Luận văn thạc sỹ - Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính thức thực hiện đổi mới nền kinh tế từ năm 1986, đa dạng hóa và đa
phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại đã góp phần tạo ra nhiều bước chuyển
biến tích cực đối với kinh tế xã hội của nước ta, bước đầu xây dựng nền kinh tế
công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Những thay đổi tích cực
đó đối với Việt Nam có sự đóng góp to lớn của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Sự hình thành luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã đánh dấu bước nhẩy quan
trọng của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt việc ra đời luật
đầu tư năm 2005 là cơ sở quan trọng đưa đến thời cơ lớn cho nước ta cũng như các
địa phương thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo đà cho sự phát triển
kinh tế của đất nước trong thời gian tới.
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, bộ mặt kinh tế
xã hội Bắc Ninh đang đổi thay từng ngày. Được tái lập từ 01/01/1997, Bắc Ninh đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân hàng năm đạt 13,5% trong đó công nghiệp luôn là ngành dẫn đầu với tốc
độ tăng trưởng cao nhất trong những năm gần đây. Kết quả này có được từ cơ chế
chính sách đúng đắn của địa phương trong việc huy động các nguồn lực cho phát
triển kinh tế, trong đó đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tốc độ tăng
trưởng cao đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh.
Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước cải thiện đời
sống nhân dân, đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, bên
cạnh phát huy năng lực nội sinh thì vấn đề mở rộng hợp tác kêu gọi đầu tư, khai thác
các nguồn lực cho sự phát triển đặt ra đối với Bắc Ninh là hết sức quan trọng. Đứng
trước thời cơ trước mắt, tuy đã có nhiều thành công trong thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh, nhưng vẫn còn không ít hạn chế cần khắc phục trong
thời gian tới nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra và tương xứng với tiềm năng
phát triển của tỉnh.


hợp với các phương pháp: phân tích tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, để luận giải
các nội dung của luận văn.


3
5. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá và góp phần làm rõ một số vấn đề lý thuyết về FDI và thu hút
FDI.
- Mô tả bức tranh toàn cảnh về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của
tỉnh Bắc Ninh. Phân tích và đánh giá những thành công và bất cập còn tồn
tại trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghiệp tỉnh
Bắc Ninh.
- Đề xuất các giải pháp tích cực tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào phát triển công nghiệp Bắc Ninh.

6. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm ba chương:
Chương I : Lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II : Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển
công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh


4

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

quan. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
hoạt động quản lý đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn nhận theo quan điểm vĩ mô được hiểu là
hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp đưa vốn và kỹ thuật vào nước
nhận đầu tư; tổ chức sản xuất kinh doanh trên cơ sở thuê mướn và khai thác các yếu
tố cơ bản ở nước sở tại. Theo quan điểm vi mô, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự
góp vốn với tỷ lệ đủ lớn của chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia vào quản lý
và điều hành đối tượng bỏ vốn.
Từ những cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể
hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ
vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để hình thành tài sản nhằm tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật pháp nước sở tại.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh
tế có nhân tố nước ngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư và địa điểm đầu tư từ các quốc gia
khác nhau). Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc
tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tư
trực tiếp nước ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tư bản trong đầu tư trực tiếp
vượt ra khỏi biên giới một quốc gia.

1.1.2. Đặc điểm chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra có tính chất khách quan và chịu sự tác
động của quy luật cung cầu về vốn giữa các quốc gia, chính sách thu hút đầu tư của
các nước, quá trình tự do hóa đầu tư theo các nguyên tắc quốc tế. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài mang những đặc điểm chính sau.
Thứ nhất các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà
họ đã bỏ vốn đầu tư. Về quyền quản lý doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn
của chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án. Nếu doanh nghiệp là 100% vốn nước


6



7
Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã xây dựng nhiều cơ chế
chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã cấp giấy phép cho nhiều loại
hình đầu tư. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta bao gồm những
hình thức sau:

1.1.3.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai bên để cùng
nhau tiến hành một hay nhiều hoạt động tại nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên, mà không thành lập một
xí nghiệp mới hay bất cứ một pháp nhân mới nào.
Đặc điểm của hợp đồng hợp tác kinh doanh:
-

Các bên tham gia cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân định
trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng.

-

Không thành lập pháp nhân mới tại nước nhận đầu tư.

-

Vấn đề vốn kinh doanh có thể đề cập hoặc không cần đề cập tới trong
hợp đồng.

1.1.3.2. Công ty liên doanh
Công ty liên doanh là hình thức công ty được thành lập với sự tham gia của một


8
Hình thức đầu tư này được các chủ đầu tư nước ngoài lựa chọn khá nhiều khi
mới thâm nhập thị trường để có thể chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhất, với
chi phí xây dựng xí nghiệp thấp nhất và đơn giản nhất. Sau khi qua một thời gian
hoạt động chủ đầu tư có thể chuyển đổi sang hình thức đầu tư khác.

1.1.3.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là loại hình đầu tư ít được sử dụng hơn so với hình thức công ty liên
doanh trong hoạt động đầu tư quốc tế, ban đầu hình thức doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài được sử dụng chỉ nhằm mục đích thăm dò khả năng của thị trường nước
sở tại, tìm kiếm cơ hội đầu tư nhưng sau đó nó đã dần trở thành một hình thức đầu
tư trực tiếp nước ngoài quan trọng trong chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các
công ty.
Đặc điểm chủ yếu của hình thức đầu tư này là:
-

Chủ đầu tư bỏ ra 100% vốn đủ để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
tại nước nhận đầu tư bao gồm cả phần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ban
đầu trong suốt thời gian đầu tư.

-

Chủ đầu tư thuê đất của nước sở tại.

-

Chủ đầu tư thuê và trả lương cho công nhân, các chuyên gia là công dân
nước ngoài và nước sở tại.


một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao
không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Quyền sở hữu, quản lý và làm chủ độc quyền của chủ đầu tư đối với tài sản
của các công trình BOT là có thời hạn. Chủ đầu tư sẽ chuyển giao tài sản cho nước
sở tại khi chấm dứt hợp đồng. Hình thức đầu tư này có những đặc điểm sau:
Đối với nhà đầu tư:
Nắm quyền sở hữ, quản lý và làm chủ độc quyền tài sản của công trình kinh
doanh và chịu rủi ro về thiết kế, xây dựng dự án khi điều hành hoạt động doanh
nghiệp.
Chịu mọi rủi ro phát sinh do thời gian có thể bị chậm trễ và chi phí ngoài dự
toán, nhưng đổi lại là việc đẩy mạnh hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng vốn của
họ. Để tạo cơ hội cho quá trình đầu tư, nhà đầu tư thường có cam kết đảm bảo duy
trì chất lượng công trình, đảm bảo còn giá trị tốt như ban đầu đối với tài sản sẽ
chuyển giao cho nhà nước khi hết hạn hợp đồng.


10
Đối với nước nhận đầu tư
Nhà nước hay Chính phủ nước sở tại chịu mọi rủi ro khác ngoài khả năng
kiểm soát của nhà đầu tư và cam kết:
- Bảo đảm đề phòng rủi ro về mặt chính trị.
- Không trưng dụng tài sản của nhà đầu tư trong thời gian hợp đồng vẫn còn
hiệu lực.
- Đảm bảo không có những thay đổi bất lợi về mặt pháp lý hay những quy
định có liên quan.
- Đảm bảo khả năng chuyển đổi ngoại tệ cho nhà đầu tư.
Đổi lại chính quyền nước sở tại có quyền:
- Góp vốn bằng nguồn tài nguyên (đất đai ).
- Khi hết hợp đồng có quyền lấy lại quyền sở hữu và hoạt động kinh doanh
của công trình BOT.

-

Nước chủ nhà được hưởng từ 30%-40% tiền bán sản phẩm đối với mỏ có
sản lượng nhỏ.

-

Nếu không tìm thấy sản phẩm hoặc có tìm thấy nhưng không đủ sản
lượng công nghiệp để khai thác, nhà thầu phải chịu 100% rủi ro.

Ưu điểm của hình thức PSC
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: có khoản thu nhập từ phía đối tác mang lại
nếu khai thác tài nguyên của đối tác một cách có hiệu quả. Mở rộng tầm ảnh hưởng,
nâng cao uy tín trên thương trường quốc tế thông qua kết quả của hợp đồng phân
chia sản phẩm.
Đối với nước nhận đầu tư: thường là những nước chậm phát triển hoặc
không đủ khả năng khai thác tài nguyên nên không đủ kinh nghiệm cũng như hội tụ
đủ các điều kiện cần thiết để khai thác nguồn tài nguyên. Qua loại hợp đồng này,
nước sở tại có thể khai thác được nguồn tài nguyên đó và tận dụng nguồn tài
nguyên một cách có hiệu quả.
Nhược điểm
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Khả năng rủi ro cao, vì vậy khi ký kết hợp
đồng này nhà đầu tư thường xem xét kỹ vùng khai thác tài nguyên bằng những kinh
nghiệm và phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhất.
Đối với nước sở tại: Nếu chưa đủ kinh nghiệm và trình độ trong quản lý cũng
như tổ chức khai thác có thể đẫn đến tình trạng tài nguyên quốc gia bị phía nước
ngoài chiếm đoạt với khối lượng lớn.


12

13
trạng thiếu vốn bằng cách sử dụng nguồn vốn tín dụng thuê mua, tức là doanh nghiệp
có thể thuê thiết bị ở các công ty cho thuê tài chính.
Các công ty thuê mua tài chính ngoài việc cho thuê tài sản cố định còn tư vấn
cho các doanh nghiệp cách thức sử dụng tài sản cố định đi thuê như thế nào cho có
hiệu quả.
Thuê tài chính có hai nghiệp vụ cụ thể:
Cho thuê hoạt động: Bên thuê có thể thuê tài sản trong một thời gian ngắn,
ngừng thuê khi không còn nhu cầu và bên cho thuê tiếp tục cho người khác thuê.
Cho thuê trả góp: Bên thuê sử dụng tài sản, trả tiền thuê và đồng thời trả góp
tiền mua thiết bị cho đến khi giá trị tài sản được thu hồi hết và bên cho thuê thu
được mức lời thỏa đáng.

1.1.3.7. Hợp tác liên doanh
Đây là hình thức doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nước sở tại hợp
tác theo phương thức thời gian đầu khai thác sản phẩm và dịch vụ dựa trên nhã
hiệu, thương hiệu của bên nào đã có tiếng tăm trước. Sau một khoảng thời gian nhất
định, việc khai thách kinh doanh sản phẩm dịch vụ sẽ được tiếp tục với nhãn hiệu,
mã ký hiệu thương hiệu của đối tác kia.

1.1.4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình phát triển
công nghiệp địa phương
Mặc dù ở nhiều nước đang phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài được tiếp
cận một cách thận trọng vì lo ngại phải trả giá cho việc tiếp nhận nó, tuy nhiên
trong suốt quá trình hình thành và phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng
có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của rất nhiều quốc gia cũng như các
địa phương trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài vừa có những tác động tích cực vừa có những tác động tiêu cực đến địa
phương tiếp nhận đầu tư. Vấn đề đặt ra là cần phát huy những tác động tích cực và
giảm thiểu những tác động tiêu cực để tối đa hóa lợi ích khi tiếp nhận đầu tư trực

dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.


15
Giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao động trong ngành công
nghiệp
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề được toàn xã hội
quan tâm và được coi đây là một trong số những nhân tố góp phần làm cho xã hội
phát triển công bằng và bền vững. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ hình
thành lên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển của các
khu công nghiệp tập trung, khu chế suất, khu công nghệ cao... đây là những nhân tố
thu hút nhiều lao động nhất là nguồn lao động tại chỗ góp phần tạo ra nhiều công ăn
việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Song song với việc giải quyết việc làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng góp
phần nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo ra cho nền kinh tế ngày càng nhiều
đội ngũ lao động có tay nghề, trình độ khoa học công nghệ cao, đội ngũ quản lý có
năng lực góp phần tạo ra sự tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
đào tạo nguồn nhân lực. Người lao động có nhiều cơ hội được học tập và tiếp thu tri
thức khoa học hiện đại, nâng cao kỹ năng tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có thể tác động tích cực đến việc cải
thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty
bạn hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở địa phương tiếp nhận đầu tư còn có
thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự
mình thành lập doanh nghiệp mới.
Đóng góp cho ngân sách địa phương từ hoạt động sản xuất kinh doanh của
các cơ sở công nghiệp có nguồn vốn FDI
Bên cạnh đó, hoạt động của các đơn vị có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
cũng đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách của địa phương từ những khoản thuế

1.1.4.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đem đến
không ít những tác động tiêu cực đối với địa phương tiếp nhận đầu tư. Những tác động
tiêu cực chủ yếu do đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại là:
Khai thác và sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên
Mục đích chính của các chủ đầu tư nước ngoài suy cho cùng đó là làm thế nào


17
để thu được nhiều lợi nhuận nhất. Chính xuất phát từ tư tưởng đó, nhiều nhà đầu tư
đã chạy theo lợi nhuận, họ thường triệt để khai thác và tìm mọi biện pháp để sử dụng
nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nơi nhận đầu tư. Trong quá trình tiếp nhận đầu tư,
nếu không có giải pháp cho vấn đề này thì sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên và kéo theo nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực khác.
Mất cân đối trong cơ cấu kinh tế
Khi tìm hiểu về môi trường đầu tư của địa phương nhận đầu tư, các nhà đầu
tư thường chú trọng quan tâm đến những ngành sẽ thu được lợi nhuận cao. Do đó,
khi tiếp nhận đầu tư nếu không có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư đúng
hướng có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế. Do sự chạy theo lợi
nhuận của nhà đầu tư có thể gây nên mất cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các
thành phần kinh tế và gây nên sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực.
Chuyển giao công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường
Thông thường các công nghệ mà nhà đầu tư mang tới không phải là công
nghệ nguồn. Trong nhiều trường hợp những công nghệ đó là công nghệ lạc hậu và
đã qua sử dụng. Điều này sẽ đẩy nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi rác công nghệ,
kéo theo đó là sự ô nhiễm môi trường gây tổn thất lớn cho kinh tế và sức khỏe của
người dân.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài giữ một vai trò quan trọng trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương theo hướng công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta tập trung chủ yếu là đầu tư

quả thu hút FDI là rất cần thiết để có thể nắm bắt một cách toàn diện tình hình thu
hút đầu tư, là cơ sở đưa ra những biện pháp tích cực thu hút nguồn vốn này một
cách hiệu quả hơn. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thu hút FDI bao gồm năm chỉ
tiêu chính sau:
Thứ nhất: số lượng các dự án FDI, đây là biểu hiện đầu tiên về kết quả thu hút
FDI. Thông thường số dự án đầu tư lớn là minh chứng cho hoạt động thu hút FDI
tốt. Tuy nhiên, để có kết luận chính xác cần gắn chỉ tiêu này với các chỉ tiêu khác
như quy mô vốn đầu tư, tốc độ thu hút vốn hay cơ cấu của vốn đầu tư...
Thứ hai: quy mô vốn FDI, chỉ tiêu này phản ánh tổng vốn FDI đã thu hút được
trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hoạt động thu
hút đầu tư càng đạt kết quả cao.


19
Thứ ba: số vốn bình quân của một dự án FDI, chỉ tiêu này cho biết quy mô
bình quân của mỗi dự án. Chỉ tiêu này thấp cho thấy các dự án chủ yếu là nhỏ lẻ, do
vậy thường gắn với điều đó là công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế xã hội không cao.
Thứ tư: tốc độ thu hút FDI là chỉ tiêu phản ánh quy mô vốn FDI tăng hay giảm
và tăng, giảm nhanh hay chậm, đây là cơ sở so sánh kết quả thu hút FDI giữa các
thời kỳ.
Thứ năm: cơ cấu FDI, được phân thành nhiều loại như cơ cấu FDI theo lĩnh
vực, theo vùng, theo đối tác đầu tư, theo hình thức đầu tư.
Cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực đầu tư biểu hiện sự phân bố FDI trong các
ngành, theo lĩnh vực có tuân theo quy hoạch phát triển ngành của địa phương tiếp nhận
đầu tư hay không và tác động như thế nào đến cơ cấu kinh tế của địa phương đó.
Cơ cấu FDI theo vùng cho biết sự phân bố FDI theo không gian, qua đó cho thấy
tác động của FDI đối với sự phát triển của các đơn vị hành chính cơ sở.
Cơ cấu FDI theo đối tác đầu tư cho biết tên tuổi cũng như quốc tịch của chủ
đầu tư. Đây là thông tin phản ánh mối quan tâm cũng như đóng góp của các nhóm
nhà đầu tư từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đối với ngành, lĩnh vực đầu tư của

Thứ hai là cơ chế chính sách vĩ mô trong hoạt động đầu tư nước ngoài là
những quy định của nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài. Những quy định
này ở nước ta đã không ngừng được hoàn thiện từng bước theo hướng thu hẹp sự
phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tạo ra sự bình đẳng, không
phân biệt đối xử trong hoạt động đầu tư. Những nội dung trong các chính sách của
Nhà nước tạo nên môi trường đầu tư hấp đẫn đối với các nhà đầu tư đó là sự ổn
định, tính nhất quán, minh bạch và bình đẳng của các chính sách trong công tác
quản lý đầu tư và đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba là kế hoạch và quy hoạch phát triển kinh tế các vùng miền, các ngành
nghề. Đây là những yếu tố quan trọng cho nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm và
ngành nghề đầu tư. Dựa trên quy hoạch này nhà đầu tư sẽ xây dựng được cho mình
định hướng, kế hoạch cho hoạt động đầu tư của mình. Điều này tạo nên lợi ích cho
cả nhà đầu tư và địa phương nhận đầu tư đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế
xã hội của nước nhận đầu tư.
Thứ tư là sự cạnh tranh từ các địa phương khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ngày càng có vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa,
chính vì vậy cạnh tranh giữa các địa phương trong thu nguồn vốn đầu tư này là tất


21
yếu. Tuy nhiên đã có nhiều sai lầm bộc lộ trong việc lựa chọn cách thức cạnh tranh
hiện nay của nhiều địa phương, điều này đang có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát
triển chung của toàn nền kinh tế. Cạnh tranh là cần thiết, tuy nhiên điều quan trọng
là lựa chọn cách thức cạnh tranh lành mạnh để cùng nhau tiến bộ mà không làm ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thứ năm là xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa. Hiện nay xu thế toàn cầu
hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, nó tạo điều kiện cho thương
mại và đầu tư quốc tế rất phát triển. Khi một quốc gia có mức độ hội nhập kinh tế
thế giới và khu vực càng sâu, rộng càng có tác dụng thu hút nhiều vốn đầu tư vào
trong nước. Có ba tiêu chí chủ yếu được các nhà đầu tư quan tâm để đánh giá khả

Sự vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian đầu tập
trung ở các nước đang phát triển. tuy nhiên cho đến cuối thế kỷ hai mươi thì dòng
vốn đó có xu hướng chảy tới các quốc gia công nghiệp phát triển. Những thay đổi
xu thế của dòng vốn đầu tư quốc tế chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó chủ
yếu là do tác động từ sự suy thoái cùng với khung hoảng kinh tế ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Được đánh giá là chìa khóa cho sự tăng trưởng, các quốc gia đang
phát triển không ngừng nỗ lực kêu gọi đầu tư phát triển và đã đạt được nhiều thành
công đáng kể trong những năm qua.
Với vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực kinh tế năng động của Châu Á
được nhiều nhà đầu tư quan tâm đến, nước ta có nhiều thuận lợi trong thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Việc bãi bỏ những cản trở thương mại và đầu tư quốc tế, tái
điều chỉnh cơ cấu và cải cách nền kinh tế cũng như việc tự do hoá trong lưu thông
vốn quốc tế là những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Đã có nhiều khu vực tự do hoá thương mại được hình thành là kết quả tất yếu
toàn cầu hoá nền kinh tế thê giới. Bên cạnh đó những hiệp ước đầu tư song phương
đã thực sự thúc đẩy và bảo hộ hợp pháp cho những hoạt động của các nhà đầu tư
quốc tế và dự án của họ tại các nước tiếp nhận đầu tư. Các nguyên tắc đối xử ưu đãi
và công bằng đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng được các quốc gia hết sức
xem trọng, nó cũng được coi là động lực thúc đẩy cho hoạt động đầu tư nước ngoài
trở nên mạnh mẽ hơn trên quy mô toàn thế giới.


23
1.2.3.2. Những nhân tố từ môi trường bên trong địa phương
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào những nhân tố
bên ngoài của địa phương, nó còn chịu sự ảnh hưởng to lớn từ những nhân tố bên
trong địa phương. Có thể chia những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài thuộc môi trường bên trong địa phương thành những nhóm
nhân tố chính sau:
a) Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của địa phương

sự phát triển của khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghiệp, hạ tầng đường
giao thông, mạng lưới điện, nước, cảng, dịch vụ viễn thông.... Đây là yếu tố không
thế thiếu đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các địa phương nhận đầu tư
có thể tận dụng lợi thể này để tăng cường thu hút đầu tư thông qua việc xây dựng và
phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời đảm bảo phát triển nguồn nhân lực dồi dào, đủ
chất lượng đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư. Những điều kiện này ở các nước
đang phát triển thường là hết sức khó khăn bởi nền kinh tế còn kém phát triển, cơ sở
hạ tầng nghèo nàn và ít được đầu tư, trong khi đó lao động dồi dào nhưng chưa qua
đào tạo. Nguồn lao động dồi dào ở nước ta là một lợi thế cạnh tranh lớn trong thu
hút đầu tư, tuy nhiên lợi thế này không mang tính bền vững nếu chúng ta không có
chính sách cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới.
Bên cạnh những nhân tố trên, một số nhân tố khác có ảnh hưởng lớn đến nhà
thu hút đầu tư nước ngoài là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế địa phương, quy mô
thị trường và thu nhập bình quân đầu người, thị hiếu tiêu dùng của người dân. Trong
lựa chọn địa điểm đầu tư, tính hiệu quả là một khía cạnh được các nhà đầu tư xem xét
kỹ lưỡng trong quyết định chọn địa điểm đầu tư. Hiệu quả này được xem xét thông
qua chi phí về nguồn lực và các chi phí khác như chi phí vận tải, chi phí viễn thông
và các chi phí trung gian khác.
Hiện nay một lực lượng giữ vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến hoạt
động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là quần chúng nhân dân. Vai trò quan
trọng của người dân không chỉ vì có số lượng đông đảo, mà còn là tập hợp người
tiêu dùng, người lao động, người tham gia và sáng tạo trong tất cả hoạt động của
nền kinh tế. Tập quán, bản sắc văn hoá là những yếu tố căn bản để hình thành sức
mạnh riêng biệt của một địa phương. Người dân có văn hoá, kỷ luật, tay nghề và


25
trình độ quản lý sẽ là lợi thế cạnh tranh dài hạn; thói quen tiêu dùng là động lực
thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển; đức tính thân thiện là tiềm năng để thu hút du
lịch và hợp tác kinh doanh; cần cù, sáng tạo là sức mạnh để tạo nên sự phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status