1
LỜI MỞ ĐẦU
i. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên
giác độ kinh tế có nghĩa là mở rộng quan hệ thương mại của Việt
Nam với các nước trên thế giới. Khối lượng hàng hoá và dịch vụ
xuất nhập khẩu sẽ gia tăng không chỉ về quy mô mà còn đa dạng
hoá về chủng loại. Đây thực sự là những thách thức rất lớn đối với
ngành Hải quan nước ta trong việc hạn chế trốn lậu thuế xuất - nhập
khẩu. Nhận thức được điều đó, trong thời gian vừa qua, Hải quan
Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lức cố gắng và đạt được những thành
công rất đáng ghi nhận. Vừa thực hiện cải cách hành chính, đơn
giản hóa thủ tục thông quan song vẫn nâng cao hiệu quả quản lý,
kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu và và đảm bảo nguồn thu từ thuế
xuất nhập khẩu cho Ngân sách Nhà nước. Mặc dù vậy, so với những
yêu cầu về đổi mới và hiện đại hóa nhằm đáp ứng với nhiệm vụ
chính trị của ngành trong giai đoạn mới, Hải quan nước ta vẫn cần
phải được tiếp tục củng cố và hoàn thiện trên nhiều mặt hoạt động,
trong đó trọng tâm và cũng là khâu “xung yếu” nhất để hạn chế gian
lận thuế nhập khẩu được xác định là hoạt động kiểm tra sau thông
quan – hoạt động hậu kiểm, sẽ được chú trọng và ưu tiên đặc biệt.
Tại Cục Hải quan tỉnh Đồng Tháp, hoạt động kiểm tra sau
thông quan đã được triển khai thí điểm từ 2006 và đến nay đã chính
thức đi vào hoạt động với tên gọi là Chi cục kiểm tra sau thông quan
và được hoàn thiện không chỉ về mô hình tổ chức hoạt động mà còn
2
cả về quy trình nghiệp vụ. Thực tế hoạt động trong thời gian qua,
Đồng Tháp.
Thứ tư, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt
động kiểm tra sau thông quan theo hướng chuyên nghiệp, minh
bạch, hiệu quả góp phần chống thất thu thuế nhập khẩu tại Cục Hải
quan tỉnh Đồng Tháp.
iii.Phạm vi nghiên cứu
Về mặt lý luận: Có nhiều biện pháp để chống thất thu thuế
nhập khẩu, song luận văn đi sâu nghiên cứu về hoạt động kiểm tra
sau thông quan, trên cơ sở áp dụng mô hình được giới thiệu bởi Tổ
chức Hải quan thế giới (WCO) và học tập các mô hình đang được
áp dụng ở các nước tiên tiến trên thế giới như là cơ sở lý luận.
Về mặt thực tiễn: Luận văn chọn điển hình nghiên cứu là Cục
Hải quan Đồng Tháp và tình hình hoạt động kiểm tra sau thông
quan, tình hình gian lận thương mại nhập khẩu trên địa bàn tỉnh
trong giai đoạn 2008 - 2010 để nghiên cứu.
iv. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng trong
luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp so sánh và diễn dịch, phương pháp điển hình hoá, phương pháp
thống kê số liệu và phương pháp chuyên gia.
Sử dụng mô hình hoạt động kiểm tra sau thông quan của các
nước như những cơ sở so sánh và phân tích thực trạng, đánh giá
nhận xét cũng như nghiên cứu và đề xuất các giải pháp.
4
v. Cấu trúc của Luận văn
Cấu trúc của luận văn, ngoài phần tóm tắt, mở đầu, mục lục,
danh mục bảng biểu, danh mục các thuật ngữ viết tắt, kết luận, tài
hóa đã được nhập khẩu và vận chuyển qua cử khẩu, tức là đã được
thông quan.
Đối với nhiều nước đang phát triển, “kiểm tra sau thông quan”
vẫn còn là một vấn đề còn khá mới mẻ trong lĩnh vực nghiệp vụ
6
kiểm tra, giám sát hải quan, song ngay sau khi được hình thành,
kiểm tra sau thông quan đã được coi là một mắt xích quan trọng
trong quy trình các hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm
bắt buộc chủ thể kê khai hải quan tuân thủ các qui định của pháp
luật. Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được hình thành và hoàn
thiện dần cùng với việc hình thành và hoàn thiện khoa học về quản
lý rủi ro trong hoạt động của các cơ quan hải quan trên thế giới
trong những năm 70 của thế kỷ 20. Cơ sở pháp lý đầu tiên, bao gồm
những quy định cơ bản của kiểm tra sau thông quan là Công ước
Kyoto về “đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan”, ngày
18/5/1973 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 25/9/1974. Tiếp theo, đến
những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20, cùng với quá trình nghiên
cứu áp dụng các biện pháp quản lý hải quan mới tại một số nước,
nghiệp vụ kiểm soát sau thông quan mới được Tổ chức Hải quan
Thế giới đưa vào chương trình hoạt động và đặc biệt đến tháng
9/1999, sau khi Công ước Kyoto được sửa đổi bổ sung thì kiểm tra
sau thông quan mới chính thức được ghi nhận và đưa vào Phần phụ
lục tổng quát, Chương VI. Từ đó, WCO đã khuyến nghị các nước
thành viên tham gia nhanh chóng hoàn chỉnh và tiến tới áp dụng
rộng rãi hệ thống kiểm tra hàng hóa sau khi thông quan nhằm tạo
thuận lợi nhất cho hoạt động thương mại, đồng thời nhấn mạnh rằng
kiểm tra sau thông quan là một bộ phận thuộc hệ thống tổng thể bao
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động thương mại quốc
tế”.
8
Ngoài sự khác biệt về một vài thuật ngữ chuyên môn sử dụng,
các quan niệm trên đề thống nhất về cách hiểu và bản chất của kiểm
tra sau thông quan. Những điểm quan trọng nhất cần được nhấn
mạnh bao gồm: (1) Kiểm tra sau thông quan là kiểm tra hải quan
sau khi hàng hóa nhập khẩu đã được nhập qua cửa khẩu hải quan,
có thể được chủ thể nhập khẩu phân phối hoặc sử dụng; (2) Cơ sở
của kiểm tra là chứng từ về nhập khẩu, phân phối và sử dụng hàng
hóa sau khi nhập khẩu, các định mức kinh tế kỹ thuật và các quy
định liên quan; (3) Kiểm tra thông quan vì vậy, giống như kiểm toán
– có thể quan niệm là kiểm toán của ngành Hải quan đối với các chủ
thể nhập khẩu nhằm ngăn ngừa và hạn chế gian lận thương mại, truy
thu những khoản tiền đã trốn, lậu thuế khi nhập khẩu hàng hóa và
góp phần tăng cường quản lý Nhà nước về Hải quan.
1.1.2 Mô hình tổ chức và chức năng của kiểm tra sau thông quan
Theo “Tài liệu hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan” của
ASEAN, Cơ quan Hải quan các nước nên tiến hành kiểm tra tính
khả thi của việc thành lập một đơn vị chuyên trách về kiểm tra sau
thông quan tại trung ương (Tổng cục Hải quan) hay các đơn vị trực
thuộc (Cục Hải quan). Tuỳ thuộc vào các điều kiện về nguồn nhân
lực và cơ sở vật chất hiện có, bao gồm: số lượng cán bộ đã được đào
tạo nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, sự phân bổ ngân sách, trang
thiết bị kỹ thuật, v.v... Tuy nhiên thông thường đơn vị kiểm tra sau
thông quan trước tiên sẽ được thành lập từ cấp trung ương (Tổng
cục Hải quan) và sau đó mở rộng xuống các đơn vị ở địa phương
doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan,
bao gồm kiểm tra hồ sơ, sổ sách và các chứng từ liên quan của đối
tượng hàng hoá nhập khẩu sau thông quan và các đơn vị hải quan
liên quan (Sơ đồ 1.2).
10
Tổng cục HQ
Cục trưởng Cục PCA
Cục trưởng HQ
địa phương
Đơn vị phối hợp
* Lập kế hoạch KTSTQ
Thực hiện KTSTQ
Liên lạc với các đơn vị
khác...
Đội kiểm tra
Đội thông tin
Đơn vị KTSTQ
địa phương
Đội kiểm tra
Đội thông tin
tượng kiểm tra và với các đơn vị hải quan chức năng khác. Khi kết
thúc, phải làm báo cáo để đảm bảo rằng mọi dấu hiệu và các vấn đề
liên quan khác được chia sẻ và thảo luận đầy đủ giữa đối tượng
kiểm tra và cán bộ Kiểm tra sau thông quan. Bản báo cáo sau đó sẽ
được gửi đến đối tượng kiểm tra và cán bộ giám sát việc Kiểm tra
sau thông quan. Thêm vào đó, việc phối hợp bằng cách chia sẻ
thông tin với các cơ quan khác như cơ quan Thuế nội địa, Kho bạc,
Ngân hàng sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện Kiểm tra sau
thông quan có hịêu quả và hoàn thiện hơn, đặc biệt là trong bước
lựa chọn đối tượng Kiểm tra sau thông quan.
Sau đây là nội dung chi tiết của từng bước trong hoạt động
12
chuẩn mực của ASIAN:
Bước 1: Lựa chọn đối tưọng kiểm tra là bước xác định đối
tượng kiểm tra (hàng hoá xuất - nhập khẩu của doanh nghiệp) dựa
trên cơ sở hoạt động của Bộ phận thu thập thông tin của Chi cục
kiểm tra sau thông quan. Các tác nghiệp cụ thể trong bước này bao
gồm:
- Lập hồ sơ về đối tượng kiểm tra
- Đánh giá rủi ro
- Lựa chọn đối tượng kiểm tra
Để thực hiện tốt công việc của bước 1, thông tin liên quan đến
toàn bộ đối tượng kiểm tra phải được thu thập và xử lý một cách kịp
thời chính xác và hiệu quả và chỉ có như vậy thì đối tượng kiểm tra
được lựa chọn mới xác đáng.
Bước 2: Tiến hành kiểm tra là công việc của Bộ phận kiểm
tra trực tiếp tại doanh nghiệp. Tại bước 2, các nghiệp vụ chủ yếu
nhiều chủng loại hoặc đóng gói không đồng nhất
- Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất
khẩu theo quy định của pháp luật
- Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng được miễn thuế xuất
khẩu, ngoài các giấy tờ nêu trên, phải có thêm:Giấy báo trúng thầu
hoặc giấy chỉ định thầu kèm theo hợp đồng cung cấp hàng hoá,
trong đó có quy định giá trúng thầu hoặc giá cung cấp hàng hoá
không bao gồm thuế xuất khẩu; Giấy tờ khác chứng minh hàng hóa
14
xuất khẩu thuộc đối tượng miễn thuế; Bảng kê danh mục, tài liệu
của hồ sơ đề nghị miễn thuế.
Đối với hàng hóa nhập khẩu, bộ hồ sơ hải quan bao gồm:
- Tờ khai hải quan;
- Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Hóa đơn thương mại
- Vận đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương
đương theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp cụ thể dưới đây, người khai hải
quan nộp thêm, xuất trình các chứng từ sau:
- Bản kê chi tiết hàng hoá đối với hàng hoá có nhiều chủng
loại hoặc đóng gói không đồng nhất
- Giấy đăng ký kiểm tra hoặc giấy thông báo miễn kiểm tra
hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của tổ chức kỹ thuật được chỉ
định kiểm tra chất lượng, của cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm,
cơ quan kiểm dịch (sau đây gọi tắt là cơ quan kiểm tra) đối với hàng
hóa nhập khẩu thuộc danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về
chất lượng, về an toàn thực phẩm; về kiểm dịch động vật, kiểm dịch
Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan là hoạt
động thường xuyên của cơ quan hải quan nhằm đánh giá việc chấp
hành pháp luật về thuế và pháp luật về hải quan của doanh nghiệp.
Khi kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan, cơ quan hải
quan không ban hành quyết định kiểm tra.
16
Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan được thực
hiện theo kế hoạch đã được xác định cho từng giai đoạn, của từng
đơn vị hoặc khi có thông tin, dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan,
pháp luật về thuế liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu. Hoạt động
này được thực hiện bằng việc thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý
thông tin từ các cơ sở dữ liệu của ngành về doanh nghiệp, mặt hàng,
loại hình xuất nhập khẩu được kiểm tra. Nếu chưa đủ cơ sở để đánh
giá, kết luận thì sẽ thực hiện: Kiểm tra hồ sơ hải quan và các chứng
từ, tài liệu liên quan đang lưu giữ tại các đơn vị hải quan làm thủ tục
cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan; Yêu cầu doanh
nghiệp giải trình để làm rõ các vấn đề chưa rõ hoặc nghi vấn; Xác
minh tại các tổ chức, cá nhân liên quan để làm rõ các vấn đề chưa rõ
hoặc nghi vấn; Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng
hóa nếu cần thiết và còn điều kiện.
Đối với những trường hợp có yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật
chuyên ngành, tự mình không đủ khả năng, điều kiện kết luận thì
đơn vị thực hiện việc kiểm tra sau thông quan quyết định trưng cầu
giám định tại các cơ quan, tổ chức giám định chuyên ngành. Kết
luận của cơ quan, tổ chức giám định là căn cứ để kiểm tra sau thông
quan kết luận vụ việc;
Kết thúc quá trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan, công
lên trong từng giai đoạn để lựa chọn những doanh nghiệp, loại hình,
18
loại mặt hàng xuất nhập khẩu điển hình để thực hiện kiểm tra tại trụ
sở doanh nghiệp.
Thứ ba, kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp khi
có dấu hiệu doanh nghiệp vi phạm pháp luật hoặc có khả năng vi
phạm pháp luật về thuế, pháp luật về hải quan.
Nội dung kiểm tra sau thông quan bao gồm:
- Kiểm tra tính đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan;
- Kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính
xác của việc khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu,
được hoàn;
- Kiểm tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về
thuế;
- Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra sau thông quan
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Cơ quan hải quan chỉ ra năm nhân tố chủ quan cơ bản ảnh
hưởng đến công tác kiểm tra sau thông quan:
- Về môi trường kiểm tra, kiểm soát được xây dựng trong toàn
bộ hoạt động của doanh nghiệp và được lãnh đạo cấp cao nhất ủng
hộ (doanh nghiệp xuất nhập khẩu chân chính);
- Sự đánh giá có hiệu quả về rủi ro không tuân thủ trong nội
bộ doanh nghiệp và các đơn vị kinh doanh có liên quan, thông qua
hoạt động và trong tất cả các bộ phận;
Chắc chắn rằng cuộc kiểm tra sau thông quan (tại trụ sở hải
quan hay tại trụ sở doanh nghiệp) sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dù ít hay nhiều. Những kiểm
tra viên hải quan có thể sẽ yêu cầu cung cấp nhiều thứ theo qui định
hiện hành. Một trong những điều quan trọng là phải đạt được sự
thống nhất giữa hai bên (doanh nghiệp và hải quan) về lộ trình dự
kiến của cuộc kểm tra. Việc kiểm tra nhanh hay chậm sẽ phụ thuộc
vào qui mô hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, mức độ chuẩn
bị của công ty cho việc đánh giá, mức độ hợp tác và năng lực của
các bên, và tất nhiên cả những yếu tố khách quan khác để đạt tới sự
kiểm soát tốt hơn.
Về phía doanh nghiệp, với sự chuẩn bị tốt trong và sau quá
trình kiểm tra sau thông quan, doanh nghiệp sẽ thu được những lợi
ích « nhìn thấy » rất thiết thực:
- Là cơ hội tự đánh giá nhằm tối ưu hóa công tác quản lý
doanh nghiệp;
- Là cơ hội để liên kết những quy trình, những bộ phận, cá
nhân và cả thông tin trong nội bộ doanh nghiệp (để thỏa mãn những
yệu cầu xuất trình, chứng minh của cơ quan hải quan);
- Tự nhận biết và giảm thiểu những rủi ro trong việc tuân thủ
pháp luật, từ đó tránh những nguy cơ phải nhận những hậu quả pháp
lý tiêu cực;
- Vận dụng những biểu mẫu đánh giá của cơ quan hải quan
(một cách sáng tạo) vào viêc đánh giá nội bộ của chính doanh
nghiệp;
21
nhập khẩu.
Phương pháp tính thuế nhập khẩu được áp dụng ở hầu khắp
các nước trên thế giới như sau:
Số thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt
hàng thực tế nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với giá tính
thuế và thuế suất của từng mặt hàng ghi trong Biểu thuế tại thời
điểm tính thuế.
Trong trường hợp các mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì số
thuế nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực
tế nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với mức thuế tuyệt đối
quy định trên một đơn vị hàng hoá tại thời điểm tính thuế.
Tương ứng với những căn cứ xác định và phương pháp tính
thuế theo qui định cụ thể về quản lý xuất nhập khẩu của từng nước
theo từng thời kỳ, các biện pháp trốn lậu thuế nảy sinh dưới một số
hình thức cơ bản như sau :
Thứ nhất, gian lận về số lượng, trị giá hàng hóa nhập khẩu:
Lợi dụng việc kiểm tra trên thực tế mang tính xác suất đối với lượng
hàng hóa, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp đã khai báo số
lượng hàng hoá xuất, nhập khẩu thấp hơn so với số lượng thực tế để
giảm số tiền thuế phải nộp. Thí dụ: Doanh nghiệp nhập khẩu 10
con’t quần áo, khai báo số lượng 2.500bộ/con’t; Thực tế khi chuyển
23
luồng tờ khai từ miễn kiểm sang kiểm tra thực tế đã phát hiện số
lượng hàng là 3.000bộ/con’t. Hoặc Doanh nghiệp khai giảm thấp về
giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu thông quan nhằm giảm số tiền thuế
phải nộp. Các Quốc gia từng bước thực hiện việc xác định trị giá
theo Hiệp định trị giá GAT/WTO đối với hàng hóa nhập khẩu đến
đãi thuế, do việc khuyến khích đầu tư hoặc ưu đãi đối với một số
ngành nghề nên Chính phủ qui định ưu đãi về thuế nhập khẩu, thậm
chí có thể là miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu. Tương tự, trong một số
trường hợp đặc biệt khuyến khích xuất khẩu, một số hàng hoá khi
xuất khẩu cũng được miễn giảm thuế. Lợi dụng các chính sách miễn
giảm thuế đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu, doanh nghiệp lợi
dụng để “đưa” hàng hoá không đúng chủng loại vào “diện ưu đãi”
để được miễn giảm tức là gian lận thuế nhập khẩu. Thí dụ : Tại một
số nước đang phát triển, Chính phủ ưu đãi thuế nhập khẩu cho một
mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, nhưng khi nhập khẩu
doanh nghiệp đã đưa cả hàng trong nước đã sản xuất được để không
phải nộp thuế.
Thứ năm, gian lận thông qua chuyển đổi mục đích sử dụng
của hàng hoá nhập khẩu dựa trên cơ sở chính sách ưu đãi thuế nhập
khẩu của các loại hàng hóa với mục đích sử dụng khác nhau. Doanh
nghiệp nhập khẩu hàng hoá đã thực hiện hành vi gian lận thuế thông
qua việc tự “chuyển đổi” mục đích hàng hoá nhập khẩu khi kê khai
tờ khai hải quan nhằm giảm thiểu số tiền phải nộp thuế vào Ngân
sách Nhà nước. Tuy vậy, gian lận loại này chiếm tỷ trọng không cao
25
và rất dễ bị phát hiện do mỗi loại hàng hoá với những mục địch sử
dụng khác nhau đều có những đặc điểm mang tính chất đặc thù. Ví
dụ : Mỗi Quốc gia đều có những nghành công nghiệp trọng điểm
của mình nên thường có số thuế suất thuế nhập khẩu rất thấp hoặc
bằng không, nhưng do xu hướng các nhà sản xuất trên thế giới
thường sản xuất một mặt hàng thường sử dụng cho nhiều loại mục
đích khác nhau nên Doanh nghiệp lợi dụng khai sai mục đích sử