Đề cương ôn tập Ngữ văn 6 học kỳ I năm học 2014 2015 cực hay - Pdf 35

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN HKI LỚP 6A2
I. PHẦN TIẾNG VIỆT
1. TỪ VÀ CẤU TẠO CỦA TỪ TIẾNG VIỆT
- Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.
- Từ chỉ có một tiếng là từ đơn. Từ gồm 2 tiếng là từ phức. Những từ phức được tạo ra bằng cách
ghép các tiếng có quan hệ với nhau vê nghĩa được gọi là từ ghép. Những từ phức có quan hệ láy âm giữa
các tiếng được gọi là từ láy.
- Xác định từ đơn, từ ghép, từ láy trong câu sau: Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và
có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giầy.
- Các từ sau đây thuộc từ ghép hay từ láy? Nho nhỏ, khanh khách, khúc khích.
- Xác định từ ghép trong câu sau: Lang Liêu đã dâng lễ vật.
- Hãy tìm từ láy trong câu văn sau:“Dưới ánh trăng lấp lánh, dòng sông sáng rực lên, những con
sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát phẳng lì”.
2. TỪ MƯỢN
Xác định từ mượn trong các câu sau:
a. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng.
b. Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập.
3. NGHĨA CỦA TỪ
- Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ, …) mà từ biểu thị.
- Có thể giả thích nghĩa của từ bằng hai cách chính sau:
+ Trình bày khái niệm mà từ biểu thị.
+ Đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích.
- Xem bài tập 2, 3, 4 trang 36 SGK.
4. TỪ NHIỀU NGHĨA VÀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA TỪ
- Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa.
- Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa. Trong từ nhiều
nghĩa có nghĩa gốc và nghĩa chuyển.
5. DANH TỪ
- Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niêm, … Ví dụ: cái bàn, cô giáo, học sinh,
mưa, nắng, …




- Lượng từ là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật. Dựa vào vị trí trong cum danh từ, có thể
chia lượng từ thành hai nhóm: nhóm chỉ ý nghĩa toàn thể và nhóm chỉ ý nghĩa tập hợp hay phân phối. Ví
dụ: tất cả, những, …
- Tìm lượng từ trong các câu sau:
a. Tất cả học sinh 6a2 đều rất ngoan ngoãn.
b. Các em học sinh đang lao động.
c. Cuối cùng các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng. Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thết đãi những
kẻ thua trận.
8. CHỈ TỪ xx
- Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật, nhằm xác định vị trí của sự vật trong không gian hoặc
thời gian.
- Chỉ từ thường làm phụ ngữ trong cụm danh từ. Ngoài ra, chỉ từ còn có thể làm chủ ngữ hoặc trạng
ngữ trong câu.
- Tìm chỉ từ trong những câu sau. Xác định ý nghĩa và chức vụ của các chỉ từ ấy:
a. Từ đó, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng.
b. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các
phương.
c. Năm ấy, đến lượt Lí Thông nộp mình. Mẹ con hắn nghĩ kế lừa Thạch Sanh chết thay. Chiều hôm
đó, chờ Thạch Sanh kiếm củi về, Lí Thông dọn một mâm rượu thịt ê hề mời ăn rồi bảo:
- Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì cắt mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về.
9. ĐỘNG TỪ
- Động từ là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật.
- Đặt câu với động từ: lao động, học, chạy, …
- Xác định động từ trong các câu sau:
a. Phải đẻo cho cao, cho to thì cày mới dễ.
b. Anh mau đẻo cày to gấp đôi, gấp ba như thế này.
10. CỤM ĐỘNG TỪ xx
- Cụm động từ là loại tổ hợp từ do động từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. Ví dụ: đã đi

+ Diệt đại bàng cứu công chúa, cứu con vua thủy tề được tặng cây đàn.
+ Chữa khỏi bệnh căm cho công chúa.
+ Đánh bại 18 nước chư hầu đem lại hòa bình cho nhân dân.


- Bài học: phải biết giúp đỡ mọi người, sống hiền lành, nhân đức, …
c. Ý nghĩa: Thạch Sanh thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của những con
người chính nghĩa, lương thiện.
2. EM BÉ THÔNG MINH
a. Thể loại: Truyện cổ tích
b. Nội dung:
- Kiểu nhân vật: thông minh.
- Những thử thách đối với em bé:
+ Câu hỏi của viên quan: Trâu cày một ngày được mấy đường?
+ Câu hỏi của nhà vua: Nuôi làm sao để trâu đực đẻ được con? Làm ba cỗ thức ăn bằng một con chim
sẻ?
+ Câu hỏi của sứ thần: Làm cách nào để sâu được sợi chỉ qua con ốc vặn rất dài?
- Cách giải: Trí thông minh của em bé bộc lộ qua cách giải đố. Trong đó, em đã khéo léo tạo nên
những tình huống để chỉ ra sự phi lí trong những câu đố của viên quan, của nhà vua và bằng kinh nghiệm
làm cho sứ giặc phải khâm phục.
c. Ý nghĩa: Truyện đề cao trí khôn dân gian, kinh nghiệm đời sống dân gian. Tạo tiếng cười.
3. CÂY BÚT THẦN
a. Thể loại: Truyện cổ tích Trung Quốc.
b. Nội dung: Thể hiện quan niệm của nhân dân về mục đích của nghệ thuật chân chính. Ước mơ của
nhân dân về cuộc sống công bằng, hạnh phúc.
c. Ý nghĩa:
- Khẳng định tài năng, nghệ thuật chân chính phải thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân, chống lại kẻ
ác.
- Thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về công lí xã hội và những khả năng kì diệu của con
người.

a. Thể loại: Truyện cười
Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười
mua vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội.
b. Ý nghĩa: Truyện tạo tiếng cười hài hước, vui vẻ, phê phán những người hành động thiếu chủ kiến
và nêu lên bài học về sự cần thiết phải biết tiếp thu có chọn lọc ý kiến của người khác.
10. LỢN CƯỚI, ÁO MỚI
a. Thể loại: Truyện cười.


b. Ý nghĩa: Truyện chế giễu những người có tính hay khoe của – một tính xấu khá phổ biến trong xã
hội.
11. CON RỒNG CHÁU TIÊN
a. Thể loại: Truyền thuyết
Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá
khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự
kiện và nhân vật lịch sử được kể.
b. Nội dung và ý nghĩa: Truyện kể về nguồn gốc dân tộc con Rồng cháu Tiên, ngợi ca nguồn gốc cao
quý của dân tộc và ý nguyện đoàn kết gắn bó của dân tộc ta.
12. BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY
a. Thể loại: Truyền thuyết
b. Nội dung và ý nghĩa: suy tôn tài năng, phẩm chất con người trong việc xây dựng đất nước.
13. THÁNH GIÓNG
a. Thể loại: Truyền thuyết
b. Nội dung và ý nghĩa: ca ngợi hình tượng người anh hùng đánh giặc tiêu biểu cho sự trỗi dậy của
truyền thống yêu nước, đoàn kết, tinh thần anh dũng, kiên cường của dân tộc ta.
14. SƠN TINH, THỦY TINH
a. Thể loại: Truyền thuyết
b. Nội dung và ý nghĩa: giải thích hiện tượng mưa bão, lũ lụt xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ thuở các vua
Hùng dựng nước; đồng thời thể hiện sức mạnh, ước mơ chế ngự thiên tai, bảo vệ cuộc sống của người
Việt cổ.


Rồi bà cầm chiếc quạt phe phẩy cho em mà hát :
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Và không biết từ bao giờ, nhưng bài ca dao như thế đã đi vào tâm hồn em như suối nguồn cảm xúc, biết
bao đạo lí làm người.
Năm em học lớp một, có lần bị bạn cùng lớp bắt nạt, em chạy về vừa khóc thút thít với bà. Bà vội lấy tay
lau nước mắt cho em vừa ôm em vào lòng dỗ dành:
-Thôi, nín đi bà cho kẹo
Em đón lấy chiếc kẹo của bà. Vị ngọt của kẹo thấm vào đầu lưỡi. Em cũng nhận ra vị ngọt của tình
thương đang thấm dần vào trái tim nhỏ bé của em.
Tuy bây giờ bà em đã mất, nhưng hình ảnh của bà sẽ mãi in đậm trong tâm trí em. Trong từng hành động,
suy nghĩ, em luôn ghi nhớ những gì mà bà đã dặn dò, dạy bảo.
Những bài văn hay lớp 6 chủ đề Kể lại một lần em mắc lỗi
Trong cuộc đời mỗi người chúng ta ai cũng đã từng mắc lỗi. Tuy phạm lỗi nhưng quan trọng là chúng ta
có biết nhận và sửa lỗi hay không. Tôi cũng đã từng chưa học bài. Dù đó chỉ là lỗi nhỏ nhưng nó vẫn để
lại cho tôi biết bao sự ân hận, xấu hổ và cũng làm cho thầy cô, ba mẹ rất buồn và thất vọng về tôi.
Hôm ấy là ngày thứ hai nắng đẹp. Vì cuối tuần phải học tăng tiết nên chúng tôi ai cũng cảm thấy mệt mỏi.
Vừa về đến nhà, tôi đặt ngay cái cặp xuống đất rồi dán mắt vào máy vi tính từ sáng đến tối mịt, quên cả ăn
cơm cùng gia đình. Chơi chán. Tôi nghĩ:"Thứ hai ắt hẳn cô sẽ kiểm tra bài cũ. Thôi, bây giờ mình nên học
bài thôi! "Tôi vừa lấy sách vở ra thì cái Lan - bạn hàng xóm của tôi sang rủ đi xem hội chợ. Vì thích nên
tôi bỏ học bài và đi theo cô bạn. Tối về tôi rất mệt và ngủ luôn đến sáng thứ bảy. Hôm đó, chị họ và bác
tôi lên chơi. Tôi nói chuyện, đi chơi với chị rất vui vẻ. Khi bác và chị ra về cũng là lúc tối chủ nhật. Tôi
mở sách ra học. Nhưng sao mắt tôi cứ díp lại thế này. Tôi nghĩ rằng cô giáo sẽ không gọi lên bảng vì tôi
đã có rất nhiều điểm cao rồi mà. Thế là tôi yên tâm ngủ một mạch tới sáng.
"Tùng tùng tùng"- tiếng trống bắt đầu tiết Văn của cô Lam đã vang lên. Khi cô vào lớp, tim tôi đập thình
thịch. Cô lặng lẽ mở sổ điểm ra rồi liếc nhìn tên thằng Tùng, cái Mai. Bất ngờ, cô đóng sổ lại và nói:
-Hôm nay chúng ta sẽ kiểm tra 15' các con lấy giấy ra đi!
Sau khi nghe cô nói, tôi rất hoang mang và lo sợ. Cô bắt đầu chép đề lên bảng. Các bạn cặm cụi làm bài.
Trong lớp không có tiếng gì ngoại trừ tiếng bút các bạn làm bài. Cuối giờ, tôi nộp cho cô tờ giấy trắng.

Tôi nhận thấy mẹ buồn lắm! Chắc bây giờ mẹ đang thất vọng về tôi - Tôi nghĩ. Thế nhưng mẹ vẫn gắng
mỉm cuời:
-Thôi, lần sau con gỡ điểm nhé!
Tôi vui vẻ nhưng vẫn thấy ân hận về việc làm của mình!
Tôi rất vui vì được mẹ và cô tha thứ. Sau sự việc này, tôi thấy mình cần chú ý đến việc học hơn. Dù có
những cuộc chơi vui đến mấy thì tôi cũng phải học bài. Dù được mọi người tha lỗi nhưng đến bây giờ tôi
vẫn cảm thấy xấu hổ và ân hận. Tôi hứa sẽ chăm học hơn để mẹ có thể hãnh diện về tôi, thầy cô và bạn bè
sẽ mến phục một lớp trưởng vừa gương mẫu, vừa học giỏi như tôi. Tôi sẽ không làm mọi người thất vọng
thêm một lân nữa.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status