Tiểu luận triết học tư tưởng triết học cơ bản của phật giáo - Pdf 35

BÀI TẬP NHÓM MÔN TRIẾT HỌC
Đề bài: “TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO”
Thực hiện: Nhóm 7, Lớp A1 CH23NC (Chuyên ngành: Luật Kinh tế)
Bài làm:
I. Khái quát về sự ra đời và sự phát triển của tư tưởng triết học Phật giáo
1. Bối cảnh ra đời
a) Về điều kiện thiên nhiên ở Ấn Độ
Ấn Độ là đất nước có điều kiện tự nhiên đa dạng: Vừa có dãy núi
Hymalaya ở phía Bắc, lại có biển Ấn Độ Dương; vừa có sông Ấn chảy về phía
Tây, lại có sông Hằng chảy về phía Đông. Vì thế, Ấn Độ có những vùng đồng
bằng trù phú màu mỡ, có vùng nóng ẩm mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm
tuyết phủ, lại có những vùng xa mạc khô cằn, nóng bức. Những điều kiên tự
nhiên đa dạng và khắc nghiệt ấy là cơ sở để hình thành sớm những tư tưởng tôn
giáo triết học.
b) Về kinh tế - xã hội
Từ thế kỷ VI - I TCN, nền kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ đã phát
triển. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại
rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình “công xã nông
thôn”. Mô hình này có đặc trưng là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước, gắn
liền với nó là sự bần cùng hoá của người dân trong công xã và quan hệ giữa gia
đình thân tộc được coi là quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành
các đẳng cấp. Xã hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: Satria
(cai trị), balamon (hành nghề tôn giáo), vaisia (bình dân) và sudra (tiện nô). Sự
phân chia đẳng cấp đó làm cho xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn
đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội. Trong cuộc đấu
tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học đã ra đời, trong đó có Phật giáo.

1


c) Về văn hóa - khoa học



II. Nội dung tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo
Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo được thể hiện tại Tam tạng kinh
điển của Phật giáo gồm trên 5000 quyển được chia thành Kinh tạng - Luật tạng
và Luận tạng, trong đó:
- Kinh tạng: Chép lời Đức Phật giảng về giáo lý;
- Luật tạng: Ghi lại việc tu tập và toàn bộ những giới luật của Phật giáo quy
định;
- Luận tạng: Luận tạng do các bậc cao tăng viết ra nhằm giới thiệu giáo lý
của Phật giáo một cách có hệ thống, đó là những bài bình chú, giải thích gồm
bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về giáo pháp của Phật giáo.
Có thể thấy, Phật giáo là một tôn giáo có nhiều triết lý sâu sắc, tuy nhiên
Phật giáo ít đề cập tới triết học thuần túy, mục đích chính của nó là giải thoát
chúng sinh khỏi nỗi khổ của cuộc đời. Các tư tưởng triết học cơ bản của Phật
giáo có hai nội dung chính là thế giới quan (quan niệm về thế giới) và nhân sinh
quan (quan niệm về đời sống con người). Trong đó, Phật giáo nhìn nhận thế giới
tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả. Theo Phật giáo, nhân
- quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân
nào quả ấy. Mối quan hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý
nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả
khác.
1. Về thế giới quan
Thế giới quan phật giáo là một thế giới quan có nhiều yếu tố duy vật (mộc
mạc) và biện chứng (sơ khai) nhưng về cơ bản là thế giới quan duy tâm, với các
đặc điểm sau:
a) Thế giới là vô tạo giả (tức là không có người sáng tạo đầu tiên): Bằng
sư phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân
đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Brahman nào sáng tạo ra vũ
trụ. Cùng với việc phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù Atman

đi. Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không
ngừng. Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là
biến đổi, hư hoại, đều là vô thường”. Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong
một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình
thành đến biến dị rồi tan rã. Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong
một sự vât, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn. Đức Phật cũng
dạy rằng không phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết
đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không
phải là hết khổ mà chết là điều kiện của một sinh thành mới.

4


- Phạm trù nhân duyên: Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô
thường của vạn vật, đã xây dựng nên thuyết nhân duyên. Phật giáo cho rằng,
mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự
chi phối của luật nhân duyên. Trong đó duyên là điều kiện giúp cho nguyên
nhân trở thành kết quả. Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nhân khác,
nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới. Cứ như vậy mà tạo nên sự
biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-Quả”, nhân là
cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân và quả là hai trạng
thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có nhân thì không thể có
quả, nếu không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy. Đức
Phật dạy “Đã gieo nhân nào. Sẽ gặt quả ấy. Hành thiện sẽ gặt quả lành. Hành ác
sẽ gặt quả dữ. Hãy gieo giống tốt. Ta sẽ gặt quả lành”.
Phật giáo dùng thuyết nhân duyên để giải thích nguồn gốc của tất cả các sự
vật, hiện tượng. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân. Nhân kết
hợp với duyên thì sinh ra quả. Quả kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh
ra quả khác… Như vậy, tất cả đều nằm trong một dòng sinh diệt bất tận. Ở quan
điểm này cho thấy một hạn chế của Phật giáo là chỉ thấy sự vận động, tuyệt đối

được tạo tác từ tâm thức. Như vậy, tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào
soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người. Để thấu hiểu triệt để cái căn
nguyên của khổ đau, con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay
quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó. Đạo
Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do đó, con
người ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác.
Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới. Phật ví
sự khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước
biển”.

6


b) Nhân đế (hay Tập đế)
Là triết lý về sự phát sinh, nguyên nhân gây ra sự khổ. “Tập” là tụ hợp, kết
tập lại. Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả
mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc
của luân hồi. Đạo Phật cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự khổ, phiền não là
do “thập nhị nhân duyên”, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín trong
mỗi con người. 12 nhân duyên gồm:
(i) Vô minh (không sáng suốt): đồng nghĩa với mê tối, ít hiểu biết, không
sáng suốt. Không hiểu được đời là bể khổ, không tìm ra nguyên nhân và con
đường thoát khổ. Trong mười hai nhân duyên, vô minh là căn bản. Nếu không
thấu hiểu Tứ diệu đế cũng được gọi là Vô minh.
(ii) Duyên hành: là ý muốn thúc đẩy hành động.
(iii) Duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối.
(iv) Duyên danh sắc: sự hội tụ các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các
cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức).
(v) Duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các
giác quan cảm giác, lúc đó thân sẽ sinh ra sáu cửa là: nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân để

c) Diệt đế
Là chân lý về diệt khổ. Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt
được để đạt tới trạng thái “niết bàn”. Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt
thì sự khổ cũng được tận diệt. Muốn diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên,
bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ
được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham dục
và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi
sinh tử. Nói cách khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn
dừng lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh tử.
d) Ðạo đế
Là cách thức chấm dứt đau khổ. Đây là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo
đức cá nhân. Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên và một khi
dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử. Chấm dứt
luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn. Có 8 con đường
chân chính để đạt sự diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là “Bát chính đạo”. Bát chính
đạo bao gồm:
(i) Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về
Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã.
(ii) Chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý
nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
(iii) Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù phiếm.
(iv) Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm
việc xấu, nên làm việc thiện.
8


(v) Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên
quan đến sát sinh.
(vi) Chính tinh tiến: cố gắng nỗ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để
phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.

nhưng Phật giáo không chủ trương giải phóng con người bằng cách mạng xã
hội. Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh
chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực. Phật giáo cho cuộc đời là giả, ảo, mọi
ham muốn đời thường đều là tội lỗi; thế nhưng Niết bàn, cái mà Phật cho là thực
tại thì không có gì làm bằng chứng./.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status