên đất phù sa sông Hồng tỷ
lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô đạt năng suất cao là 1: 0,35 :
0,45 và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180N – 60P2O5 – 120K2O;
ở Duyên hải miền Trung: 120N – 90P2O5 – 60K2O; miền Đông Nam bộ: 90N
– 90P2O5 – 30K2O; Đồng bằng sông Cửu Long: 150N – 50P2O5 – 0K2O.
Theo Phạm Kim Môn (1991) [16], với ngô Đông trên đất phù sa sông
Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 – 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 – 60
kg K2O/ha.
Theo Trần Hữu Miện (1987) [17] thì trên đất phù sa sông Hồng lượng
phân bón phù hợp là: 120N – 90P2O5 – 60K2O cho năng suất 40 – 50 tạ/ha;
150N – 90P2O5 – 100K2O cho năng suất 50 – 55 tạ/ha; 180N – 90P2O5 –
100K2O cho năng suất 65 – 75 tạ/ha.
Theo Nguyễn Văn Bộ (2007) [3], lượng phân bón khuyến cáo cho ngô
phải tuỳ thuộc vào đất, giống ngô và thời vụ. Giống có thời gian sinh trưởng
dài hơn, có năng suất cao hơn cần phải bón lượng phân cao hơn. Đất chua
phải bón nhiều lân hơn, đất nhẹ và vụ gieo trồng có nhiệt độ thấp cần bón
nhiều kali hơn. Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là:
+ Đối với giống chín sớm:
- Trên đất phù sa: 8 – 10 tấn phân chuồng; 120 – 150 kg N; 70 – 90 kg
P2O5 ; 60 – 90 kg K2O/ha.
14
- Trên đất bạc màu: 8 – 10 tấn phân chuồng; 120 – 150 kg N; 70 – 90
kg P2O5; 100 – 120 kg K2O/ha.
(tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 27,9 – 28,4 kgN/1tấn ngô hạt
(dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [19].
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suất
ngô và giúp cải thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988, 1994) để
đảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm
25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học (dẫn theo Trần Văn Minh,
2004) [19].
Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phân
bón hợp lý, bón cân đối giữa các nguyên tố. Bón phân cho ngô để đạt hiệu
quả kinh tế cao phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý
của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên đồng ruộng,
tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện khí hậu
thời tiết.
Bón cân đối đạm – kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa. Bội thu do
bón cân đối (trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất
phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9
tạ/ha trên đất đỏ vàng. Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngô
trên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng
(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [3].
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002) [12], từ năm 1985 đến nay tình hình
sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là
13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm. Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15
năm qua tăng trung bình 9,0%/năm. Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua đã
cân đối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 :
0,05; 1 : 0,46 : 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37. Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua
các năm 1990, 1995, 2000 với tổng lượng N : P2O5 : K2O tương ứng là 58,7;
117,7 và 170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn
Quốc, Pháp, Nhật với tổng lượng N : P2O5 : K2O khoảng 240 – 400 kg/ha.