TÓM TẮT
Đề tài này đề cập đến vấn đề xác định mối quan hệ tác động giữa chỉ số PCI tổng
thể, các chỉ số PCI thành phần và lượng doanh nghiệp thành lập mới tại các địa phương.
Qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của chỉ số PCI tổng thể và các chỉ số PCI thành
phần đến lượng doanh nghiệp thành lập mới tại các tỉnh thành của Việt Nam. Nghiên
cứu sử dụng 2 mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là lượng doanh nghiệp thành lập
mới. Các biến giải thích đối với mô hình thứ nhất là chỉ số PCI tổng thể, giá trị GDP,
lực lượng lao động, tỉnh trọng điểm. Trong mô hình thứ hai, các biến độc lập bao gồm:
9 chỉ số PCI thành phần và các biến kiểm soát: giá trị GDP, lực lượng lao động, tỉnh
trọng điểm.
Thông qua công cụ phần mềm Excel, SPSS, Stata với dữ liệu bảng thu thập từ 63
tỉnh thành trong cả nước từ năm 2010 đến năm 2014. Kết quả hồi quy của mô hình 1
cho thấy PCI có tác động tích cực đến lượng doanh nghiệp thành lập mới. Tuy không
phải tất cả các chỉ số thành phần đều có tác động, nhưng kết quả hồi quy của mô hình 2
cũng cho thấy có sự tác động của 5 chỉ số PCI thành phần đến lượng doanh nghiệp
thành lập mới tại các tỉnh thành của nước ta từ năm 2010 đến 2014. Trong đó, các chỉ
số: chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, dịch vụ hỗ trợ
doanh nghiệp, đào tạo lao động có tác động tích cực, riêng chỉ số tính năng động và tiên
phong của lãnh đạo tỉnh có xu hướng tác động trái chiều nhưng mức ảnh hưởng rất thấp.
Các chỉ số PCI thành phần còn lại: tiếp cận đất đai, chi phí thời gian, chi phí không
chính thức, thiết chế pháp lý và biến kiểm soát tỉnh trọng điểm không ảnh hưởng đến
hoạt động thành lập doanh nghiệp mới trong giai đoạn này. Có thể hiểu rằng các chính
sách hỗ trợ của chính quyền địa phương thông qua các chỉ số này các năm qua chưa
phát huy tác dụng, hoặc những yếu tố trên chưa phải là vấn đề cần quan tâm khi quyết
định thành lập doanh nghiệp.
Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng cho thấy giá trị GDP của địa phương có tác
động dương (+) và góp phần làm tăng lượng doanh nghiêp thành lập mới. Vì thế, đây
cũng là nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của các tỉnh thành.
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra một số khuyến nghị liên quan đến cải thiện
chỉ số PCI và các chỉ số PCI thành phần chiếm trọng số cao và có tác động tích cực đến
lượng doanh nghiệp thành lập mới.
1.6. Ý n
ĩa ủa đề tài nghiên cứu ........................................................................ 4
1.6.1. Điểm mới của đề tài................................................................................... 4
1.6.2. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu ................................................................... 4
1.7. Kết cấu của đề tài ............................................................................................ 5
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................................ 6
2. 1. Các khái niệm có liên quan ........................................................................... 6
2.1.1. Doanh nghiệp, doanh nghiệp thành lập mới..............................................6
2.1.2.
ng
c cạnh t anh .................................................................................. 6
2.1.3. Chỉ số n ng
c cạnh tranh cấp tỉnh – PCI ............................................... 7
2. 2. Một số lý thuyết có liên quan ........................................................................ 8
2.2.1. Kinh tế học thể chế.....................................................................................8
2.2.2. N ng
c cạnh tranh.................................................................................10
iv
2.2.3. PCI và các chỉ số thành phần của PCI.....................................................17
2.3. Một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan ............................................. 20
5.3. Những hạn chế của đề à và ƣớng nghiên cứu tiếp theo ........................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................... 79
PHỤ LỤC.....................................................................................................................86
v
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Tình hình doanh nghiệp thành lập mới theo vùng kinh tế trong năm 2013.............1
Hình 2.1. Các yếu tố nền tảng của năng lực cạnh tranh.................................................11
Hình 2.2. Khung phân tích năng lực cạnh tranh của địa phương..................................12
Hình 2.3. Mô hình Kim cương của Michael Porter.......................................................15
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu...........................................................................32
Hình 4.1. Đồ thị thể hiện điểm PCI trung bình của các địa phương (2010-2014)........53
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện điểm của các chỉ số thành phần PCI (2010-2014).............60
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện số lượng doanh nghiệp thành lập mới qua các năm...........61
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện số lượng doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động qua các
năm..................................................................................................................................62
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan.....................................26
Bảng 3.1. Giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu 1............................................45
Bảng 3.2. Giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu 2............................................46
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu.......................................51
Bảng 4.2. Tổng hợp 10 địa phương có lượng doanh nghiêp mới cao qua các năm.......51
Bảng 4.3. Tổng hợp 10 tỉnh thành đứng đầu bảng xếp hạng PCI (2010-2014).............57
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VNCI
Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam
FDI
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
NLCT
Năng lực cạnh tranh
KTTĐ
Kinh tế trọng điểm
GDP
Tổng giá trị quốc nội
UBND
Ủy ban Nhân dân
viii
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
(Nguồn: Dữ liệu từ Cục quản lý đăng ký kinh doanh năm 2014 và tính toán của tác giả)
Việc doanh nghiệp lựa chọn địa phương nào hay vùng miền nào có thể phụ
thuộc nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố mang tính lợi thế tự nhiên như vị trí địa lý
hay đặc điểm môi trường tự nhiên. Điều đáng nói là một số địa phương có sự tương
đồng về địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực - các điều kiện cứng để hỗ trợ doanh
1
nghiệp làm ăn, song lại có tốc độ doanh nghiệp phát triển rất khác nhau. Ví dụ như
cùng quanh Hà Nội, khi đó doanh nghiệp ở Vĩnh Phúc, Hưng Yên phát triển tốt trong
khi doanh nghiệp ở Hà Nam lại rất kém. Tương tự khi so sánh Bình Dương với Bình
Phước, Long An... (Vũ Tiến Lộc, 2015). Như vậy sự khác biệt này nằm ở năng lực
điều hành kinh tế của chính quyền địa phương. Năng lực điều hành này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp tới môi trường đầu tư của địa phương, và năng lực cạnh tranh của địa phương
lại là một trong những lý do chính để doanh nghiệp lựa chọn địa điểm để đầu tư
(Andele, 2010).
Tại Việt Nam, PCI đã ra đời để đo đếm năng lực cạnh tranh thông qua sự đánh
giá, cho điểm của cộng đồng doanh nghiệp. PCI là công trình nghiên cứu đầu tiên
lượng hóa chỉ số về sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp với cấp chính quyền
(Vũ Tiến Lộc, 2015).
Nghiên cứu này nhận thức được tầm quan trọng của chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh để đánh giá mức độ thuận lợi về môi trường đầu tư, kinh doanh, đánh giá
công tác quản lý và điều hành kinh tế của các tỉnh, thông qua cảm nhận của các doanh
nghiệp dân doanh trên 10 khía cạnh có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân. Đồng thời nghiên cứu này cũng đặt ra một câu hỏi là thực sự môi
trường cạnh tranh của địa phương được đánh giá thông qua chỉ số PCI có tác động tới
môi trường đầu tư của địa phương mà cụ thể ở đây là tác động tới lượng doanh nghiệp
đầu tư mới tại địa phương hay không? Nếu sự tác động này xảy ra thì những thành
phần nào của chỉ số PCI hay nói cách khác thành phần nào thuộc về năng lực cạnh
(i) Chỉ số PCI có tác động như thế nào đến việc đăng ký thành lập doanh
nghiệp mới tại các địa phương ở Việt Nam?
(ii) Trong trường hợp chỉ số PCI tổng thể có tác động thì mức độ tác động của
từng chỉ số thành phần PCI tới việc đăng ký thành lập doanh nghiệp tại các địa phương
là như thế nào?
1.4. P ƣơng p áp ng
n cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để kiểm tra giả thuyết
nghiên cứu đã được đặt ra. Sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng kết hợp với kỹ thuật
sử dụng biến công cụ cùng với một số kiểm định cần thiết như kiểm định biến nội
sinh, kiểm định sự phù hợp của tập biến công cụ và kiểm định sự tương quan của biến
công cụ với phần dư.
Ngoài việc sử dụng mô hình hồi quy, đề tài cũng sử dụng các kỹ thuật thống kê
mô tả: bảng tần số và tần suất đối với các biến định tính, giá trị trung bình, giá trị lớn
nhất và nhỏ nhất đối với các biến định lượng để có những đánh giá ban đầu về các biến
trong mô hình.
1.5. Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(PCI) và sự tác động của các chỉ số thành phần của PCI đến số lượng doanh nghiệp
đăng ký thành lập mới kết hợp với yếu tố tác động khác như: giá trị GDP, lực lượng
lao động, tỉnh trọng điểm tại 63 tỉnh thành của Việt Nam.
Đối tượng được khảo sát là doanh nghiệp ngoài nhà nước.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành doanh nghiệp mới, tuy nhiên đề tài
chỉ tập trung nghiên cứu một vài yếu tố chủ yếu: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh,
các chỉ số thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, giá trị GDP của địa
3
trường thuận lợi, xây dựng thể chế kinh tế tốt góp phần tăng năng suất, phát triển hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Địa phương nào có môi trường kinh
doanh tốt, nâng cao được năng lực cạnh tranh thì nơi đó sẽ thu hút đầu tư, phát triển
doanh nghiệp và phát triển kinh tế.
Vì thế, trong những năm gần đây, thông qua quá trình đánh giá năng lực cạnh
tranh của các địa phương do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
4
thực hiện, qua các chỉ số thành phần của PCI, chính quyền địa phương các tỉnh/thành
trong cả nước đã và đang thực hiện cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các
doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào địa phương mình. Trước thực trạng đó,
tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm cung cấp một cách nhìn khoa học, khách
quan để chính quyền địa phương có cơ sở khoa học đề ra các chính sách, giải pháp
thiết thực thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, từ đó giúp kinh tế của địa
phương phát triển.
1.7. Kết cấu của đề tài
ết cấu của đề tài nghiên cứu dự kiến trình bày gồm 05 chương như sau:
C ƣơng 1: Giới thiệu.
Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung: lý do
nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài.
C ƣơng 2: Cơ sở lý thuyết.
Ở chương này, trình bày các khái niệm về doanh nghiệp, doanh nghiệp được
thành lập mới, năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và lý
thuyết về kinh tế học thể chế, năng lực cạnh tranh, PCI và các chỉ số thành phần của
PCI. Đồng thời, tác giả cũng trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên
quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra mô hình lý thuyết.
C ƣơng 3: P ƣơng p áp ng
lý thuyết thể hiện sự tác động của chỉ số PCI, các chỉ số thành phần của PCI đến hoạt
động thành lập doanh nghiệp mới tại các địa phương của Việt Nam.
2. 1. Các khái niệm có liên quan
2.1.1. Doanh nghiệp, doanh nghiệp được thành lập mới
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở, là tế bào của nền kinh tế và là nơi trực
tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội (Đồng Thị Phương Thanh và các cộng sự, 2005).
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh, (Luật Doanh nghiệp, 2005). Theo Trần Thị Bạch Diệp (2008)
thì trong quá trình hình thành và phát triển của bất kỳ quốc gia nào, doanh nghiệp cũng
là đơn vị cơ sở, tế bào của nền kinh tế, là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã
hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất hợp lý tạo ra sản phẩm, dịch vụ hiệu quả
nhất.
Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
được Quốc Hội ban hành năm 2014: doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của Pháp luật nhằm mục
đích kinh doanh.
Doanh nghiệp được thành lập mới
Doanh nghiệp được thành lập mới là việc các nhà đầu tư như các tổ chức, cá
nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam,
đầu tư thành lập doanh nghiệp và hoạt động theo Luật doanh nghiệp (Luật Đầu tư,
2014).
2.1.2. N ng
c cạnh t anh
Theo Michael Porter (1998), khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh
tranh là năng suất (Productivity), hay nói cách khác năng suất là yếu tố quan trọng
nhất trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững.
điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển
doanh nghiệp dân doanh (VCCI, 2005). PCI được xem là một công cụ chính sách,
hướng tới thay đổi thực tiễn, có nguồn gốc từ Việt Nam do một nhóm chuyên gia trong
và ngoài nước của VCCI và USAID phát triển. Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh
Việt Nam (là dự án do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ).
7
2. 2.
ột số ý t u ết có
n quan
2.2.1. Kinh tế học thể chế
Theo Kasper và Streit (1998) các thể chế (institution) là những quy tắc tương
tác của con người, ràng buộc cách ứng xử của cá nhân, qua đó khiến cho hành vi con
người trở nên dễ tiên đoán hơn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động cùng hoạt
động tạo ra của cải vật chất. Theo North (1991, 1997), thể chế là bao gồm các ràng
buộc phi chính thức (điều thừa nhận, cấm đoán theo phong tục, tập quán, truyền thống
và đạo lý), những quy tắc chính thức (hiến pháp, luật, quyền sở hữu) và hiệu lực thực
thi chúng.
Kinh tế học thể chế (Institution Economics) bao hàm mối quan hệ hai chiều
giữa kinh tế học và các thể chế. Kinh tế học thể chế quan tâm đến ảnh hưởng của thể
chế đến nền kinh tế cũng như quá trình phát triển của các thể chế trước những trải
nghiệm về kinh tế (Kasper và Streit, 1998). Kinh tế học thể chế có hai trường phái chủ
yếu là kinh tế học thể chế cũ (Old Institutional Economics) và kinh tế học thể chế mới
(New Institutional Economics). Kinh tế học thể chế cũ ra đời ở Mỹ vào các thập niên
pháp luật yếu hay sự phân biệt giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong
một môi trường kinh doanh thiếu bình đẳng. Hầu hết các lý luận và nghiên cứu đều
khẳng định, các nước có môi trường thể chế tốt sẽ có khả năng thu hút FDI mạnh hơn
(Wei & Shleifer, 2000), (Kinoshita & Campos, 2003) và “nước nào có thể chế nhà
nước ổn định làm cơ sở tiên liệu tương lai thì nước ấy có mức đầu tư tăng trưởng cao
hơn những nước thiếu thể chế như vậy” (World Bank, 1997).
Kinh tế học thể chế cho rằng một thể chế được xem là “tốt” nếu: (i) nó làm
giảm chi phí giao dịch và có chế tài hạn chế được xung đột; (ii) sự phát triển không đòi
hỏi tính đơn nhất của thể chế. Tuy nhiên, một số đặc trưng chung nhất của thể chế có
quan hệ với tăng trưởng kinh tế và phát triển trong dài hạn chẳng hạn như tăng trưởng
có mối quan hệ chặt chẽ với các biến số: mức độ bảo hộ quyền sở hữu, cạnh tranh,
tham những, chất lượng bộ máy công quyền, và rủi ro thực hiện hợp đồng kinh
doanh...; (iii) hình thức thể chế là quan trọng nhưng yếu tố quyết định chất lượng thể
chế là ở việc thực thi; (iv) ổn định thể chế là điều kiện cần và để đảm bảo cho phát
triển bền vững thì thể chế phải luôn được hoàn thiện; (v) vai trò của nhà nước và thị
trường cũng cần phải được nhận diện đầy đủ và sâu sắc hơn.
Theo Đinh Vũ Trang Ngân (2013), khi các thiết chế kém hiệu quả và không
được doanh nghiệp tin dùng, thể hiện là trong môi trường mà quyền tài sản không an
toàn, thể chế không ổn định, pháp luật kém hiệu lực, tồn tại nhiều rào cản gia nhập thị
trường và cản trở của độc quyền ... chính những điều này làm tăng chi phí giao dịch,
chi phí kinh doanh và tồn tại nhiều rủi ro vì thế để tối đa hóa lợi nhuận các công ty tư
nhân thường chạy theo mục tiêu trước mắt, ít đầu tư tài sản cố định và đa số hoạt động
9
với quy mô nhỏ. Hệ quả là các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao trong lĩnh vực
thương mại sẽ đầu cơ và tìm kiếm đặc quyền – đặc lợi (rent – seeking). Các công ty
sản xuất có vốn cố định đáng kể tồn tại dưới sự bảo vệ của chính quyền thông qua trợ
cấp, bảo hộ thuế quan..., và những hành vi này vốn không thể mang lại hiệu quả cho
nền kinh tế.
10
Năng lực cạnh tranh cao được phản ánh qua mức năng suất cao. Năng suất là
kết quả của một tập hợp các nhân tố được hình thành dưới tác động của những thành
viên tham gia trong nền kinh tế. Theo VCR (2010), một số nhân tố được nhóm vào
NLCT vĩ mô thể hiện môi trường hay bối cảnh chung mà trong đó các công ty hoạt
động. Các nhân tố này bao gồm chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng
như các chính sách kinh tế vĩ mô. Không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng nhóm
nhân tố này tạo ra cơ hội cho các yếu tố thúc đẩy năng suất được phát huy. Một nhóm
nhân tố khác, được gọi là NLCT vi mô, mô tả cách thức các công ty hoạt động và các
yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của các công ty, bao gồm
sự tinh thông của doanh nghiệp, trình độ phát triển các cụm ngành và chất lượng của
môi trường kinh doanh. Hai nhóm nhân tố vi mô và vĩ mô có tác động trực tiếp lên
năng suất. Cũng theo VCR (2010) nhóm nhân tố thứ ba trong NLCT cần được xem xét
đó là các lợi thế tự nhiên. Tuy là những nhân tố không tác động lên năng suất, nhưng
có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc tạo ra sự thịnh vượng. Các nhân tố này cũng tạo ra một
môi trường tổng thể mà trong đó một nền kinh tế và vị thế tương đối của nó so với các
nền kinh tế khác được xác định.
Hình 2.1. Các yếu tố nền tảng của năng ực cạnh tranh
(Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010)
Từ khung phân tích NLCT của Giáo sư Michael E. Porter, Vũ Thành Tự Anh
(2010) cho rằng năng suất sử dụng các nguồn lực (bao gồm vốn, lao động, đất đai và
các tài nguyên khác) đóng vai trò trung tâm, một mặt vì nó là thước đo chính xác nhất
11
và có ý nghĩa duy nhất cho NLCT; mặt khác nó là nhân tố quyết định sự thịnh vượng
của các địa phương (tỉnh, thành phố, vùng, quốc gia). Điều này cũng có nghĩa là cạnh
góp cho sự thịnh vượng của địa phương trong một số thời kỳ và với những điều kiện
nhất định, song nếu chỉ dựa vào những lợi thế “trời cho” này thì sự thịnh vượng cũng
sẽ chỉ có giới hạn. Không những thế, không loại trừ một khả năng là chính thu nhập dễ
dàng từ những nguồn tài nguyên “từ trên trời rơi xuống” sẽ là một mầm móng của nạn
tham nhũng và cho phép các chính sách tồi tồn tại dai dẳng (Vũ Thành Tự Anh, 2010).
Các nhà kinh tế gọi nghịch lý này là “lời nguyền tài nguyên”. Nhiều bằng chứng cho
thấy có những quốc gia rất giàu tài nguyên và nguồn lực tự nhiên nhưng lại rất kém
phát triển trong khi cũng có nhiều quốc gia thành công trong phát triển mặc dù không
có nguồn tài nguyên đáng kể nào (Frankel, 2010). Theo Porter (2008), khi nguồn
nguyên vật liệu được cung cấp một cách phong phú với giá rẻ hay lao động dư thừa,
thì các doanh nghiệp có thể có khuynh hướng ỷ lại thái quá vào những lợi thế này và
khai thác chúng một cách kém hiệu quả. Nhưng khi các doanh nghiệp phải đối mặt với
một số bất lợi, ví dụ như chi phí đất đai cao, thiếu hụt lao động, hay thiếu hụt nguyên
vật liệu tại địa phương, thì các doanh nghiệp đó phải đổi mới và nâng cấp để có thể
cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương: Nhóm nhân tố thứ hai, ở giữa trong
Hình 2.2, là “NLCT ở cấp độ địa phương”. Nhóm này bao gồm các nhân tố cấu thành
nên môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp
là tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởng lên NLCT của các doanh nghiệp từ cách suy nghĩ,
quan điểm, thái độ cho đến hành vi, sự sáng tạo và tinh thần kinh doanh. Có thể chia
các yếu tố này thành hai nhóm chính bao gồm (i) chất lượng của hạ tầng xã hội và các
thể chế chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế; và (ii) các thể chế, chính
sách kinh tế như chính sách tài khoá, tín dụng và cơ cấu kinh tế.
Theo Vũ Thành Tự Anh (2010), yếu tố hạ tầng xã hội lấy sự phát triển của con
người làm trung tâm, trong đó chú trọng đến vai trò của giáo dục và hệ thống y tế. Nếu
xét ở NLCT, giáo dục cơ bản còn là nền tảng cho việc học hỏi, tiếp thu tri thức, sáng
13
tạo và đổi mới trong doanh nghiệp. Vai trò của thể chế chính trị phải gắn liền với
14
Môi trường kinh doanh là điều kiện bên ngoài giúp doanh nghiệp đạt được mức
năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất. Theo Porter (2008), chất lượng của
môi trường kinh doanh thường được đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát bao gồm: (i)
các điều kiện về nhân tố đầu vào, (ii) các điều kiện cầu, (iii) các ngành công nghiệp
phụ trợ và liên quan, và (iv) chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Porter
(2008) mô tả bốn đặc tính này thông qua bốn góc của một hình thoi được nhiều nhà
nghiên cứu gọi một cách hoa mỹ là Mô hình
im cương Porter (xem Hình 2.3). Trong
đó, các điều kiện về yếu tố đầu vào có thể được chia thành cơ sở hạ tầng, nguồn vốn,
nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, và nguồn kiến thức. Các địa phương đều có
những yếu tố này nhưng sự phối hợp của các nhân tố đó lại rất khác nhau và lợi thế
cạnh tranh từ các nhân tố này phụ thuộc vào việc chúng được triển khai và hiệu quả
hay không (Porter, 2008).
Hình 2.3.
ô ìn
m cƣơng của Michael Porter
(Ng ồn: Porter (2008))
Cần lưu ý rằng một số nhân tố như nhân lực, kiến thức, và vốn có thể di chuyển
giữa các địa phương, cho nên việc có sẵn các nhân tố này ở mỗi địa phương không
phải là một lợi thế cố hữu, bất di bất dịch. Hơn nữa, nguồn dự trữ các nhân tố đầu vào
mà một địa phương có được ở một thời điểm cụ thể không quan trọng bằng tốc độ và
tính hiệu quả mà địa phương đó tạo ra cũng như việc nâng cấp và sử dụng các nhân tố
nhanh và bền vững”. Nâng cao năng lực cạnh tranh, đã trở thành nhiệm vụ “sống còn”
đối với cả nền kinh tế và đối với mỗi doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (Nguyễn Tấn
Dũng, 2014).
Từ ba lý thuyết được giới thiệu ta thấy rằng NLCT có nhiều khía cạnh và yếu
tố cấu thành và từng yếu tố cấu thành NLCT có những vai trò khác nhau. Trong đó,
thể chế kinh tế là một thành phần của NLCT, nếu quốc gia có thể chế tốt sẽ có tác
động tích cực đến NLCT của địa phương. Đồng thời, nếu địa phương tận dụng, khai
16
thác, phát huy và thực hiện tốt vai trò của các nhân tố cấu thành NLCT thì NLCT của
địa phương sẽ được cải thiện ở mức tốt và dĩ nhiên việc thu hút được đầu tư sẽ tốt hơn.
2.2.3. PCI và các chỉ số thành phần của PCI
Chỉ số PCI được xây dựng với sự hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) và cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ US-AID, để
xác định các chỉ số (indicators) cho việc đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh,
thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc
phát triển doanh nghiệp. Phương pháp tiếp cận PCI có bốn đặc điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng
công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành
kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý
tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh
"ngôi sao" hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có
thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằng cách áp dụng các thực tiễn tốt sẵn
có (VCCI, 2005).
Thứ hai theo VCCI (2005), bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện
truyền thống ban đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một
tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy
mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực
Chi phí gia nhập thị trƣờng: Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự
khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các
tỉnh với nhau.
Tiếp cận đất đa v sự ổn định trong sử dụng đất: Đo lường về hai khía cạnh
của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng
không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được
mặt bằng kinh doanh hay không.
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đo lường khả năng tiếp cận các kế
hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các
chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng
tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện
dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp.
Chi phí thời g an để thực hiện các qu định của N
nƣớc: Đo lường thời
gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ
18
thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan
Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.
Chi phí không chính thức: Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà
doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không
chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà
nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không.
Cạn tran bìn đẳng (đ