SKKN Tạo hứng thú cho HS trong môn Toán 6 - Pdf 72

I) PHẦN MỞ ĐẦU:
1) Lí do chọn đề tài:
− Sản phẩm của giáo dục là nhân cách của người học, của thế hệ trẻ. Về mục
tiêu giáo dục phổ thông, Luật giáo dục xác định: giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy sản phẩm của giáo dục, sản phẩm của sự đào tạo của
nhà trường là nhân cách người lao động mới có văn hóa, có tay nghề, có năng lực thực
hành, tự chủ năng động sáng tạo, có chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn,
có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
− Bên cạnh giáo dục đạo đức cho học sinh thì việc dạy cho học sinh có chuyên
môn vững vàng là việc làm thường xuyên của đội ngũ cán bộ giáo viên nhất là giáo viên
trực tiếp đứng lớp.
Mà dạy học Toán là dạy một ngôn ngữ, một ngôn ngữ đặc biệt, có tác dụng to
lớn trong việc diễn tả các sự kiện các phương pháp trong các lĩnh vực rất khác nhau của
khoa học và phục vụ cho hoạt động thực tiễn xung quanh cuộc sống chúng ta. Ở trường
phổ thông, dạy học toán giúp cho học sinh hình thành kỹ năng tư duy, sáng tạo, lập luận
bằng ngôn ngữ toán học, do đó để giúp học sinh đam mê học Toán là một việc làm rất
khó và phải có phương pháp thích hợp ứng với trình độ học sinh từ đó phát huy tính
tích cực học Toán của học sinh .
− Trong xu hướng ngày nay thì việc học ngày càng quan trọng có ý nghĩa sống
còn của mỗi dân tộc nhưng học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều trò chơi dẫn đến các em
thường xuyên ít quan tâm đến việc học, thì làm sao để các em thấy hứng thú học nhất là
môn Toán là một việc không dễ dàng. Do có vấn đề trăn trở, bức xúc trước tình trạng
học sinh ngày càng không muốn hoặc không thích học mà trong đó có môn Toán nên
tôi mạnh dạng chọn đề tài “ Một số phương pháp giúp học sinh hứng thú học môn Toán
6” để rút ra kinh nghiệm cho bản thân và hỗ trợ tích cực phần nào trong quá trình dạy
học toán cho giáo viên và học sinh .
2) Mục đích :
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, giáo viên cần phải tích cực tìm

định lí.
+ Tổng hợp, đánh giá thông tin.
- Hứng thú đối với bộ môn: thực tế cho thấy hứng thú đối với bộ môn tỉ lệ
thuận với kết quả học tập của học sinh đối với bộ môn đó. Khi học sinh cảm
thấy yêu thích môn học thì động lực học tập của học sinh rất lớn giúp học sinh
vượt qua những khó khăn để lĩnh hội kiến thức. Các em sẽ luôn tìm tòi khám phá
thế với xung quanh trên cơ sở những kiến thức đã học, vận dụng có sáng tạo
những kiến thức đó để giải thích thế giới. Chính điều này nâng cao kiến thức cho
các em từ đó nâng cao kết quả học tập.
II) Cở sở lí luận:
Dạy cho học sinh sự say mê, sự tò mò, thấy được học Toán là một niềm
sung sướng, giờ học Toán là một giờ học vô cùng nhẹ nhàng.
Điều quan trọng nhất khiến một ai đó làm tốt một công việc chính là niềm
say mê giành cho công việc đó. Ngay cả trẻ con cũng biết điều đó: những món
nó thích thì nó ăn hăm hở, nhiệt tình, ngồi ăn cặm cụi, gù cả lưng, còn những
món mà nó không thích thì có bành mồm nó ra nhét vào thì nó cũng không chịu;
những bài hát nó thích thì không cần dạy nó cũng tự thuộc, còn không thì đố mà
bắt được nó hát. Thế có nghĩa là, khi đem đến cho học sinh sự say mê, cũng có
nghĩa là đem đến cho các em điều quan trọng nhất trong “công việc” chính của
các em, công việc mà rất nhiều em cho là nặng nề: việc học.
Ngược lại, sự sợ hãi việc mình phải làm khiến kết quả rất tồi tệ. Sợ việc
học sẽ làm cùn mòn đầu óc, làm chai lỳ tư duy. Một trong những điều tối kỵ
trong dạy học là khiến học sinh thấy sợ học. Nhưng sự say mê thì ngược lại, nó
sẽ khai phá khả năng tiềm tàng và sự thăng hoa trong con người ta hết mức có
thể.
Vấn đề là làm sao để tạo được sự say mê. Câu trả lời nằm ở hai chữ: “Tò
mò”.
Sự tò mò thúc đẩy con người ta tìm tòi hiểu biết, làm cho não tiếp thu
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 2
kiến thức và khám phá thế giới nhanh hơn. Khi tò mò tức là trong đầu đặt ra các

học, tạo niềm say mê, hứng thú và sự thoải mái trong giờ học, ấy là đã nắm chắc
50% phần chiến thắng trong công cuộc giảng dạy môn học đầy gian khổ và vinh
quang này.
III) Cơ sở pháp lí:
Điều 2. Mục tiêu giáo dục ( Luật GD 2005 )
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Điều 3. Tính chất, nguyên lý giáo dục ( Luật GD 2005 )
1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 3
dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác ư Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng.
2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo
dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Điều 5. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục ( Luật GD 2005 )
1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện
đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và
phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.
2. Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Điều 6. Chương trình giáo dục ( Luật GD 2005 )
1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến
thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức
tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn

khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế ư xã hội.
3. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ
biến khoa học giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây
dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Điều 27. Mục tiêu của giáo dục phổ thông ( Luật GD 2005 )
1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
3. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học
phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát
triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông
và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện
phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Điều 28. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông ( Luật GD
2005 )
1. Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản,
toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp
với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần
thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết

- Trường nằm ở địa bàn vùng sâu nên học sinh nghỉ học nhiều, chất lượng
học sinh không đồng đều..
- Ít được tiếp xúc với các tiết giảng dạy và SKKN của giáo viên giỏi.
II) Thực trạng và giải pháp giúp học sinh hứng thú học môn Toán:
1) Thực trạng :
- Học sinh lớp 6 là năm học đầu tiên mà học sinh được tiếp cận với nhiều giáo
viên trong cùng một năm học, cộng thêm học sinh thường có tâm lí môn Toán thường
khô khan, khó tiếp thu; bên cạnh đó giáo viên chỉ quan tâm làm thế nào để hoàn thành
tiết dạy mà không quan tâm đến sự tiếp nhận của học sinh, cũng không có thời gian để
theo dõi quá trình học tập của từng học sinh … do đó phương pháp dạy học của giáo
viên là rất quan trọng, từ đó giáo viên cần phải tìm ra cho mình những biện pháp thích
hợp để tạo cho học sinh sự hứng thú khi học môn Toán .
- Nhiều giáo viên bộ môn cho rằng môn mình là quan trọng nên yêu cầu học sinh
rất nhiều dẫn đến các em không có thời gian suy nghĩ mà chỉ có thời gian chép dần dần
các em đuối sức và không theo kịp.
- Do trường vùng sâu nên việc đi lại rất khó khăn nên thời gian đi học của các
em chiếm khá nhiều và sự quan tâm, hướng dẫn của gia đình rất ít thậm chí không có.
2) Nội dung và biện pháp giải quyết:
Trong qua trình dạy Toán, ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc
trưng bộ môn, theo bản thân tôi thì với học sinh THCS nhất là học sinh lớp 6 giáo viên
cần đặc biệt quan tâm đến một số phương pháp sau để kích thích niềm đam mê học
Toán của học sinh.
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 7
Phương pháp 1: Khái quát hoá, đặc biệt hóa:
Khái quát hoá là dùng trí óc tách ra cái chung trong các đối tượng, sự kiện hoặc
hiện tượng. Muốn khái quát hóa, thường phải so sánh nhiều đối tượng, hiện tượng, sự
kiện với nhau.
Đối với học sinh khối 6, đây là một vấn đề khó nhưng nếu giáo viên tập cho học sinh
suy luận thì học sinh cảm thấy bản thân mình được khám phá toán học ngay cả đối với
học sinh yếu, trung bình

3
+ 3
3
+ 4
3
( = 100 )
Từ bài toán này có thể kích thích cho học sinh tự khái quát bài toán trên : “tổng có
dạng : 1
3
+ 2
3
+ 3
3
+ 4
3
+ …. + n
3
là số chính phương “
Ngoài bài toán trên giáo viên có thể đưa thêm vào bài toán : các tổng sau có phải là số
chính phương:
1 = 1 = 1
2
1 + 3 = 4 = 2
2
1 + 3 + 5 = 9 = 3
2

1 + 3 + 5 + 7 = 16 = 4
2


(1+2)
2
 1
2
+ 2
2
3
2
 1 + 3 + 5 3
3
 6
2
– 3
2
(2+3)
2
 2
2
+ 3
2

4
3
 10
2
– 6
2

sau khi giải xong bài toán này học sinh có thể dễ dàng tự khái quát dưới sự hướng dẫn
của giáo viên

Ta có thể khái quát hoá : số chẵn = số lẻ + số lẻ
Ta cũng có thể khái quát hoá :
số chẵn lớn hơn 4 = số nguyên tố lẻ + số nguyên tố lẻ .
Cả hai điều khái quát hoá trên là đúng. Nhưng điều khái quát háo thứ nhất là tầm
thường, còn điều khái quát thứ hai là rất sâu sắc.
Trong quá trình dạy “ các dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9”, dấu hiệu chia hết cho
10 học sinh đã nắm khá rành. Vậy còn dấu hiệu chia hết cho 4, 6, 7, 8, 11, 12 thì sao, ta
có thể nhận biết chúng hay không? do đó khi có thời gian giáo viên cũng nên giới thiệu
chúng để học sinh cảm thấy thỏa mãn với thắc mắc của bản thân đồng thời tăng kích
thích cho học sinh.
* Dấu hiệu chia hết cho 4:
Một số chia hết cho 4 khi và chỉ khi hai chữ số cuối tạo thành một số chia hết
cho 4 (ví dụ số 567 896)
* Dấu hiệu chia hết cho 6:
Một số chia hết cho 6 khi và chỉ khi nó là số chẵn và chia hết cho 3 (ví dụ số 36
912) hoặc số chia hết cho 2 và cho 3 thì chia hết cho 6.
* Dấu hiệu chia hết cho 8:
Một số chia hết cho 8 khi và chỉ khi ba chữ số cuối tạo thành một số chia hết cho
8 (ví dụ số 12336)
* Dấu hiệu chia hết cho 12:
Một số chia hết cho 12 khi và chỉ khi nó chia hết cho 3 và 4 (ví dụ số 81936)
Trong sách Toán 6 thường có rất nhiều bài toán đố, mà thường thì trong quá
trình dạy giáo viên ít quan tâm hoặc không quan tâm đến dạng toán này, nếu có thì giáo
viên cũng đưa ngay kết quả cho học sinh. Như vậy bản thân học sinh chưa được khám
phá về điều đặc biệt này, đó cũng là lí do làm cho học sinh giảm hứng thú học Toán .
Hãy để cho học sinh tự tìm tòi suy nghĩ kết quả sẽ như thế nào ?
Ví dụ 6: Khi dạy về phân số, ở SGK/ 37 ( Toán 6 – Tập 2 ) có bài 72:
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 9
Đố: Có những cặp số mà khi nhân chúng với nhau hoặc cộng chúng với nhau đều được
cùng một kết quả.

tự.
Rõ ràng : còn có những cặp phân số khác cũng có tính chất ấy như
3
8

5
8
3
5

2
5
Từ đó giáo viên có thể gợi ý để rút ra khái quát chung, học sinh dễ dàng có nhận xét :
“nếu hai phân số có tử bằng nhau và tổng của hai mẫu đúng bằng tử thì tích và tổng
của chúng bằng nhau”.
Ngoài ra, giáo viên có thể cho học sinh thấy “ điều lạ ở phân số”
(1) Dùng chín chữ số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 có thể lập những phân số mà giá
trị bằng 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 .
Chẳng hạn:
2
6729
13458
=

3
5823
17469
=
4
3942

9
10647
95823
=
9
06381
57429
=
9
06471
58239
=
9
108638
95742
=
9
08361
75249
=
(3) Một vài cặp số có hai chữ số lại có tính chất đặc biệt là : “tích hai cặp số
đo không đổi nếu trong mỗi thừa số ta thay thứ tự các chữ số” .
Chẳng hạn:
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 10
12 . 42 = 21. 24 ( = 504 )
12 . 63 = 21 . 36 ( = 756 )
12 . 84 = 21 . 48 ( = 1 008 )
13 . 62 = 31 . 26 ( = 806 )
23 . 96 = 32 . 69 ( = 2 208 )
24 . 63 = 42 . 36 ( = 1 512 )






=
5
1
95
19
?
Phân số như
5
1
95
19
=
có dạng
( )
ca
c
a
cb
ba
≠=
+
+
10
10


==
==
=
=
SKKN Toán 6 năm học 2009 – 2010 Trang 11
Phương pháp 2: Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học môn Toán
Để thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, điểm xuất phát là tạo ra tình huống
có vấn đề, tốt nhất là tình huống gây được cảm xúc và làm cho học sinh ngạc nhiên.
Dưới đây là một số cách thường dùng để tạo ra các tình huống có vấn đề.
Các cách thường dùng:
1) Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn.
2) Lật ngược vấn đề.
3) Xem xét tương tự.
4) Khái quát hóa.
5) Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới.
6) Nêu một bài toán mà việc giải quyết cho phép dẫn đến kiến thức mới.
7) Tìm sai lầm trong lời giải.
Các ví dụ:
1) Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn.
Ví dụ 1: Hình thành quy tắc cộng hai số nguyên khác dấu
Một em bé đang đứng ở khoảng giữa của một cầu thang. Nếu quy ước lên 2 bậc viết
là +2, xuống 3 bậc viết là -3. Hãy nêu nhận xét về số bậc lên xuống của em bé trong các
trường hợp sau:
1. Lên 2 bậc rồi lên tiếp 3 bậc.
2. Xuống 2 bậc rồi xuống tiếp 3 bậc.
3. Lên 2 bậc rồi xuống 2 bậc.
4. Lên 2 bậc rồi xuống 3 bậc.
Từ đó dẫn đến việc phát hiện ra quy tắc cộng hai số nguyên khác dấu.
Ví dụ 2: Hình thành quy tắc chuyển vế
Quan sát lời giải sau:

5−

8
10

có bằng nhau không và làm thế nào để biết điều đó?
 Đó chính là nội dung của bài học hôm nay!

Ví dụ 2: Hình thành khái niệm phép trừ
Tình huống:
Xét xem có số tự nhiên x nào mà
a) 2 + x = 5 hay không?
b) 6 + x = 5 hay không?
Học sinh tìm giá trị của x:
 Ở câu a, tìm được x = 3
 Ở câu b, không tìm được giá trị của x.
Nhận xét: ở câu a ta có phép trừ: 5 – 2 = 3
Khái quát và ghi bảng:
Cho hai số tự nhiên a và b, nếu có số tự nhiên x sao cho b + x = a thì có phép
trừ a – b = x.
Ví dụ 3: Hình thành khái niệm phép chia hết (dạy tương tự khái niệm phép trừ)
Tình huống:
Xét xem có số tự nhiên x nào mà
a) 3.x = 12 hay không ?
b) 6.x = 12 hay không ?
Học sinh tìm giá trị của x:
 Ở câu a, tìm được x = 4
 Ở câu b, không tìm được giá trị của x.
Nhận xét: ở câu a ta có phép chia hết: 12 : 3 = 4
Khái quát và ghi bảng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status