Tạo hứng thú cho HS trong giờ học ngữ văn - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Ngữ văn là môn học có vai trò vô cùng quan trọng trong chương trình THCS
và có tác động rất lớn đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.
Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại như ngày nay, môn Ngữ văn
không chỉ có tác dụng bồi đắp tâm hồn các em, hướng các em tới những giá trị
Chân – Thiện – Mỹ của cuộc sống mà còn khơi gợi ở các em lòng yêu nước, thái
độ trân trọng truyền thống và ngôn ngữ dân tộc. Thế nhưng, hiện nay có một bộ
phận học sinh không nhỏ có xu hướng tìm đến Ngoại ngữ, Tin học và các môn
khoa học tự nhiên như là một sự bảo đảm cho tương lai và loại bỏ môn Ngữ văn ra
khỏi hành trang tri thức khi bước vào đời.
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân dẫn đến, một trong những nguyên
nhân đó là phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp, chưa khơi gợi được
mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học. Như vậy, với vai trò là người
đưa đò trên dòng sông tri thức, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới
nội dung, chương trình, sách giáo khoa, chúng ta phải không ngừng đổi mới
phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
và phải xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa trọng tâm, xuyên suốt cả
quá trình đổi mới.
Có nhiều phương pháp dạy học tích cực được đưa ra trong những năm gần
đây và đã được bạn bè, đồng nghiệp sử dụng thường xuyên. Riêng đối với bản thân
tôi, bên cạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng bản đồ tư duy trong
giảng dạy, tôi thường tổ chức cho các em thảo luận nhóm va chơi trò chơi. Qua
thực tiễn, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này đã thật sự đem lại “luồng sinh
khí mới” cho học sinh, bước đầu đã giảm bớt được tâm lý chán học Ngữ văn, khơi
gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái
nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn học này.
Tuy nhiên, việc tổ chức thảo luận nhóm và trò chơi là vấn đề còn khó
khăn, lúng túng đối với nhiều giáo viên. Nhiều đồng nghiệp tỏ ra băn khoăn không
biết nên cho các em thảo luận nhóm trong thời gian bao lâu, chia lớp thành mấy
nhóm, thiết kế trò chơi như thế nào…
Từ những lí do trên, trong điều kiện và giới hạn nghiên cứu, tôi chọn đề tài

gì trong thời gian thảo luận, dẫn tới tình trạng có học sinh làm việc riêng, nói
chuyện trong thời gian này. Giáo viên cũng không nắm bắt được những khó khăn,
lúng túng của học sinh trong quá trình thảo luân để có sự gợi ý, hỗ trợ kịp thời.
Thao tác phổ biến cách chơi, luật chơi: một số giáo viên, khi tổ chức trò chơi
chưa quy định rõ về cách chơi, luật chơi khiến các em lúng túng trong quá trình
tham gia, làm mất sự hứng thú và thời gian tiết học.
Thao tác tổng kết: sau khi viết phương án trả lời ra bảng hoặc ra giấy, nhóm
trưởng thay mặt nhóm đọc kết quả thảo luận trước lớp hoặc viết lên bảng. Giáo
viên gọi học sinh khác nhận xét, bổ sung và kết luận. Thao tác này được lặp đi lặp
lại khá đơn điệu, nhàm chán.
2


Thời gian học tập trên lớp bị bó hẹp ở tiết học (45 phút/ tiết) nên khi sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm hay tổ chức trò chơi, giáo viên rất dễ bị “cháy” giáo
án.
Không gian lớp chật hẹp, gây khó khăn cho việc tổ chức một số trò chơi đòi
hỏi phải có sự vận động.
Một số giáo viên chưa có sự chuẩn bị, đầu tư khi tổ chức thảo luận nhóm và tổ
chức trò chơi nên chưa đạt hiệu quả mong muốn.
2. Về phía học sinh
Trong thời gian thảo luận, chỉ có số ít học sinh làm việc thật sự (nhóm trưởng
và học sinh khá, giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nói chuyện,
làm việc riêng. Một số học sinh không ý thức được sự cần thiết phải hợp tác để
chiếm lĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động thảo luận thành cơ hội để
tán gẫu, lãng phí thời gian, gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác.
Câu trả lời của học sinh thường lặp lại những kiến thức trong sách giáo khoa,
thiếu sức sáng tạo.
Nếu trình độ học sinh trong nhóm không đều nhau thì những học sinh giỏi, khá
sẽ lấn lướt những học sinh trung bình, yếu. Các em trung bình, yếu sẽ không có

chấp nhận và phê phán ý kiến người khác. Đồng thời, các em biết đưa ra những
ý kiến và bảo vệ những ý kiến của mình.
- Giúp cho học sinh có sự tự tin trong học tập, vì học sinh học tập theo hình thức
hợp tác và qua giao tiếp xã hội - lớp học, cho nên các em sẽ mạnh dạn và không
sợ mắc phải những sai lầm.
- Hình thành phương pháp nghiên khoa học cho học sinh.
- Tăng cường tri thức, hiệu quả trong học tập: qua học nhóm, học sinh có thể nắm
bài ngay trên lớp, hình thành những tri thức sáng tạo thông qua sự tự tư duy của
mỗi thành viên.
1.3.
Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong giờ thảo luận nhóm
1.3.1. Nhiệm vụ của giáo viên
Trước khi tiến hành thảo luận nhóm, giáo viên trước hết cần chuẩn bị vấn đề
thảo luận. Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và đọc tài liệu liên quan đến
vấn đề thảo luận. Tài liệu bao gồm sách giáo khoa và các tài liệu khác sách tham
khảo, phim ảnh… Sau cùng, giáo viên tiến hành phân nhóm. Việc thành lập nhóm
(số lượng nhóm và thành viên trong nhóm) dựa trên số lượng học sinh trong lớp và
nội dung bài học. Số lượng thành viên trong nhóm tối ưu là từ 4 đến 7 người. Cách
chia nhóm có thể hoàn toàn ngẫu nhiên, hoặc tùy theo tiêu chuẩn của giáo viên, có
thể chia từng cặp hoặc theo bàn…
Khi học sinh thảo luận nhóm, giáo viên di chuyển chung quanh các nhóm, im
lặng quan sát các nhóm làm việc. Khi học sinh gặp khó khăn, bế tắc hay tranh luận
ngoài đề, giáo viên kịp thời can thiệp, hướng dẫn nhóm ra khỏi bế tắc hoặc quay lại
vấn đề đang thảo luận. Hướng dẫn ở đây là đưa ra vài chi tiết liên quan đến giải
pháp, đặt lại câu hỏi cho sáng rõ hơn chứ không đưa ra giải pháp. Nếu nhóm im
lặng quá lâu do hết ý hay không ai có ý kiến, giáo viên tìm hiểu lí do và đặt câu hỏi
cho học sinh trả lời. Trường hợp trong nhóm có thành viên “ngôi sao” hoặc có
thành viên quá nhút nhát, giáo viên khéo léo giải quyết vấn đề bằng cách cho rằng
ý kiến của thành viên nổi trội là đáng ghi nhận nhưng giáo viên muốn nghe ý kiến
của học sinh nhút nhát.

Câu hỏi có tính chất tranh luận không nhằm mục đích tái hiện tri thức đã có
mà yêu cầu học sinh phải biết sử dụng “cái đã biết” để làm phương thức tìm tòi,
nghiên cứu những giá trị tri thức mới.
1.4.2 Việc thành lập nhóm dựa trên số lượng học sinh trong lớp và nội dung
bài học
Trong việc thành lập nhóm, giáo viên nên áp dụng linh hoạt các hình thức
chia nhóm như:
Chia nhóm ngẫu nhiên: học sinh đếm 1,2,3,4... rồi vòng trở lại. học sinh đếm
số nào thì vào nhóm ấy. Giáo viên cũng có thể chia theo bàn, theo tổ.

5


Chia nhóm theo năng lực học học tập: giáo viên dựa vào năng lực học tập
của học sinh để chia thành nhóm giỏi, khá, trung bình, yếu. Những học sinh yếu
hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những học sinh đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm
những bài tập bổ sung.
Chia nhóm gồm đủ các trình độ: Cách chia này thường được sử dụng khi nội
dung thảo luận cần có sự hỗ trợ lẫn nhau.
Chia nhóm cố định trong một thời gian dài: nhóm được duy trì trong một số
tuần hoặc một số tháng. Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng.
Số lượng thành viên trong nhóm: nhóm nhỏ (2 học sinh), nhóm vừa (4 - 5
học sinh), nhóm lớn (7 - 10 học sinh).
Số lượng nhóm, số lượng thành viên trong nhóm và thời gian thảo luận phải
phụ thuộc vào số lượng học sinh trong lớp hoặc vấn đề thảo luận nảy sinh từ nội
dung bài học. Cụ thể:
Với vấn đề thảo luận có tính chất phức tạp như vấn chứa nhiều nội dung cần
làm sáng tỏ, hoặc có nhiều cách lí giải như “Phân tích diễn biến hành động, cử
chỉ, ngôn ngữ của chị Dậu trong quá trình đối phó với tên cai lệ” (tiết 9,10 - Tức
nước vỡ bờ – Ngữ văn 8), chúng ta nên chia nhóm gồm đủ trình độ học sinh, số

Trên những định hướng đó, các em sẽ dễ dàng tiến hành thảo luận.
Giáo viên dẫn dắt học sinh vận dụng tư duy vốn có của các em giải quyết
từng vấn đề: gợi lại những tri thức đã có từ trước, khơi gợi những suy nghĩ trong
các em thông qua vốn sống của các em.
Khi gặp trường hợp trong nhóm có thành viên “ngôi sao” hoặc có thành viên
quá nhút nhát, giáo viên kịp thời can thiệp hạn chế những học sinh nói quá nhiều,
khích lệ, động viên học sinh nhút nhát phát biểu ý kiến bằng cách giáo viên có thể
trực tiếp hỏi học sinh nhút nhát rắng: “Cô nhận thấy nhóm bạn rất có tinh thần
tham gia thảo luận, đã đưa ra được rất nhiều ý kiến, quan điểm của các bạn như
vậy còn ý kiến của em như thế nào? Em thấy chúng ta cần bổ sung những gì cho
những ý các bạn vừa nêu?”.
1.4.4 Trình bày và đánh giá kết quả
Đại diện các nhóm sẽ lên trình bày kết quả trước toàn lớp: trình bày miệng
hoặc trình bày miệng với báo cáo viết kèm theo. Có thể kèm theo minh họa bằng
tranh ảnh hoặc biểu diễn. Đại diện nhóm có thể là nhóm trưởng hoặc một thành
viên khác trong nhóm do giáo viên chỉ định. Kết quả trình bày của các nhóm được
đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo. Giáo viên đóng vai trò
trọng tài chốt lại những nội dung cơ bản, khen thưởng những nhóm thảo luận tốt,
động viên, khuyến khích để tạo hứng thú cho học sinh. Hình thức khen thưởng có
thể là biểu dương cũng có thể là cho thêm điểm thưởng vào điểm hoạt động nhóm.
1.5.
Quy trình thảo luận nhóm
+ Giới thiệu thiệu vấn đề thảo luận
+ Xác định nhiệm vụ của các nhóm
+ Thành lập các nhóm
+ Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm
+ Lập kế hoạch làm việc
+ Tiến hành giải quyết nhiệm vụ
+ Báo cáo kết quả thảo luận trước lớp
7

Dạng bài tập phân tích: phân tích hình ảnh, chi tiết và từ ngữ; phân tích
nhân vật bao gồm các sự kiện có liên hệ trực tiếp nhân vật: diện mạo, hành động,
tính cách nhân vật; phân tích các biện pháp và thủ pháp nghệ thuật: đối với thơ: các
biện pháp tu từ (so sánh, lặp, chơi chữ, láy…); đối với văn xuôi: nghệ thuật xây
dựng nhân vật, kết cấu, không gian, thời gian…
Dạng bài tập lập biểu đồ, sơ đồ: sử dụng hình tròn, hình vuông, khung, các
mũi tên đường thẳng và hình vẻ để biểu thị mối quan hệ giữa các khái niệm trừu
tượng hoặc các sự kiện. Loại này thích hợp trong các giờ ôn tập, giờ rèn luyện kỹ
năng khái quát, hệ thống và khắc sâu kiến thức.
1.6.2 Dạng bài tập thực hiện ở nhà, tiết học sau trình bày
Giáo viên cho các bài tập để mỗi nhóm chuẩn bị. Bài tập có thể là tìm những
vấn đề có liên quan đến bài học, hoặc sưu tầm tư liệu, hoặc tìm hiểu một vấn đề,
hoặc toàn bộ của bài học. Bài tập này có tác dụng giúp học sinh tìm hiểu trước vấn
đề, khi vào lớp học, các nhóm sẽ góp ý kiến bổ sung những mảng kiến thức còn
thiếu, từ đó các em sẽ hiểu vấn đề hơn. Hạn chế của dạng bài tập này là giáo viên
không thể nắm bắt tình hình học nhóm của các em, do vậy sẽ có những học sinh
không tham gia trực tiếp với các bạn của mình để thảo luận.
2. Phương pháp tổ chức trò chơi
2.1.
Ý nghĩa của việc tổ chức trò chơi trong giờ học Ngữ văn
Trò chơi là một hoạt động bổ trợ trong dạy học Ngữ văn. Hoạt động này
thiên về phần chơi nên nó giúp xóa đi nặng nề. Học sinh được tiếp thu nhiều kiến
thức, kỹ năng qua những hoạt động dễ dàng, gây hứng thú.
Học sinh không chỉ có cơ hội tìm hiểu, ôn tập kiến thức mà còn có cơ hội thể
nghiệm hành vi, rèn luyện kỹ năng, sự tư duy, phản ứng nhanh. Các em sẽ được
rèn khả năng chọn phương án đúng, cách giải quyết tình huống. Đây là bước trải
nghiệm thực tế trước khi học sinh rút ra một kết luận, lý thuyết trừu tượng.
Trò chơi cũng là biện pháp tăng cường sự ganh đua, phấn đấu tích cực trong
cá nhân hoặc các nhóm học sinh. Nếu tổ chức trò chơi nhóm còn giúp tăng cường
hoạt động làm việc nhóm. Từ đó, phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh.

tượng sao cho đạt được kết quả hoạt động cao nhất. Giáo viên có thể xem trò chơi
là một hình thức tổ chức cho một đơn vị kiến thức nhỏ trong giờ học để triển khai
ở các bước khác nhau của bài giảng (phần tìm hiểu chung, tìm hiểu ngữ liệu, phần
đọc - hiểu văn bản, phần luyện tập, củng cố bài…) hoặc tổ chức tiết học thành một
trò chơi lớn đối với một số tiết ôn tập hoặc khái quát.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập truyện dân gian” – Ngữ văn 6, giáo viên có thể
tổ chức tiết học này thành một cuộc thi với ba vòng thi như Trắc nghiệm kiến thức,
hái hoa dân chủ, nhìn hình đoán chữ hoặc sau khi đã ôn tập kiến thức, giáo viên
cho các em chơi trò chơi “Nhìn hình đoán chữ” để khắc sâu kiến thức đã ôn tập.
2.3.2. Luật chơi
Phải rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho
việc hướng dẫn, huấn luyện
2.3.3. Đối tượng tham gia trò chơi
10


Trò chơi phải hướng tới học sinh đảm bảo tất cả học sinh trong lớp học đều
được tham gia. Tuy nhiên đối với những em học sinh học còn yếu, nhút nhát giáo
viên chỉ nên chỉ định tham gia vào những trò chơi dễ để tạo cơ hội cho các em hình
thành được nhiệm vụ của mình, từ đó có thể khích lệ tinh thần học tập, giúp các
em tự tin, mạnh dạn hơn trong học tập
Giáo viên phải định hướng, hướng dẫn nhằm đạt được mục đích, ý đồ bài
học.
2.3.4. Chuẩn bị
Tuỳ nội dung bài mà chuẩn bị ở nhà hay trên lớp. Dùng bảng phụ , phiếu học
tập hay tự làm phương tiện dạy học.
Bố trí chia lớp phù hợp.
2.3.5. Tiến trình tổ chức trò chơi
Muốn sử dụng thành công trò chơi học tập giáo viên cần chú ý đến những
vấn đề sau:

- Giáo viên trình chiếu hoặc treo tranh đố.
- Sau thời gian quy định, giáo viên cho học sinh trả lời.
* Phạm vi áp dụng: Trò chơi này có thể áp dụng ở những bài ôn tập về Văn
bản và một số tiết Tiếng Việt về từ vựng như Ôn tập truyện dân gian (tiết 53, 54 Ngữ văn 6), Ôn tập truyện và kí (tiết 125 - Ngữ văn 6), Danh từ, Động từ, Tính từ
(tiết 31, 35, 55, 58, 62, 63 – Ngữ văn 6), Từ ghép, Từ láy (tiết 3, tiết 11 – Ngữ văn
7), Từ tượng hình, từ tượng thanh (tiết 15 – Ngữ văn 8), Tổng kết từ vựng (tiết 43,
44, 49, 53 – Ngữ văn 9)…
2.4.

2.4.2.

2.4.2.

2.4.3.
2.4.4.

Nhìn hình đoán
chữ
Nhìn
hình đoán chữ
bàigian
Từ láy
Ngữvăn
văn 67
bài Ôn tập truyện dân
– –Ngữ
12


Trò chơi “Giải ô chữ”

C
1

G

H
2

Ơ
L
L
O
3

N
E

G
O

A
N
4

D
T
G
5

A

2.

Ô chữ hàng ngang số 1 (7 chữ cái): Từ tượng hình gợi tả dáng vẻ của tên
người nhà Lý trưởng khi cai lệ bảo trói anh Dậu lại.
Ô chữ hàng ngang số 2 (8 chữ cái): Từ tượng hình miêu tả dáng vẻ của “ anh
chàng nghiện” trong cuộc đánh nhau với chị Dậu.
13


Ô chữ hàng ngang số 3 (4 chữ cái): Từ tượng thanh mô phỏng âm thanh cú
đấm của cai lệ vào ngực chị Dậu.
4. Ô chữ hàng ngang số 4 ( 5 chữ cái ): Từ tượng hình còn thiếu trong câu văn:
“Hai người giằng co nhau, [….] nhau rồi ai nấy đều buông gậy ra áp vào vật
nhau.”
5. Ô chữ hàng ngang số 5 (6 chữ cái ): Từ tượng hình miêu tả dáng vẻ của bà
lão láng giềng khi ở nhà chị Dậu về.
6. Ô chữ hàng ngang số 6 ( 9 chữ cái ): Từ tượng hình gợi tả dáng vẻ của cai lệ
khi bị chị Dậu xô ngã.
7. Ô chữ hàng dọc ( 6 chữ cái ): Tên nhân vật chính trong tác phẩm “ Tắt đèn”
của Ngô Tất Tố?
+ Ô chữ dùng cho bài “Ôn tập truyện trung đại” – Lớp 9
3.

V

Ũ
Đ

N


T
B
U
H

T


N
R

Y
Á
N
R

N
G
U
Y

N
D
U

Ô

M

N



Y



N

K

Ì



U

Câu hỏi:
Ô chữ hàng ngang số 1( 6 chữ cái): “Truyện Kiều” là loại truyện thơ viết
bằng…?
Ô chữ hàng ngang số 2 (7 chữ cái): Nhân vật chính trong truyện “Chuyện người
con gái Nam Xương”
Ô chữ hàng ngang số 3 (13 chữ cái): Tuỳ bút viết trong những ngày mưa
Ô chữ hàng ngang số 4 (6 chữ cái): Ngoài biện pháp ước lệ, đoạn trích “Chị em
Thuý Kiều” còn sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để miêu tả chị em Thúy
Kiều ?
Ô chữ hàng ngang số 5 (15 chữ cái): Một nhà thơ lớn của dân tộc sớm phải chịu
cảnh mù loà ở tuổi 27
Ô chữ hàng ngang số 6 (6 chữ cái): Tác phâm “Hoàng Lê nhất thống chí” của
Ngô Gia văn phái viết bằng chữ gì ?
Ô chữ hàng ngang số 7 (8 chữ cái): Tác giả truyện “Chuyện người con gái nam

01

02

03
04

Tác phẩm,
tác giả
Tôi đi học
(Thanh
Tịnh)
Trong Lòng
Mẹ
(Nguyên
Hồng)
Tức nước vỡ
bờ
(Ngô tất Tố)
Lão Hạc

T.loại

Năm
ST

PTBĐ

15



Tức nước vỡ
bờ
(Ngô tất Tố)

Lão Hạc
(Nam Cao)

T.loại

Truyện
ngắn

Hồi ký
(trích)

Tiểu
thuyết
(trích)

Truyện
ngắn
(trích)

Năm
ST

PTBĐ

1941

nhân phẩm cao
đẹp của họ.

16

Đặc sắc nghệ
thuật
Tự sự kết hợp
với trữ tình; kể
chuyện kết hợp
miêu tả và biểu
cảm, đánh giá;
những hình ảnh
so sánh mới mẻ
và gợi cảm.
Văn hồi ký chân
thực, trữ tình
thiết tha
Khắc hoạ nhân
vật và miêu tả
hiện thực một
cách chân thực,
sinh động.
Nhân vật được
đào sâu tâm lý,
cách kể chuyện
tự nhiên, linh
hoạt, vừa chân
thực vừa đậm
chất triết lý và

các câu còn lại của bài thơ. Cứ như thế đến hết bài thơ. - Bạn nào đọc sai sẽ làm
một hoạt động do lớp hoặc giáo viên yêu cầu.
2.4.5. Trò chơi “Hiểu ý đồng đội”
* Mục đích: trò chơi này là giúp các em rèn luyện kỹ năng làm văn, chủ yếu là
văn thuyết minh.
* Chuẩn bị: một số từ khóa (về đồ vật, cây cối, đồ chơi. Chẳng hạn: bình thủy,
bút bi, con diều…)
* Cách tiên hành:
17


- Giáo viên chia lớp thành các đội chơi.
- Mỗi đội sẽ có 2 đến 3 lượt chơi. Mỗi lượt chơi sẽ có 2 em tham gia . Một em
xem từ khóa và diễn đạt cho em còn lại đoán xem từ khóa đó là gì. Khi diễn đạt,
không được dùng những từ đồng âm hoặc đồng nghĩa với từ có trong từ khóa.
Thời gian cho mỗi lượt chơi khoảng 45 đến 60 giây (tùy tình hình thực tế, giáo
viên quy định thời gian chơi cho phù hợp). Kết thúc trò chơi, đội nào diễn đạt
được nhiều từ hơn là đội thắng.
* Phạm vi áp dụng: Trò chơi này có thế áp dụng trong các tiết Tập làm văn.
2.4.6. Trò chơi “Ai nhanh, ai giỏi”
* Mục đích: Giúp học sinh
- Hình thành được yêu cầu về kiến thức sách giáo khoa
- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, phối hợp nhịp nhàng các thành viên trong
nhóm
- Giáo dục ý thức tích cực và tinh thần hợp tác trong các hoạt động tập thể.
* Chuẩn bị:
- Lớp đọc kĩ và xác định yêu cầu bài tập
- Chia học sinh thành 2 - 4 nhóm tuy vào từng bài, đặc điểm lớp học
- Chia bảng, phấn, phiếu học tập…..cho nhóm
- Quy định thời gian chơi

mục hay nhất.
Ví dụ: Khi dạy bài Thi kể chuyện (Ngữ văn 6), giáo viên có thể chia lớp thành
4 đội, yêu cầu mỗi đội sẽ diễn lại một câu chuyện dân gian đã học trong chương
trình. Khi diễn phải có chuẩn bị trang phục, đạo cụ (chỉ yêu cầu các em chuẩn bị
đơn giản). Mỗi đội sẽ có 5 phút để diễn. Sau mỗi tiết mục, giáo viên mời cả lớp
nhận xét. Cuối cùng, giáo viên nhận xét và cùng cả lớp bình chọn tiết mục hay
nhất.

Học sinh lớp 6A4 trường THCS Đông Thạnh
với hoạt cảnh Em bé thông minh (trái) và Ếch ngồi đáy giếng (phải)

III. Kết quả đạt được
Qua tiết dạy có vận dụng hình thức thảo luận nhóm và sử dụng trò chơi, tôi
đã thu được một số kết quả sau:
19


- Tiết học trước đây trầm lắng, tẻ nhạt, chỉ có thầy hỏi trò trả lời thì bây giờ các
em cảm thấy thoải mái hơn, sôi nổi thảo luận với nhau và đưa ra các ý kiến của bản
thân.
- Giờ học không còn là thầy hỏi rồi tự trả lời mà đã có học trò tham gia đối thoại,
tranh luận
- Các em cảm thấy hứng thú hơn, không uể oải trong giờ học .
- Các em rất thích thú với việc tổ chức trò chơi, hầu như tất cả học sinh đều muốn
tham gia vào cuộc chơi đó. Đặc biệt, có những em học yếu cũng tích cực tham gia
trò chơi .Và khi học sinh đã tích cực tham gia sôi nổi thì sẽ tránh được hiện tượng
không chú ý khi thầy cô giảng bài.

20



21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status