Bộ đề văn thuyết minh văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 học kỳ I - Pdf 35

ĐỀ 1: Giới thiệu về nhà thơ Chính Hữu và hình ảnh người lính cách mạng trong bài
thơ “Đồng Chí”.
Chính Hữu tên khai sinh là Trần Đình Đắc (1926- 2007) quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm thơ từ
năm 1947 và hầu như chỉ viết về đề tài người lính và hai cuộc chiến tranh. Tập thơ “Đầu súng trăng treo” (1966) là tác
phẩm chính của ông. Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn
lọc, hàm súc. Năm 2000 ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Bài thơ đồng chí
được sáng tác đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông

. “Đồng chí” là một trong những
tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học kháng chiến chống
Pháp.
1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc

Bài thơ được mở ra bằng những câu thơ tự sự, trữ tình,nghe như một lời bộc
bạch chân tình để lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí.
“ Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Mở đầu bài thơ, hình ảnh về hai miền quê như hiện lên trước mắt chúng ta. “Anh”
xuất thân từ vùng ngập mặn, khó cày cấy vì phèn chua. “Tôi” ra đi từ miền sỏi đá khô cằn
khó mà có thể trồng trọt. Có lẽ, sự khó khăn về hoàn cảnh đã hình thành nên tình cảm
đồng đội của hai người chăng? Đúng vậy, cùng chung cảnh ngộ với nhau, dường như hai nhân vật đã hình
thành nên sợi dây tình cảm vô hình đang dần gắn kết hai người lại với nhau vì họ đều là những người nông dân cầm súng
bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Hai trái tim giản dị, chân chất cùng chung nhịp đập từ đây.
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
Hai nhân vật “anh” và “tôi” từ phương trời nao nhưng lại cùng chung lí tưởng, mục đích với nhau nên đã tạo ra
mối nhân duyên thật đáng trân trọng. Hình ảnh “súng bên súng, đầu sát bên đầu” sao lại thân thuộc và họ rất gần gũi
bên nhau. Cây súng – người bạn chiến đấu của họ đang cạnh nhau, đầu họ sát kề nhau như chút gì đó san sẻ cho nhau,
như chút gì đó trao nhau niềm tin. Bức tranh ấy thật sống động làm sao khi tư thế sẵn sàng chiến đấu trong việc thi hành

quốc, vì quê hương thì đâu ai còn giữ riêng cho mình một nỗi niềm. Hình tượng “giếng nước, gốc đa” được tác giả nhân
hóa một cách sinh động nhưng đó lại là hình ảnh thật lắng động. Giếng nước có mẹ hay chị người chiến sĩ hay đến múc
nước dùng cho sinh hoạt trong gia đình, gốc đa nơi có người cha đang dẫn trâu về, cây đa đầu làng như đang chờ hình
bóng của ai đó hay người lính chăng? Và biết đâu, trái tim một cô gái đang ngóng chờ anh chiến sĩ nơi gốc đa ấy thì sao?
Quê hương vẫn đang là hậu phương cho “anh” có thể vững tin mà thi hành nhiệm vụ của mình. Sự sẻ chia của hai nhân
vật “anh và tôi” thật lắng sâu.


Tình đồng chí đồng đội không đừng lại ở đó, đó còn là sự quan tâm, chăm sóc lẫn
nhau. Từng cơn sốt đi qua sẽ là cơ hội cho tình cảm của họ được gắn bó hơn cả. “Anh với
tôi biết từng cơn ớn lạnh./ Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.” Họ đã trải qua cùng nhau
từng cơn khốn khó của căn bệnh sốt rét kia mà khi ấy vẫn chưa có thuốc trị dường như sự
chân thành từ trái tim đã kết nối hai tâm hồn với nhau. Có lẽ lúc nguy nan sẽ là lúc mỗi
con người sẽ biết được giá trị của tình cảm là gì. Vừng trán ướt dẫm mồ hôi vì cơn sốt
nhưng vẫn còn cái tình đồng chí nơi đây. Thật đáng trân trọng biết bao bạn nhỉ?
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Trong rừng lạnh biết mấy thế mà áo “anh” lại rách vai, quần “tôi” có vài mảnh vá. Có lẽ đây là chút gì của sự
đồng cảm với nhau giữa hai người lính. Áo “anh” rách thì đã sao khi quần”tôi” cũng chắp vá. Sự thiếu thốn về vật chất
nhưng chẳng ngăn tinh thần của các anh. “Miệng cười buốt giá”, nghe có vẻ như nụ cười kia vẫn chịu ảnh hưởng từ cơn
giá rét bên ngoài và còn” Chân không giày”. Sự ấm áp nay còn đâu khi trời đang trở gió, quần áo chẳng lành với đôi chân
trần. Chắc các anh khổ cực lắm, lạnh buốt lắm nhưng thực chất chỉ là bề ngoài mà thôi. Trái tim người lính vẫn đang rừng
rực với tinh thần chiến đấu. Vì vậy, sự đồng cảm đã được cụ thể hóa bằng hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Hơi ấm từ đôi tay đây, các anh đã trao nhau ngọn lửa rực cháy của tình yêu đất nước, trao nhau niềm thương cảm cùng
nhau.
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”

xe không kính” .
Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi
cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật (1941- 2007) quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.


Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1964, Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội. Thơ Phạm Tiến Duật
tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên
xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
"Bài thơ về tiểu đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm
Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió - hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân
thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ
chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút
pháp miêu tả "anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp" của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận,
giải thích về "những chiếc xe không kính" thật đơn giản, tự nhiên :
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng :
không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm
trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm,
trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa
vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật. Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người
suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.
Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ
trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh. Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi
phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những
hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ :
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.


Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
"Trời xanh thêm" vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. "Trời xanh thêm"
vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ
trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí
quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa
bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng
hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống,
do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước ... Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần
như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc "không có kính/ rồi xe không có đèn/ Không có
mui xe/ thùng xe có xước" như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi
lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm
thiêng liêng "vì miền Nam", vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài
thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim". Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái
tích tụ, kết đọng ở "trái tim" gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ "chỉ cần trong xe
có một trái tim" là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là
con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, "con mắt của thơ", làm bật
lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ.
"Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng
như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,... Từ sự giản dị của ngôn

của
tác
giả:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Trong tình cảnh nạn đói của đất nước, gia đình tác giả cũng không phải là ngoại
lệ. Bố ông còn con ngựa để đi đánh xe là may mắn lắm. Nhưng cái không khí nghèo túng
của toàn xã hội đã bao phủ tất cả. Gần hai mươi năm sau, khói vẫn làm cay mắt tác giả.
Cái "cay” này không phải là cái "cay” do củi ướt, củi tươi mà cái cay đắng cuảnhững kỉ
niệm đói khổ của nhiều người, trong đó có hai bà cháu tác giả.
"Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”
"Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa của sự sống và của tình yêu bà
cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp
lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức
khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục
giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một
chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: "Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe
rồi đấy!”. Từ "tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết,
làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác
giả.Tiếng "tu hú” lúc mơ màng, lúc văng vẳng từ những cánh đồng xa lâng lâng lòng
người cháu xa xứ. Tiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải
dài hơn, rộng hơn trong cái không gian xa xôi của nỗi nhớ thương.
"Mẹ cùng cha công tác bận không về

hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi
đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.
Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà
thớ muốn gửi tới bạn đọc, qua đó cũng là những bài học sâu sắc từ công việc nhỏ, lửa
tưởng chừng đơn giản: “ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm” Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa
" ấp iu”, "nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái
tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.
"Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương
những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng
nghĩ tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm tháng
mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì."Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung
vui”. "Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng
ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống
ích kỉ. "Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”.
Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà còn là người làm
cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim
nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa
cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị
nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong
“Tiếng gà trưa” của nhà thơ Xuân Quỳnh .Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh
bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà.Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình
cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vào bãi biển xanh thẳm lòng bà. Người bà đã là, đang là
và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã
trờ thành một người không thể thiếu trong trái tim cháu. Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa
vòng trái đất, nhà thơ Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà
"Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu


Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Vẫn giọng điệu bình thản ấy, vậy mà nghe như hờn trách, xót xa. Quá khứ và hiện
tại đối lập một cách sắc cạnh. Nếu thuỷ chung, tình nghĩa là một nét đẹp trong tính cách
dân tộc, thì thái độ đối xử này không chỉ là đáng trách! Những bận rộn trong cuộc sống
hằng ngày, nhịp điệu gấp gáp nơi đô thị có bào chữa cho sự bội bạc ấy chăng? Cũng như
ánh điện tràn ngập khắp nhà cao, nối bao con đường, lối phố có thể giúp thanh minh cho
sự dửng dưng, hờ hững kia chăng? Không, Nguyễn Duy chân thành như là thú tội. Một
sự chân thành đáng quý! Ta nghe như thấm thía nỗi xót xa khi người “tri kỉ” “ đi qua
ngõ” mà “như người dưng qua đường”.
Một khoảnh khắc của hiện tại làm nên cái giật mình của con người. Đến đây tứ
thơ có chút kịch tính. Tuy cố bình thản nhưng chính nhà thơ đã tự vấn mình:
Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn.
Các từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột”cùng với cấu trúc đảo được dùng thật tự
nhiên. gợi tả đầy biểu cảm. Trong khoảnh khắc “phòng buyn- đinh tối om”ấy, vầng trăng
xuất hiện thật bất ngờ khiến tác giả bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng.


Sự cố “đèn điện tắt” rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con
người trở về với những giá trị cao đẹp, vĩnh hằng. Có lẽ khi mất điện, con người cũng chỉ
mở cửa để đón ngọn gió trời chứ không hình dung ra cái gì đó đang đợi mình ngoài kia.
Vì thế, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng đã khiến con người bừng tỉnh, nghẹn ngào:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng
Cử chỉ “Ngửa mặt lên nhìn mặt” ta đã gặp bao lần trong thơ. Lý Bạch “Ngẩng đầu
nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương”, Bác Hồ trong tù đã từng có khoảnh khắc ngắm
trăng như thế:


là thức tỉnh mọi người về một thái độ sống. Đó là lời nhắc nhở của vầng trăng đối với con
người về quá khứ, về tình nghĩa thuỷ chung, về thái độ tình cảm của con người.
Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ, chất tự sự và trữ tình, hình ảnh thơ mộc mạc,
giản dị đã góp phần thể hiện tâm hồn nhà thơ với cuộc đời. Lời kể bằng thơ có khi thanh
thản, có khi dồn dập sự kiện, tình huống, có khi là đoạn kể hoài niệm, có khi là lời độc
thoại đầy tâm trạng. Bài thơ đã thể hiện một chủ đề truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
bằng một tiếng lòng chân thành của con tim vì thế mà “ánh trăng” có sức lay động và
thức tỉnh lòng người.
Với chúng ta, ánh trăng tình nghĩa của Nguyễn Duy là một ánh sáng thắp lên, soi
rọi tâm hồn để mỗi người sống ngày càng đẹp hơn với truyền thống của dân tộc mình.

ĐỀ5: Giới thiệu về nhà văn Nguyễn Thành Long và nhân vật anh thanh niên trong
tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa.
Nguyễn Thành Long (1925- 1991) quê ở Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, thưở nhỏ
ông sống ở Bình Định, năm 18 tuổi học ở Hà Nội. Sau cách mạng tháng tám ông tham
gia kháng chiến chống Pháp ở khu V, và bắt đầu viết văn. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc,
công tác ở Hội nhà văn Việt Nam. Nguyễn Thành Long là cây bút có công đóng góp cho
nền văn học Việt Nam hiện đại ở thể loại truyện ngắn và kí. Lặng lẽ Sa Pa là kết quả
chuyến đi thực tế lên Lào Cai trong mùa hè năm 1970, sau được in trong tập Giữa rừng
xanh( 1972). Tác phẩm tiêu biểu cho đề tài viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ
sư nông nghiệp với anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh
núi Yên Sơn ở SaPa. Câu chuyện kể về cuộc sống và công việc một mình trên núi bốn bề
chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo của người thanh niên đã khiến nhà họa sĩ và cô gái xúc
động, cảm phục. Ông họa sĩ vừa nghe anh nói vừa phát họa chân dung của anh. Cô gái
khi chia tay đã cố tình để quên chiếc khăn mùi soa như một kỉ vật ghi nhớ buổi gặp ý
nghĩa.
Trước hết, đọc tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, người đọc cảm
nhận sâu sắc hình ảnh anh thanh niên trẻ say mê lao động, có tinh thần trách nhiệm cao

trách nhiệm đầy đủ của một con người. Công việc của cháu vất vả thế đấy chứ cất nó đi
cháu buồn đến chết mất (lời anh thanh niên với ông họa sĩ già). Thế mới biết công việc
đối với anh là quan trọng nhất. Nó là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của anh, là cái đích
anh vươn tới bấy lâu nay. Nguyễn Thanh Long đã dùng mấy trang viết để diễn tả niềm
say mê công việc của anh? Không! Chỉ vài dòng ngắn ngủi ông đã diễn tả rõ điều đó.
Vượt qua tất cả khó khăn anh vẫn cống hiến "một giờ sáng đi ốp". Và để rồi chính anh là
người góp phần làm nên chiến thắng, nhờ việc phát hiện ra đám mây khô mà anh đã giúp
quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng. Có lẽ sẽ chẳng có ai vui
mừng bằng anh, nó (chiến thắng ấy) đã là động lực để anh làm việc. Phải chăng Nguyễn
Thành Long đã khắc họa tên anh bằng cả tâm huyết, bằng cả sự cảm phục, đậm nét. Anh
chính là hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam đang say mê lao động xây dựng đất nước, là tấm
gương cho mỗi chúng ta học tập, noi theo. Anh là một con người mà trong lòng luôn rực
rỡ một khát vọng: Sống đẹp, sống có ý nghĩa, sống có ích cho đất nước, cho mọi người.
Ở anh toát lên một lối sống giản dị yêu đời tâm hồn trong sáng và trái tim giàu tình yêu
thương. Có trách nhiệm đối với mọi người, với công việc anh cũng sống trách nhiệm, với
chình mình không buông thả. Chính ông họa sĩ cũng đã nghị. Khách tới bất ngờ, chắc cu
cậu chưa kịp quét tước, dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn.Nhưng không! Cuộc sống
của anh thật giản dị, gọn gàng và sạch sẻ. Tất cả thu gọn trong một góc trái gian nhà với
chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách. Chẳng cần tìm hiểu sâu thêm, chỉ càn
dừng ngay trước nơi anh làm việc cũng đủ để ta thêm yêu mến, quý trọng anh. Nếp sống
hằng ngày của anh tổ chức có nề nếp: Ăn, ngủ, làm việc và đọc sách. Anh chẳng khác
nào một người đang sống giữa xã hội chứ không phải sống một mình cô đơn. Sống như
thế không phải là dễ nhưng đó thực sự là sống đẹp. Cái đẹp ấy không bắt nguồn từ ham
muốn giả tạo mà bắt nguồn từ bản chất tâm hồn đẹp.
Sống ở vị trí cô độc nhất thế gian, nhưng anh không buồn, không chán nản. Anh vẫn ham
học tập, đọc sách, trồng hoa, nuôi gà. Anh lấy nó làm nguồn vui và cũng là để tăng thêm
sự hiểu biết.Thật là đầy ý nghĩa khi tác giả đưa vào truyện ngắn chi tiết về vườn hoa của


chàng trai với bao nhiêu hoa lay đơn, thược dược... Đó không chỉ là hoa của thiên nhiên,

tập, noi theo. Và khúc ca của thanh Hải chợt vọng lại trong lòng chúng ta Một mùa xuân
nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời..
ĐỀ 6: Giới thiệu nhà văn Kim Lân và

nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng.

Nhà văn Kim Lân, tên thật là Nguyễn Văn Tài(1920- 2007) quê ở làng Phù Lưu,
tỉnh Bắc Ninh. Kim lân là một nhà văn gắn bó, am hiểu sâu sắc về cuộc sống của nông
thôn. Các sáng tác của ông hầu như chỉ viết về cảnh ngộ người nông dân và sinh hoạt
làng quê. Ông thường viết về những cảnh ngộ tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng
cực của người nông dân dưới chế độ cũ.Truyện ngắn “Làng”, một tác phẩn nổi tiếng của
ông, được ông viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đăng
lần đầu tiên trên báo văn nghệ năm 1948. Câu truyện đã phần nào thể hiện một cách chân
thực và sâu sắc vẻ đẹp, tâm hồn, của người nông dân qua nhân vật ông Hai. Thông qua
câu truyện ta thấy tình yêu làng, yêu quê hương tha thiết của người nông dân Việt Nam
dù là trong mọi hoàn cảnh, chiến tranh hay thời bình thì họ vẫn một lòng yêu quê hương
đất nước.


Một tình cảm cao đẹp và đáng quý .Ông Hai yêu làng Chợ Dầu của mình bằng
một tình cảm đặc biệt. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, nhớ những ngày làm việc với
anh em để rồi “trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên” và “Chao ôi! Ông nhớ làng,
nhớ cái làng quá.”. Ông cũng không quên theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm làng
Chợ Dầu. Tình yêu làng thiết tha, sâu nặng ấy càng được thể hiện sâu sắc khi nhà văn đặt
nhân vật vào tình huống bất ngờ, độc đáo. Từ phòng thông tin ra, ông lão đang phấn chấn
vì nghe ngóng được nhiều tin vui từ kháng chiến thì lại gặp những người tản cư. Ông
quay phắt lại lắp bắp hỏi khi nghe nhắc đến tên làng, mong nhận được những tin tốt lành,
nào ngờ lại là tin dữ: “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây..”. Lúc này “cổ ông lão
nghẹn ắng cả lại, da mặt tê rân rân” vì sự ngạc nhiên đến nỗi bất ngờ làm ông đau xót,
“ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được, một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một

bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”, ông chia quà cho từng đứa xong thì vội vã đi khe với mọi
người về tin làng không theo giặc. Đến đâu cũng câu nói “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ.
Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi mới lên trên này cải chính… cải chính cái tin làng Chợ
Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn la sai sự mục đích cả”, vừa nói
“ông lão cứ múa tay lên mà khoe”. Ở đây nói chính ra phải dùng từ “mục kích”(nhìn thấy


rõ ràng, tận mắt), vì ông Hai cũng được học một khóa bình dân học vụ nhưng ông cứ đọc
bập bõm, câu được câu chăng, ngay cả khi đến phòng thông tin vẫn phải nghe lén, nên
ông nói sai cũng là chuyện thường. Tác giả đã đặt nhân vật trong ngôn ngữ khá tự nhiên,
bộc lộ thêm tính chất người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Ông Hai
khoe nhà mình bị đốt là minh chứng rằng làng không theo giặc. Mất hết cả cơ nghiệp
nhưng ông lão vẫn sung sướng, không hề tiếc nuối. Qua đó ta hiểu thêm, đối với ông vật
chất chẳng có giá trị gì cả, nhưng danh dự, tinh thần yêu nước là trên cả. Đó là một niềm
vui kì lạ nhưng thể hiện cảm động tình yêu làng, yêu nước, tinh thần hi sinh của người
nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chống giặc ngoại xâm.
Với cách chọn tình huống độc đáo, bằng lối văn miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật
tinh tế, ngôn ngữ nhân vật –lúc đối thoại, khi độc thoại, và độc thoại nội tâm – đa dạng,
nhà văn đã thể hiện được chiều sâu tâm trạng của nhân vật, góp một phần không nhỏ tới
thành công của tác phẩm. Qua nhân vật ông Hai, ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của
người nông dân Việt Nam thời kì chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là tình yêu làng hòa
quyện với tình yêu nước, yêu kháng chiến. Tác phẩm “Làng” giúp ta hiểu hơn về những
con người này, từ đó yêu mến họ, trân trọng, biết ơn họ - thành phần hậu phương vững
chắc, cũng như biết tại sao cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta thành công .




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status