Bài tập NCKH
LỜI CẢM ƠN
Kính gửi lời cảm ơn chân thành đến:
BGH trường Đại Học An Giang, tập thể giảng viên giảng dạy ở khoa sư phạm trường Đại
Học An Giang và thầy Lý Văn Hà – Trưởng Đoàn KTSP – đã nhiệt tình trong công tác chỉ đạo giúp
em có những cơ sở lí luận cơ bản, khoa học để em hoàn thành tốt bài nghiên cứu khoa học( NCKH)
này.
Em cũng xin cám ơn đến với BGH Trường THPT Võ Thị Sáu thầy hiệu trưởng PHẠM
VĂN TỚI cùng BCH Công Đoàn cơ sở, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM, và tập thể giáo viên
Trường THPT Võ Thị Sáu đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em hoàn
thành tốt bài NCKH này.
Và hơn hết cho phép em được gủi lời cám ơn đến cô HUỲNH ĐẶNG THANH LAM - giáo
viên hướng dẫn chủ nhiệm, cô BÙI THỊ KIM TUYẾN và cô NGUYỄN HUỲNH THU - giáo viên
hướng dẫn chuyên môn cùng tập thể lớp 11A10. Thời gian kiến tập ở trường chỉ có ba tuần, một
khoảng thời gian không nhiều cho việc thu thập tài liệu, tìm hiểu thực tế …, để tiến hành thực hiện
một đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là lần đầu tiên em làm bài nghiên cứu nên không tránh khỏi
thiếu sót, sai lầm, mong quý thầy cô thông cảm và bỏ qua cho em .
Chân Thành Cảm Ơn!
Long Xuyên, ngày 21 tháng 11 năm 2010
Sinh viên
-Trang 1 -
Bài tập NCKH
LỜI NÓI ĐẦU
- Trong công nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay giáo dục đóng một vai trò rất
quan trọng. Đảng và nhà nước ta đã xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trong sự nghiệp
giáo dục đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tìm tòi, học hỏi những phương pháp giảng dạy
nhằm truyền đạt tri thức cho học sinh tốt nhất . Không chỉ vậy phải giúp học sinh có hứng thú với
môn học khi đó sẽ có sự hợp tác tốt nhất giữa thầy và trò nhằm đạt được kết quả dạy và học cao
nhất. Vì vậy vấn đề khó là giáo viên phải lựa chọn phương pháp giảng dạy nào để học sinh có hứng
thú cao nhất với môn học, khi đó học sinh sẽ tiếp thu bài mới nhanh.
- Theo thực tế học tập môn tin học của lớp 11A 10 từ đầu năm học đến nay thì điểm của các em
còn thấp và câu hỏi đặt ra là lý do của vấn đề đó là gì. Vì thầy cô giáo trong trường có chuyên môn
cao vậy thì phải chăng vấn đề đó nằm ở học sinh.
Để trả lời câu hỏi trên và nhằm tìm ra biện pháp thích hợp giúp các em học tập tốt hơn môn tin học
(một môn khá quan trọng trong chương trình THPT) nên em mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Tìm
hiểu phương pháp tạo hứng thú học tập môn tin học của học sinh lớp 11A10 trường THPT Võ
Thị Sáu”
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Nhằm tìm ra các phương pháp dạy học, các thủ thuật của giáo viên hướng dẫn giảng dạy, từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân mình.
- Hiểu được các mức độ tác động của các thủ thuật, các phương pháp dạy học của giáo viên
đến hứng thú học tập và sự chú ý của học sinh vào bài giảng.
- Đánh giá được hiệu quả tác dụng của các thủ thuật, các phương pháp giảng dạy của giáo
viên đến sự tiếp thu kiến thức của học sinh.
- Tích lũy nhiều kinh nghiệm cho bản thân khi sử dung các phương pháp, thủ thuật vào trong
quá trình giảng dạy nhằm thu hút tối đa sự chú ý của học sinh vào bài giảng.
- Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi trước hết muốn tìm hiểu hiểu phương pháp tạo hứng thú
học tập môn tin học của học sinh nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài giảng. Và rút ra bài
học cho bản thân nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Tin học.
III.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1. Khách thể nghiên cứu:
- Ở đề tài này chúng tôi xác định khách thể nghiên cứu là hoạt động dạy học của giáo viên
Tin hoc .
- Nghiên cứu tâm lý học lứa tuổi để tìm ra cơ chế gây ra sự chú ý của học sinh.
- Nghiên cứu giáo dục để có cách giảng dạy phù hợp tạo ra sự chú ý ở học sinh
- Nghiên cứ phương pháp dạy học để thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng ở
môn Tin hoc 11.
- Nghiên cứ sách giáo khoa, sách giáo viên.
- Tham khảo đề tài khoa học có liên quan.
2. Phương pháp thống kê:
-
Tôi sử dụng phương pháp này để sử lý số liệu thu thập được, từ đó có cơ sở để
phân tích, so sánh những nội dung cần tìm hiểu.
3. Phương pháp quan sát sư phạm:
- Mục đích: đây là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp về quá trình giáo dục, giúp
có tài liệu sống về thực tiễn giáo dục nhằm chỉ đạo quá trình giáo dục tốt hơn.
- Đối tượng: Tiến hành phạm vi rộng đối với học sinh và giáo viên giảng dạy Tin học
11 thông qua việc dự giờ, quan sát hành động học tập chính khóa, ngoại khóa, vui chơi…
4. Phương pháp điều tra :
- Tôi đã tiến hành điều tra trắc nghiệm đối với tập thể lớp 11A10 để thu thập những dữ
liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
5. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia :
- Tôi đã thảo luận với một số giáo viên có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn trong
tổ bộ môn để có những thông tin chính xác khoa học .
6. Phương pháp đọc sách và tài liệu:
- Để có những số liệu cụ thể ,tôi tiến hành thu thập và thống kê học sinh đạt loại giỏi,
khá, trung bình theo tỉ lệ phần trăm (%). Qua đó rút ra những nhận xét sơ bộ về tình hình học tập của
học sinh.
7. Phương pháp đàm thoại
Là phương pháp mà người giáo viên dùng một số câu hỏi có tính hệ thống trao đổi cùng
với học sinh, giáo viên trong quá trình trò chuyện nhằm tìm hiểu động cơ, thái độ, tinh thần dạy và
học, mức độ chú ý và các biện pháp gây chú ý học tập ở bộ môn Tin học 11
Phần II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
I. KHÁI NIỆM CHÚ Ý :
Chú ý: là trạng thái tâm lý đi kèm theo quá trình tâm lý khác, có tác dụng hướng các quá
trình này tập trung vào một số đối tượng nhất định, tạo điều kiện cho đối tượng đó được phản ánh
một cách tốt nhất.
Chú ý là một trạng thái tâm lý vì nó luôn đi kèm theo các quá trình tâm lý chủ yếu là quá
trình nhận thức.Các loại chú ý:
Chú ý không chủ định:
- Là loại chú ý không có mục đích tự giác, không có ý định dùng một biện pháp nào mà vẫn
chú ý được do đặc điểm của bản thân đối tượng và quan hệ của nó với xu hướng cá nhân.
Những nguyên nhân gây ra chú ý không chủ định :
- Do cường độ tương đối mạnh của vật kích thích so với ngoại cảnh (kể cả cường độ vật lý,
tâm lý xã hội).
- Do tính tương phản của vật kích thích so với ngoại cảnh.
- Do biến đổi của vật kích thích .
- Do quan hệ của đối tượng với nhu cầu, hứng thú, sở thích cá nhân.
- Do đặc điểm sinh lý của từng cá nhân khác nhau.
Những đặc điểm của chú ý không chủ định:
- Không có mục đích đặt trước, không cần biện pháp mà vẫn chú ý được .
- Không đòi hỏi cố gắng nên không căng thẳng thần kinh.
- Chú ý không chủ định kém bền vững.
Chú ý có chủ định:
- Là loại chú ý có mục đích tự giác, có kế hoạch, có biện pháp để hướng dẫn sự chú ý vào
đối tượng cần thiết, nó đòi hỏi sự nỗ lực nhất định .
Đặc điểm của chú ý có chủ định :
Có đề ra mục đích, nhiệm vụ, kế hoạch và biện pháp để chú ý.
riêng ...chỉ có một số học sinh nhưng lại làm ảnh hưởng đến giờ học, chi phối hoạt động dạy của
giáo viên.
II.VAI TRÒ CHÚ Ý
1. Đối với học sinh
• Chú ý giúp cho học sinh tập trung vào bài giảng, từ sự tập trung cao vào bài giảng
làm cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách tích cực và chủ động, nhờ đó tiết học của giáo viên trở
nên sôi động
• Nhờ vào sự chú ý mà học sinh sẽ tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và ghi nhớ
kiến thức đó rất lâu dài. Từ đó sẽ tạo nên hứng thú học tạp bộ môn mà giáo viên đó giảng dạy.
• Chú ý làm cho học sinh hiểu bài được sâu hơn, từ đó gúp cho học sinh nhẹ nhàng hơn
trong việc ôn tập, kiểm tra, nhờ đó mà khắc phục được tình trạng học tủ, học thuộc lòng một cách
máy móc ở học sinh
• Chú ý cao vào bài giảng của giáo viên, giúp học sinh hiểu được bản chất của vấn đê
trong bài học, từ đó hình thành ở học sinh thế giới quan và nhân sinh quan khoa học đáp ứng được
nhiện vụ giáo dục đề ra.
• Xu hướng mới của ngành giáo dục hiện nay là đổi mới phướng pháp và cách thức dạy
học để phát huy vai trò tích cực tự học, tự quản lí của học sinh, khắc phục những phương thức dạy
học lỗi thời như: đọc- chép, phương pháp giảng diễn một cách máy móc các kiến thức có sẵn trong
sách giáo khoa. Tuy nhiên để áp dụng được các phương pháp dạy học mới đó, nhân tố quan trọng mà
người giáo viên quan tâm đến nhiều nhất đó là sự tập trung chú ý của học sinh vào bài giảng của
người giáo viên bởi vì sự chú ý của học sinh vào bài giảng kích thích được sự hứng thú học tập, tính
chủ động học tập của học sinh, nhờ đó mà học sinh sẽ tích cực phát biểu để xây dựng bài học phong
phú hơn.
2. Đối với người giáo viên
• Là một giáo viên đứng lớp để giảng dạy, ai cũng muốn học sinh của mình hiểu bài
một cách sâu sắc. Do đó, người giáo viên không ngừng tìm đủ mọi phương pháp, mọi thủ thuật để
nâng chất lượng tiết dạy của mình. Tiết dạy cả người giáo viên không thể đạt được kết quả tốt nếu
như người giáo viên đó không có những biện pháp, thủ thuật để kích thích sự chú ý củ học sinh vào
bài giảng của mình.
• Hứng thú giảng bài của người giáo viên cũng đóng vai trò quan trọng đến việc truyền
- Giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh chỉ cần nhớ lại một cách chính xác kiến thức đã có sẵn,
học sinh trả lời không cần suy luận
- Phương pháp này được sử dụng khi ôn tập tổng kết.
b.1.2 Phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận
- Là phương pháp mà học sinh độc lập giải quyết từng phần nhỏ mà giáo viên đặt ra, có thể
trên lớp hoặc học sinh quan sát được ở vườn trường. Qua đó học sinh sẽ tiếp thu được nhiều kiến
thức hay một chủ thể nào đó một cách trọn vẹn.
b.1.3 Tác dụng của phương pháp hỏi đáp
- Gây hứng thú nhận thức, khát vọng tìm tòi ở học sinh, vì vậy nội dung được học sinh lĩnh hội
một cách vững chắc.
- Dạy cho học sinh trình tự các bước giải quyết vấn đề, giúp học sinh nắm vững các thao tác tư
duy.
- Phương pháp này giúp cho giáo viên thu được thông tin ngược về chất lượng lĩnh hội của học
sinh.
c. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Đồ dùng trực quan là các tranh ảnh, sơ đồ….
c.1 Nội dung phương pháp: là phương pháp mà người giáo viên sử dụng các đồ dùng trực quan có
liên quan đến bài học để giảng dạy đến học sinh, giáo viên phân tích các đồ dùng trực quan đó sau
đó bằng những câu hỏi gợi mở giáo viên sẽ làm rõ từng vấn đề trong nội dung bài học
c.2 Tác dụng của phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
- Đồ dùng trực quan đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát cho quá trình nhận
thức cho học sinh.
- Đồ dùng trực quan là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, vì vậy nó là phương tiện duy nhất
giúp hình thành kỹ năng, kỹ xão thực hành và tư duy kỹ thuật.
- Đồ dùng trực quan giúp cho học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng trong Vật lý
học, hiểu rõ các định luật vật lý, thuyết vật lý….
-Trang 8 -
khuôn máy móc.
- Việc trình bày bảng đẹp và ngắn gọn giúp cho học sinh theo dõi bài được dễ dàng hơn,
kích thích sự chú ý của học sinh vào bài giảng, tránh được trường hợp học sinh lơ là trong việc tiếp
thu kiến thức.
- Mỗi phương pháp dạy học có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Trong quá trìng dạy
học, người giáo viên sử dụng nhiêu phương pháp dạy học nhằm khắc phục được nhược điểm của
phương pháp này đồng thời phát huy được ưu điểm của phương pháp kia. Nếu trong môt tiết dạy
người giáo viên chỉ biết áp dụng một phương pháp riêng lẻ, ví dụ như phương pháp giảng diễn, thì
tiết học đó sẽ rất khô khan, không phát huy đựợc hứng thú học tập của học sinh, do đó không kích
thích đươc sự chú ý của học sinh vào bài giảng của mình.
- Đồ dùng trực quan có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học. Việc sử dụng đồ
dùng trực quan trong quá trình giảng dạy là công việc bắt buộc đối với người giáo viên giảng dạy
Vật lý. Việc sử dụng đồ dùng trực quan đúng lúc đúng cách sẽ kích thích được thái độ học tập tích
cực của các em.
- Trong phần củng cố bài cho học sinh, giáo viên chỉ cần hỏi những phần trọng tâm của
bài, điều này rất quan trọng bởi vì nó làm cho học sinh tập trung chú ý nhiều hơn những phần trọng
-Trang 9 -
Bài tập NCKH
tâm của bài học, như vậy học sinh sẽ hiểu bài nhiều hơn do đó chất lượng của ngành giáo dục sẽ
được nâng lên
- Mỗi lớp học, mỗi nhóm đối tượng học sinh điều có những đặc điểm riêng về trình độ học
vấn, đặc điểm tâm sinh lý, khả năng chú ý có chủ định, khả năng ghi nhớ kiến thức. Người giáo
viên cần phải có sự hiểu biết về những đặc điểm này để có nhữnh phương pháp dạy học đúng đắn
kích thích sự chú ý củ học sinh vào bài giảng.
CHƯƠNG II:NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
I.VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
1.
0
3
huy động
đạt
11
12
470
495
265
15
10
0
495
0
0
12
460
1
12
455
208
8
0
455
0
0
1
Cộng
36
1415
85
1
3
Nhân viên
7
Cộng
12
5
4
3
12
0
1
6 10
2
8
7
6
96
4
c. Tình hình cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học.
Hội trường: 0
mạng.
ở các tổ bộ môn nên hiệu quả giảng dạy còn hạn chế.
1.2 Vài nét về Lớp 11A10.
GVCN: Cô HUỲNH ĐẶNG THANH LAM.
Ban cán sự lớp:
+ Lớp trưởng:
Thái Thị Thùy Loan( Bí thư chi đoàn)
+ Lớp phó học tập:
Nguyễn Thị Mỹ Nhiên.( phó bí thư chi đoàn)
+ Lớp phó Trât Tự:
Võ Dương Huỳnh Duy.( Phó Lao Động).
+ Lớp Phó Văn Thể:
Võ Thị Ngọc Trâm.
+ Thủ Quỹ
:
Phạm Thị Minh Tâm.
Có học sinh ở trường ngôi sau chuyển qua :
Ngô Văn Thái
Trịnh Thiện Hiệp.
Trần Thanh Dương.
Học sinh ở trường Châu Phong chuyển qua:
Nguyễn Văn Quý
Tổng số học sinh: 43 (trong đó 23 nữ)
Số Đoàn viên: 26 HS đã và đoàn, 17 HS chưa vào đoàn.
Chỉ tiêu hạnh kiểm: (có học sinh yếu, rèn luyện hè,…)
+ Tốt:
24 HS tỉ lệ 55,8%
+ Khá:
15 HS tỉ lệ 34,9%
+ Trung bình: 4 HS tỉ lệ 9,3%
2.
- Thông qua việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu. Bước đầu tôi tiến hành trao đổi
với học sinh, các giáo viên dạy môn Tin học. Qua quá trình làm việc tôi đã hiểu được tình hình học
tập môn Tin học của học sinh khối 11 mà tôi dự giờ. Từ kết quả đó sẽ có hướng giảng dạy tốt, nâng
cao chất lượng sau này.Trong thời gian làm đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
thể sau:
3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nội dung thực nghiệm góp phần làm
cho quá trình nghiên cứu đạt kết quả cao.
Phương pháp quan sát
Trong quá trình kiến tập ở trường THPT Võ Thị Sáu tôi đã quan sát và tìm hiểu các em học
sinh lớp 11A10 ở các mặt sau:
- Quan sát thái độ học tập của các em trong giờ Tin học
- Quan sát và ứng dụng những điều đã học của môn Tin học vào việc giải thích các hiện
tượng trong thực tế
- Quan sát các hoạt động ngoại khóa của học sinh như tham gia tham quan thiên nhiên, lao
động.
Phương pháp đàm thoại
- Trong quá trình kiến tập tôi đã trao đổi với giáo viên giảng dạy môn Tin học cùng các
phụ huynh học sinh để hiểu được sự quan tâm giúp đỡ đối với việc học môn Tin học của các em. Cụ
thể như sau:
Các câu hỏi thầy cô giảng dạy môn Tin học 11.
Các câu hỏi trao đổi cùng phụ huynh học sinh.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
1. Kết quả nghiên cứu.
-Trang 12 -
Bài tập NCKH
1.1.Nghiên cứu lý thuyết
trình học các em chưa nắm được phương pháp học tập và nội dung học một số bài cũng khá phức
tạp, trừu tượng có sự kết hợp của nhiều môn lại, một số bài thì quá nhiều công thức dài làm cho các
em dễ quên và đâm ra chán nản.
- Nguyên nhân trực tiếp nhất khiến cho các em không thích học môn Tin học là do các em
cho rằng môn Tin học là môn phụ không giúp ích gì cho cuộc sống cũng như việc chọn nghề cho các
em sau này.
- Các giáo viên cho rằng, chất lượng học tập môn Tin học cũng như các môn khác phần lớn
phụ thuộc váo phương pháp, phong cách giảng dạy của giáo viên. Bởi lẽ day và học là hai hoạt động
tương tác tác động lẫn nhau. Nếu thầy, cô dạy hay, biết kích thích sự chú ý của học sinh thì học sinh
-Trang 13 -
Bài tập NCKH
sẽ thích học, dẫn đến kết quả học tập cao và ngược lại giáo viên dạy khó hiểu, kém vận dụng mối
liên hệ sẽ gây cho học sinh cảm giác khó chịu, chán học, dẫn đến kết quả học tập thấp.
- Nói chung đây là môn học để vận dụng vào thực tế cuộc sống, giáo dục ý thức, yêu
thương tổ quốc.
- Bài tập trong sách gióa khoa có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập,
khắc sâu hơn những kiến thức lý thuyết đã học và rèn luyện kỹ năng kỹ xão, tư duy cho học sinh.
Ngoài kiến thức đã học trong sách, giáo viên cũng yêu cầu học sinh đọc thêm các tài lệu sách báo,
liên hệ vào thực tế cuộc sống …. Góp phần làm phong phú hơn và sâu sắc hơn những kiến thức đã
học. Bên cạnh đó giáo viên còn phải hướng dẫn cho học sinh thực hành thật tỉ mỉ các bài tập thực
hành trong sách giáo khoa để kiểm nghiệm lại các kiến thức đã học, giúp cho các em say mê học
môn Tin học 11 hơn nữa.
* Phía Phụ huynh học sinh tâm sự:
- Nhìn chung đa số phụ huynh thấy rằng con em mình thích học môn Tin học vì các em
thường sử dụng các kiến thức đã học được ở trên lớp vào việc tim tài liệu học tập và giải trí .
- Khi nói về vần đề học tập Môn học ở trường thì các phụ huynh cho rằng môn nào cũng
quan trọng cả, mỗi môn cung cấp cho ta những kiến thức khác nhau từ đó bổ xung nhau cung phát
b
51%
4
9%
0
0%
0
0%
43
2
15
34.9%
14
33%
3
43
4
1
2.3%
10
23.3%
24
55.8%
5
11.6%
43
5
7
16.2%
0
7
25
58.1%
10
23.3%
5
11.6%
0
0%
43
8
4
9%
7
16.2%
TL%
Số
HS
f
65.1
%
30.2
%
5
11.6%
43
43
Bài tập NCKH
- Phương pháp dạy học khám phá.
- Phương pháp dạy học sử dụng các phương tiện trực quan, hình vẽ.
- Phương pháp dạy học ứng dụng công nghệ thông tin.
2.2.Những thủ thuật biện pháp của giáo viên trong tiết dạy nhằm tập trung và duy trì
sự chú ý của học sinh:
Kết quả của sự tập trung và chú ý của học sinh vào bài giảng của giáo viên( phương pháp
giảng):
giải quyết được, từ đó kích thích sự tò mò, hứng thú của HS đối với bài học mới.
- Khi dạy GV đã yêu cầu HS quan sát các hình vẽ trong SGK, để từ đó rút ra nhận xét. GV
định hướng HS trả lời theo yêu cầu của GV, tránh trường hợp đi lạc đề. GV đã yêu cầu các HS thảo
luận nhóm, ở đây GV đã biết khéo léo phát huy vai trò làm việc của tập thể.
- Sau khi HS trình bày các câu trả lời của mình, GV đã chốt lại những vấn đề chính cần ghi
nhớ để HS có thể điều chỉnh, bổ sung những vấn đề còn thiếu, sai sót vào vở bài soạn.Trong tiết học,
để thu hút sự chú ý của HS, GV đã yêu cầu HS làm việc là chính như: nghiên cứu SGK, thảo luận
nhóm, tư duy, xung phong trả lời. Từ đó tạo không khí học tập sôi nổi tích cực, chính không khí học
tập như vậy đã lôi kéo các HS thường mất tập trung trở nên tập trung vào bài học hơn.
-Trang 15 -
Bài tập NCKH
- Đồng thời GV luôn đưa ra các câu hỏi để cho các HS tư duy, thảo luận. Bên cạnh việc gọi
các em HS giơ tay lên trả lời câu hỏi, GV cũng thường gọi các em HS không giơ tay, và những em
ngồi ở cuối lớp, vì các em này rất dễ mất tập trung. Điều đó giúp cho không những các em thường
xuyên tích cực tập trung chú ý vào bài giảng mà còn giúp cho các em thụ động cũng tập trung.
- Khi nêu lên các câu hỏi, GV thường nêu lên dưới dạng một câu hỏi khám phá để kích
thích sự tư duy của HS, ví dụ như: Tại sao nó lại phát triển như vậy?
Phần củng cố, dặn dò:
- GV đã sử dụng bài tập SGK để cũng cố lại các kiến thức. Đồng thời GV đưa ra những
câu hỏi để kiểm tra mức độ nắm kiến thức của HS, xem HS có nắm kiến thức một cách lệch lạc
không, từ đó để có biện pháp điều chỉnh lại hay giảng lại những phần mà HS chưa nắm. Ngoài ra,
GV còn cho HS có thể nêu lên những câu hỏi để GV giải đáp, điều này giúp cho các em cảm thấy tự
tin hơn.
b.Những phương pháp, thủ thuật, biện pháp nhằm tạo bầu không khí học tập trong tiết dạy
của GV:
- Vấn đề khá quan trọng để các em HS nắm được kiến thức vững, tập trung chú ý là bầu
không khí học tập. Bầu không khí học tập có tích cực, sôi nổi mới có thể gây cho HS sự hứng thú
tối đa sự chú ý của học sinh.
-Trang 16 -
Bài tập NCKH
- Sự khôi hài đúng chổ, sự pha trò nhẹ nhàng, sự châm biếm dí dỏm cũng có tác dụng giúp học
sinh tích cực suy nghĩ, học tập sôi nổi và tiếp thu bài tốt hơn. Nếu ngôn ngữ của thầy đều đều, đơn
điệu sẽ gây mệt mỏi nhanh chóng uể oải, nhịp độ quá to hoặc quá nhỏ cũng chịu ảnh hưởng tương
tự. Nhịp độ tối ưu đối với sự tập trung của học sinh là nhịp độ trung bình và hoạt bát.
2.3.Nhận xét :
- Trong tiết dạy, GV đã rất tài tình và khéo léo trong việc vận dụng các phương pháp khác
nhau trong tiết dạy. Các phương pháp ấy đan xen hòa hợp vào nhau, được GV sử dụng một cách
nhuần nhuyễn, lôi cuốn học sinh. Chính sự lôi cuốn này đã mang lại một tiết học sôi nổi, sinh động,
gây được hứng thú cho HS.
- Đồng thời kết hợp với thái độ tình cảm đúng mực, tinh thần trách nhiệm sư phạm đã tạo cảm
giác thoải mái, gần gũi cho học sinh, giúp các em chú ý, tập trung vào bài giảng, học tốt hơn.
- Để làm được việc này, GV phải chuẩn bị rất chu đáo về mặt sư phạm, về mặt thiết kế bài
giảng cùng với việc vận dụng các phương pháp dạy học sao cho vừa sinh động, uyển chuyển vừa
phù hợp với đặc thù của mỗi lớp và trình độ nhận thức, năng lực của từng HS. Song song đó GV
phải cho kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm vững vàng để có thể giải quyết tốt các tình
huống có thể xảy ra trong tiết dạy.
- Tuy nhiên, do cơ sở vật chất của trường còn gặp nhiều khó khăn nên trong quá trình giảng
dạy GV chưa thể áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại là dùng giáo án điện tử, nên cũng còn một
số hạn chế nhất định trong việc giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức.
- Thiết nghĩ nếu GV có điều kiện áp dụng phương pháp giảng dạy dùng giáo án điện tử thì bài
dạy sẽ sinh động hơn, và thu hút sự tập trung chú ý của HS nhiều hơn, tạo cho các em hứng thú học
tập cao hơn, từ đó đạt kết quả tốt hơn trong dạy và học.
3. Bài học kinh nghiệm.
Thông qua đợt kiến tập sư phạm, được dự giờ tiết dạy môn Tin học và trao đổi với GVHD, tôi
Từ những phân tích trên, tôi đã có được những cơ sở khoa học chính xác để rút ra những kết luận và
đưa ra những đề xuất nhằm đẩy mạnh việc học tập ở nhà của học sinh lớp 11A10 nói riêng và khối
lớp 11 – trường THPT Nguyễn Khuyến nói chung. Cụ thể như sau:
I. KẾT LUẬN:
- Trong quá trình dạy học,giáo viên sử dụng phương pháp để gây sự chú ý của học sinh vào bài
giảng là rất quan trọng, nó quyết định thành công hay thất bại của mỗi tiết dạy của giáo viên. Muốn
làm được điều đó phải có nhiều nhân tố tạo thành.
- Qua đợt kiến tập sư phạm, tôi đã thâm nhập thực tế của trường THPT Võ Thị Sáu, tìm hiểu
quá trình học tập môn Tin học của lớp 11A10, tôi quyết định chọn đề tài này, và thực hiện nó rất nỗ
lực.
- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã thu thập được rất nhiều kinh nghiệm quý báu, đặc biệt
là trong lĩnh vực chuyên môn. Tuy đã được học các học phần phương pháp dạy học Tin học ở trường
sư phạm, nhưng khi va chạm với thực tế thì tôi thấy có nhiều vấn đề mới nảy sinh. Trong đợt kiến
tập sư phạm này tôi được dự giờ các tiết dạy môn Tin học, sau khi dự giờ xong, điều làm tôi trăn trở
nhất đó là: trong lúc dạy học làm sao người GV có thể thu hút sự tập trung chú ý của HS vào bài
giảng, tránh gây hiện tượng nhàm chán trong giờ học.
- Khi thực hiện đề tài “Tìm hiểu phương pháp tạo hứng thú học tập môn tin học của học
sinh lớp 11A10 trường THPT Võ Thị Sáu”, tôi đã giải quyết được phần lớn những trăn trở của
mình. Tôi nhận thấy để có thể thu hút sự chú ý tập trung của HS đòi hỏi người GV phải có sự chuẩn
bị kỹ lưỡng về kiến thức, kỹ năng sư phạm, giáo án, phải dự trù được những tình huống sư phạm có
thể xảy ra, đồng thời phải biết bình tĩnh, xử lí linh hoạt, khéo léo các tình huống sư phạm mà thực tế
tiết dạy gặp phải.
- Được sự giúp đỡ nhiệt tình của GVHD và nỗ lực của bản thân tôi đã thực hiện thành công đề
tài này và đã rút ra được những bài học quý báu, từ đó tôi có thể thấy được thực tế dạy học của một
người GV, để hoàn thiện những kiến thức và kỹ năng sư phạm cho bản thân mình, phục vụ cho đợt
thực tập ở năm sau mà quan trọng hơn là khi ra trường trở thành một GV thực sự.
- Nhân tô quan trọng trong nghiên cứu của tôi là giáo viên vì giáo viên là người đề ra những
phương pháp giúp học sinh nắm và hiểu bài . Tuy nhiên nhân tố quan trọng hơn hết đó là ý thức tự
giác học tập của chính bản thân các em
II. ĐỀ XUẤT:
học sinh lớp 11A10 nói riêng và các em học sinh khối lớp 11 – trường THPT Võ Thị Sáu nói
chung.
Xin chân thành cảm ơn!.
Long Xuyên, ngày 23 tháng 11 năm 2011
Sinh viên
Lâm Văn Len
-Trang 19 -
Bài tập NCKH
PHỤ LỤC
Phụ lục 1:
PHIẾU THĂM DÒ
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN ĐỐI VỚI HỌC SINH
1. Bạn nghĩ có được phương pháp học tốt môn tin học có ý nghĩa như thế nào trong việc
học tập tốt môn tin học:
a. Rất quan trọng.
b. Quan trọng.
c. Bình thường.
d. Không quan trọng.
a. Ý kiến khác............................……………………………………………
2. Bạn thường dành bao nhiều thời gian cho việc học môn tin học:
a. 30 phút .
b. 60 phút.
c. 20 phút.
d. Ý kiến khác…………………………………………………………….
3. Cách bạn chọn Phương pháp học tập ở nhà là:
b. Biết nhiều thông tin xã hội.
c. Cũng cố lại những kiến thức đã học.
d. Cả a và b.
e. Cả a, b và c.
f. Ý kiến khác:
……………………………………………
8. Theo em lợi ích của môn Tin học này là gì ? Và chúng ta có cần học môn Tin học hay
không ?
Trả lời:……………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………..
-Trang 21 -
Bài tập NCKH
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Th.s Đỗ Văn Thông – Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại học An Giang 2005.
2. Lê Thanh Hùng – Tâm lý học đại cương, Đại học An Giang.
3. Th.s Nguyễn Thị Cúc – Giáo dục học 2, Đại học An Giang.
-Trang 22 -