đại học quốc gia hà nội
trung tâm đào tạo, bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị
----------------0o0-----------------
Trịnh thị thủy
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực
ngành y tế ở việt nam hiện nay
(qua khảo sát một số cơ sở đào tạo cán bộ y tế )
luận văn thạc sĩ triết học
Hà Nội 2010
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam thực hiện mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phương châm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp. Với
đường lối chính sách và cơ chế hợp lý, cùng với lộ trình hội nhập kinh tế quốc
tế phù hợp với điều kiện cụ thể, Việt Nam đã thực hiện được chủ trương đa
dạng hóa thị trường, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài
và chủ động phát huy nội lực, nền kinh tế đất nước đã có những bước phát
triển vượt bậc với tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng bình quân
tăng gần 8% năm, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững.
Động lực cơ bản đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp mà
Đảng và nhà nước ta đã đề ra, chính là nguồn nhân lực được đào tạo, đó là
nhân tố con người tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị
thân người thầy thuốc. Một người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, tận tụy với
nghề nghiệp, có lương tâm đạo đức tốt thì chất lượng phục vụ sẽ tốt , đặc biệt
là ở những vùng khó khăn về kinh tế, vùng sâu vùng xa, hải đảo nơi mà cán
bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu trang bị còn nhiều thiếu thốn thì vai trò của người
thầy thuốc còn quan trọng hơn nữa.
Từ nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực ngành Y tế ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
triết học đồng thời mong góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đào
tạo nhân lực y tế ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói
chung, và nguồn nhân lực trong ngành Y tế nói riêng, gần đây có nhóm đề tài
đề cập đến vấn đề đó:
- Đề tài khoa học “Nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực y tế trong thời
kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước" do tác giả Lê Quang Hoành
3
cùng các cộng sự - thuộc “Viện chiến lược và chính sách y tế” thực hiện nhằm
nêu lên những vấn đề bất cập, những khó khăn trong công tác quản lý nguồn
nhân lực y tế ở các cấp đồng thời đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm giúp
nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn nhân lực y tế đảm bảo về chất
lượng và số lượng cho nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân trong
thời kỳ CNH và HĐH đất nước.
- Đề tài khoa học "Một số vấn đề về cơ sở khoa học, thực tiễn của việc
xã hội hóa y tế" do Thạc sĩ Vũ Thị Minh Hạnh thực hiện nhằm làm rõ một số
cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề xã hội hóa y tế ở nước ta giai đoạn
hiện nay.
- Đề tài khoa học “Đánh giá hiệu quả hoạt động của bác sĩ
- Luận văn tập trung làm rõ thực trạng của việc đào tạo nguồn nhân lực
ngành Y tế Việt Nam hiện nay, từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện
nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng
dạy, học tập, hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế Việt
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chƣơng 1: Vai trò của việc đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành Y tế
Việt Nam hiện nay trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam
hiện nay (qua khảo sát một số cơ sở đào tạo cán bộ y tế).
Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo
nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam hiện nay.
6
Chƣơng 1
VAI TRÕ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG CÔNG TÁC
CHĂM SÓC, BẢO VỆ SỨC KHỎE NHÂN DÂN
1.1. Khái quát về đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực y tế
1.1.1. Về đào tạo nguồn nhân lực
Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, luôn trung thành với tư
tưởng “vì con người và giải phóng con người” của C.Mác, Đảng ta thường
thể đã và đang tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn
cả những con người - chủ thể sẽ tham gia vào quá trình này. Bởi vì, lịch sử tự
nhiên của đời sống xã hội là quá trình phát triển kế tiếp nhau của các nền văn
minh; trong đó các giá trị do những thế hệ trước tạo ra là nền tảng để những
thế hệ sau kế thừa, phát triển và sáng tạo ra những gía trị mới. Không chú ý
đến phương diện này của nguồn nhân lực thì không thể triển khai công nghiệp
hóa, hiện đại hóa có hiệu quả, và do đó, không thể có sự phát triển bền vững
của đất nước.
Như vậy, khái niệm “nguồn nhân lực” chỉ những thế hệ nối tiếp nhau
của những “con người chủ thể” với những phẩm chất nhất định (thể lực, trí
lực, nhân cách) đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn
lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững";
Đầu tư đào tạo phát triển nguồn lực con người được hiểu ở cả ba lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo,
8
nhưng trong đó giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng nhất. Trong Từ điển bách
khoa Việt Nam, khái niệm đào tạo được hiểu là:
“Đào tạo, quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người
đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ
thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng
nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã
hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là
Nội dung của đào tạo về chuyên môn nguồn nhân lực nói chung, và
nguồn nhân lực y tế nói riêng, bao gồm ba nội dung chính là:
Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa biết nghề, để họ có
một nghề nào đó trong nền kinh tế.
Đào tạo lại: Là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó
hiện không còn phù hợp nữa.
Đào tạo nâng cao trình độ tay nghề: là đào tạo cho những người đã có
nghề, để họ có thể đảm nhiệm những công việc phức tạp hơn, có yêu cầu trình
độ cao hơn.
Mục tiêu chung của đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế:
Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho đội
ngũ cán bộ làm công tác y tế, nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực y
tế, đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới.
Trang bị nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý điều hành cho đội ngũ
cán bộ làm công tác quản lý từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về y tế.
Nói tới vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành Y tế, Nghị
quyết 46 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “nghề y là một nghề đặc biệt, vì vậy cần
được đào tạo và sử dụng một cách đặc biệt” chính vì vậy việc đào tạo đội ngũ
cán bộ y tế có những nét đặc thù mà không một ngành nghề nào có nhằm
nâng cao năng lực cán bộ.
Đào tạo thường gồm 3 cấp: đại học, sau đại học, trung học, ở 3 hệ: hệ
dài hạn, hệ ngắn hạn và hệ tại chức.
+ Đào tạo đại học gồm: Bác sĩ đa khoa hệ dài hạn 6 năm; Bác sĩ đa
khoa hệ ngắn hạn 4 năm; Bác sĩ y học cổ truyền hệ 4 năm và hệ 6 năm; Bác sĩ
11
y học dự phòng; Đại học Dược hệ dài hạn 5 năm và hệ 4 năm; Cử nhân Điều
nguồn nhân lực đủ mạnh thúc đẩy ngành Y tế phát triển thì chúng ta khó tránh
khỏi những nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn với các nước.
Nói đến nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong ngành Y tế
nói riêng, không chỉ là số lượng mà điều quan trọng hơn là chất lượng của nó,
tức là những con người đã qua giáo dục và đào tạo. Ngành Y tế là một trong
những ngành đặc biệt cần những y bác sĩ có trình độ, không giống như trong
nhiều ngành công nghiệp chỉ cần nhân lực dồi dào, đối với công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cần có một nguồn nhân lực đạt đến một trình độ
nhất định, phải trải qua một quá trình giáo dục, đào tạo lâu dài và nghiêm khắc.
Nguồn nhân lực ngành Y tế cũng như nguồn nhân lực con người nói
chung được đào tạo sẽ có cơ hội phát triển và hoàn thiện các năng lực và tài
năng của mình. Thông qua giáo dục đào tạo, các cá nhân được cung cấp
những kiến thức cơ bản, cần thiết làm cơ sở cho việc hoàn thiện và phát triển
những phẩm chất và tài năng của cá nhân, góp phần tạo ra những giá trị mới
để thay đổi, làm tăng khả năng tiếp nhận những ý tưởng mới và làm thay đổi
quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người ngày càng tốt hơn.
Hiện nay, cũng như nhiều nước châu Á, ngành Y tế Việt Nam đang bị
thiếu hụt khá nghiêm trọng về lực lượng có trình độ tay nghề và chuyên môn
cao. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do công tác đào tạo chưa đáp
ứng kịp nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội. Biện pháp khắc phục cơ bản
và có tầm chiến lược chính là phát triển chất lượng nguồn nhân lực ngành qua
đào tạo chuyên môn sâu.
Khác với đào tạo nguồn nhân lực tại các trường kinh tế, các trường
khoa học xã hội và nhân văn, quá trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Y trình
độ bác sĩ được đào tạo trong 6 năm. Năm thứ nhất và năm thứ hai học khoa
học cơ bản và y học cơ sở, bắt đầu từ năm thứ hai sinh viên phải học trên
“lâm sàng” tại bệnh viện thực tập. Sang năm thứ ba sinh viên phải tham gia
trực đêm tại bệnh viện thực tập. Thời gian học tập của sinh viên trường y là
tế cơ sở được củng cố, cung cấp các dịch vụ y tế gần dân hơn. Nhìn chung,
14
ngành Y tế đã đạt được các mục tiêu đề ra là, tuổi thọ của người dân được
tăng lên, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm, tỷ lệ chết mẹ và chết
trẻ sơ sinh giảm rõ rệt,… trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành Y tế
Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn rất đáng tự hào trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển mặc dù vẫn còn những yếu kém và những thách thức
cần được giải quyết. Nhìn một cách tổng quát ở mọi góc độ khác nhau, ngành
Y tế Việt Nam đã làm biến đổi một cách sâu sắc về tất cả các mặt, từ nhận
thức tư tưởng cho đến tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, từ y tâm, y
thuật cho đến y đức.
Bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Y tế phải đối phó với những tác động
của nền kinh tế thị trường, từng bước tháo gỡ khó khăn để thích ứng với cơ
chế trị trường, đáp ứng được mong muốn của người dân ngày càng nhiều và
càng cao về chăm sóc sức khỏe đã bị giảm sút sau 30 năm chiến tranh. Do xác
định được phương châm: đa dạng hoá các hoạt động của ngành, xã hội hoá
công tác y tế, nên từ khi đổi mới đến nay, công tác chăm sóc sức khỏe nhân
dân đã tiến được một bước dài, bao gồm một hệ thống các cơ sở y tế nhà
nước, y tế tư nhân, hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn
và chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn và công bằng hơn. Phương pháp quản lý
các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước cũng thay đổi bằng cách thu một
phần viện phí của người bệnh, xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế, cho phép mở
rộng bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà thuốc tư. Nhiều tổ chức cá nhân đứng
ra thành lập quỹ hỗ trợ bệnh nhân nghèo, nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế cho
người nghèo, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo... Các chỉ tiêu sức khỏe
nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, năm sau tiến bộ hơn năm trước.
Theo đánh giá của cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nước ta đứng
y, dược, nha và trong vòng mấy năm trở lại đây đã đào tạo ở trong nước cán
bộ có trình độ cử nhân, chuyên khoa I và II, bảo vệ luận án thạc sĩ và tiến sĩ.
Từ vài trăm cán bộ y tế vào những ngày đầu thành lập nước, đến nay đã có 25
vạn người, trong đó có 47 nghìn cán bộ đại học các loại và trên 1000 cán bộ
trên đại học.
16
Số bác sĩ tính theo dân số hiện nay là 1 bác sĩ cho 2.600 dân (2000) so
với năm 1945 là 1 bác sĩ cho 220.000 dân. Tỷ lệ này chưa cao nhưng điều
đáng kích lệ là đến cuối năm 2000, dự kiến sẽ có 40% số xã có bác sĩ. Một
việc khác mà 55 năm về trước chúng ta còn mơ ước nay đã trở thành sự thật
là cán bộ y tế xã được hưởng trợ cấp hàng tháng do Nhà nước đài thọ.
Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng đạt được nhiều
thành tựu, trước hết là quan điểm chỉ đạo của ngành xuyên suốt 65 năm qua
trong mọi lĩnh vực hoạt động. Chúng ta kế thừa và phát huy được nhiều bài
thuốc, phương thuốc dân gian có hiệu quả, thành lập được 2 viện và 42 bệnh
viện y học cổ truyền, 262 khoa học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa,
8000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền, khám và chữa bệnh bằng y
học cổ truyền cho khoảng 30% bệnh nhân đến bệnh viện, đào tạo được hàng
nghìn bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền, từng bước hiện đại hoá y học cổ
truyền, trồng và di thực được nhiều cây thuốc quý, đóng góp nhiều kinh
nghiệm cho các nước trên thế giới và đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết
cho việc mở một trường đại học y học cổ truyền.
Ngành Dược và ngành Trang thiết bị cũng đã trở thành ngành kinh tế
kỹ thuật. Chúng ta đã có những nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP,
thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, mức sử dụng thuốc khoảng 6 USD/ đầu
người (2000). Tổng giá trị xuất khẩu thuốc và dược liệu đạt 15 triệu USD
(2000). Về sản xuất trang thiết bị, các nhà máy của ta đã liên doanh liên kết
hệ thống y tế công lập hiện nay.
Đối với các yêu cầu về nhân lực, song với đội ngũ nhân lực có trình độ đa
khoa công tác chủ yếu ở tuyến y tế cơ sở, ngành y sẽ cần đến đội ngũ nhân lực
có trình độ chuyên sâu ở các chuyên ngành khác nhau: như bác sĩ chuyên khoa,
dược, điều dưỡng, kỹ thuật viên... Xu hướng này sẽ giống như các nước trong
khu vực như Thái Lan, giai đoạn trước thì tập trung đào tạo một số loại cán bộ
như bác sĩ , dược sĩ đại học, răng hàm mặt. Nhưng ở Thái Lan cũng đã dự đoán
18
rằng trong khoảng 2 thập kỷ tới, sẽ có sự tập trung vào các năng lực chung của
cán bộ y tế để cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu ở tuyến y tế cơ sở.
Như vậy, bước vào thế kỷ XXI, ngành Y tế nước ta có nhiều thuận lợi,
nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thách thức, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu
của người dân về các dịch vụ sức khỏe với khả năng của nền kinh tế còn hạn
hẹp, là phải giải quyết vấn đề công bằng trong việc chăm sóc sức khỏe và hiệu
quả đạt được trong nền kinh tế thị trường có sự phân tầng xã hội, vấn đề phục
vụ sức khỏe cho nhân dân các vùng sâu, vùng xa. Chúng ta phải tìm cho ra con
đường đi thích hợp, biết đón trước những thành tựu về khoa học công nghệ của
thế kỷ XXI để có thể tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập với nền y tế của
thời đại xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, của nhân dân đã dành cho ngành Y
tế Việt Nam. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là việc đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực ngành nhằm nâng cao cả về số lượng và chất lượng đào
tạo nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu xã hội trong thời gian tới.
1.3. Tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu về xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực cho ngành Y tế để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân đang đặt ra những áp lực lớn đối với công tác đào tạo. Bởi lẽ, sức
khỏe là vốn quý của mỗi con người và toàn xã hội. Sức khỏe cũng là nhân tố
- nơi mà cán bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu; trang thiết bị y tế còn nhiều thiếu
thốn, thì vai trò của người thầy thuốc càng trở nên quan trọng hơn nhiều lần.
Chính vì vậy, để góp phần hiện đại hoá nền y học và y tế nước ta, đáp
ứng nhu cầu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, công tác
đào tạo và khoa học công nghệ phải đi trước một bước, đòi hỏi đội ngũ cán bộ
làm công tác đào tạo và khoa học y học, tiếp tục nỗ lực phấn đấu vươn lên
hơn nữa, thực hiện tốt Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày
23/2/2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới, là “Sắp xếp lại mạng lưới, mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào
tạo, đáp ứng nhu cầu về cán bộ y tế phù hợp với quy hoạch phát triển ngành;
xây dựng một số trung tâm đào tạo cán bộ y tế ngang tầm các nước tiên tiến
20
trong khu vực” và “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tiếp cận và ứng dụng
những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sinh
học và công nghệ thông tin; từng bước đưa nền y học nước ta đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực và thế giới”. Thứ hai, bên cạnh mặt chuyên môn, mục tiêu
của quá trình đào tạo cán bộ y tế còn là đào tạo ra những người có y đức và có
đủ sức khoẻ để có thể hoàn thành được nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
nhân dân. Đánh giá y đức không phải qua lời nói mà qua hành vi thái độ cụ
thể với người bệnh, với giáo viên, với đồng nghiệp. Trong giáo dục, nhiều khi
chúng ta chỉ chú ý đến kiến thức, kĩ năng, mà quên hoặc chưa quan tâm đúng
mức đến thái độ (hay hành vi ứng xử).
Giáo dục y đức cho sinh viên ngành Y chủ yếu diễn ra tại giảng đường,
nhất là tại bệnh viện thực tập, môi trường đụng chạm đến thực tiễn hàng ngày,
hàng giờ. Giáo dục y đức tại giảng đường là đặt mối liên hệ chủ yếu giữa thầy và
trò, còn tại bệnh viện thực tập, sinh viên đối mặt với nhiều đối tượng: bệnh nhân
và thân nhân bệnh nhân; ban giám đốc và phòng ban; thầy, các cán bộ giảng dạy
hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế. Đó là
một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và
kinh nghiệm một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính
mạng con người và hạnh phúc gia đình” [5, tr.140].
Tại buổi lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/1996 và đón nhận
Huân chương Sao vàng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã chỉ thị cho ngành Y
phải “phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của ngành, không ngừng nâng
cao trình độ ngang tầm nhiệm vụ, rèn luyện phẩm chất, đặc biệt là nâng cao y
đức, hết lòng chăm lo người bệnh, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “thầy thuốc
như mẹ hiền”” [5, tr.149].
Rất quan tâm đến sức khỏe của nhân dân, bằng tâm huyết của mình,
trong thư gửi báo “Sức khoẻ và đời sống”, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu
đã ân cần căn dặn cán bộ ngành Y tế:
22
Công việc của người thầy thuốc được ví như công việc của Người Mẹ,
chăm lo cho con cái, cho gia đình, cho nòi giống, cho con người, từ thuở chưa
lọt lòng đến giây phút thanh thản từ giã cuộc đời; giúp cho bà con vượt qua số
phận hẩm hiu, những đau đớn quằn quại của bệnh tật, sự sinh nở được mẹ
tròn con vuông, giúp cho lứa đôi hạnh phúc, các cụ già trường thọ. Đồng chí
dặn dò mỗi cán bộ y tế: “Đem tình thương vĩnh cửu của Người Mẹ để làm
công việc cao quý của mình” [5, tr.271].
Luôn luôn lo tới sức khoẻ của nhân dân và rất quan tâm tới ngành Y tế,
trong thư gửi cán bộ y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/2002, đồng
chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viết: “Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân
dân là một công việc đặc biệt liên quan đến tài sản vô giá là sinh mệnh con
người. Cán bộ y tế phải không ngừng rèn luyện, gắn “đức và tài”, phải có “cái
tâm trong sáng” mới làm được nghề cao quý này” và đồng chí Tổng Bí thư
Ngữ, nguyên Viện trưởng Viện Sốt rét Việt Nam, Anh hùng Lao động, trong
những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ông đã trực tiếp vào tuyến lửa Vĩnh
Linh, nghiên cứu vaccin phòng chống sốt rét cho bộ đội và nhân dân. Ông đã
hi sinh do bom B52 của Mỹ tại chiến trường miền Trung khi công trình còn
đang dang dở. Các học trò của ông mãi mãi noi gương ông, kế tục sự nghiệp
của ông. Giáo sư Tôn Thất Tùng với tài cao, đức trọng đã cứu sống hàng ngàn
chiến sĩ và đồng bào mắc bệnh hiểm nghèo. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách
mạng, hết lòng, hết sức phục vụ người bệnh. Và nhiều tấm gương khác như
cố Bộ trưởng Hoàng Tích Trí, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Văn Hưởng và các giáo
sư Trần Hữu Tước, Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Xuân Nguyên, Đặng Văn Chung,
Vũ Công Hoè, Trương Cam Cống… được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh hoặc phong danh hiệu Anh hùng Lao động.
Những năm gần đây, Bộ Y tế đặc biệt chú ý thể chế hoá các nội dung y
đức để cán bộ trong ngành phấn đấu thực hiện. Đó là Chỉ thị 04/BYT- CT của
Bộ trưởng Bộ Y tế về vấn đề y đức và Quyết định số 2088/BYT- QĐ ngày
24
06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về y đức bao gồm 12
điều về tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế.
Cùng với 12 điều quy định y đức ban hành chung cho toàn thể cán bộ y
tế trong ngành, trong mỗi lĩnh vực của ngành đều đã ban hành thêm một số
chuẩn mực có tính chất đặc thù cho phù hợp với mỗi lĩnh vực. Ví dụ Quyết
định số 2526/QĐ- BYT ngày 21/08/1999 về tiêu chuẩn cụ thể phấn đấu về y
đức áp dụng cho mỗi cá nhân, tập thể, khoa phòng và bệnh viện trong tất cả
các cơ sở khám chữa bệnh. Quyết định số 2965/BYT- QĐ ngày 30/9/1999 của
Bộ trưởng Bộ Y tế về kiểm tra, đánh giá hoạt động công tác chuyên môn và
tập trung vào đánh giá thực hiện các tiêu chuẩn cụ thể phấn đấu về y đức.
Trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền