1
Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp
10 trong dạy học phần thơ Đường
METHODS TO CREAT INSPIRATION TO STUDY FOR 10 GRADE STUDENTS IN TEACHING THE TANG POETRY
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 117 tr. +
Phạm Thị Thủy Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn);
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Ban
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp tạo hứng
thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường. Đề xuất một số biện pháp tạo
hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường. Thực nghiệm sư
phạm để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong dạy học phần thơ Đường đã đề xuất.
Keywords: Hứng thú học tập; Thơ Đường; Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn
Content
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đối với dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay, việc tạo hứng thú học tập cho
HS được coi là một yêu cầu cấp thiết. Đã và đang có ngày càng nhiều HS thờ ơ hay coi thường
môn Ngữ văn vì thấy môn học này nhàm chán, khuôn sáo, nặng nề, ít hấp dẫn. Vậy cần phải có
những biện pháp cụ thể để thay đổi cách nhìn trên đối với môn Ngữ văn, đem lại hứng thú học tập
cho các em khi đến với môn học.
Các kết quả nghiên cứu về nội dung, nguyên tắc khi dạy học thơ Đường, những lí thuyết
về hứng thú học tập của học sinh và các biện pháp tạo hứng thú ở các lĩnh vực kiến thức khác
nhau mà các công trình trên đề cập đến đã gợi dẫn chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các nội dung lí luận trong các công trình
trên làm cơ sở lí luận cho đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học
phần thơ Đường nhằm giúp HS yêu thích học nội dung này. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học thơ Đường nói riêng, dạy học văn học nước ngoài và môn Ngữ văn nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra ở trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các
biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường.
- Đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp tạo hứng thú học
tập cho HS trong dạy học phần thơ Đường đã đề xuất. 3
4. Phạm vi nghiên cứu và hƣớng triển khai nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
- Quá trình dạy học phần thơ Đường trong chương trình Ngữ văn lớp 10 có vận dụng các
biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh.
- Mẫu khảo sát:
Các bài học về thơ Đường, chương trình Ngữ văn 10 (chương trình chuẩn).
Mẫu thực nghiệm:
Lớp 10A4 - Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Hà Nội.
4.2. Hướng triển khai nghiên cứu
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát về thơ Đƣờng
Thơ Đường được xem là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đường (618– 907), là mẫu
mực của thơ ca Trung Quốc nói riêng và thơ ca trung đại phương Đông nói chung, thậm chí là
đỉnh cao của thơ ca nhân loại.
Chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu, đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp
10 trong dạy học phần thơ Đường cần dựa trên những kiến thức cơ bản như sau:
1.1.1. Những yếu tố cơ bản chi phối đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ Đường
1.1.1.1 . Hoàn cảnh chính trị, xã hội
Mỗi thời kì có hoàn cảnh chính trị - xã hội khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung,
nghệ thuật của thơ Đường.
1.1.1.2. Tư tưởng văn hóa
Về mặt tư tưởng, đặc điểm của đời Đường là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và
Phật. Tình trạng Tam giáo đồng nguyên này có ảnh hưởng đối với khuynh hướng sáng tác của thi
nhân, tạo ra những phong cách, trường phái và cảm hứng sáng tác đa dạng của thơ Đường.
1.1.2. Các đề tài và trường phái thơ Đường
1.1.2.1. Đề tài
Đề tài trong thơ Đường có những nội dung đa dạng và phong phú, với nhiều hình thức
diễn đạt phóng khoáng.
1.1.2.2. Các trường phái
Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ, thơ ca đời Đường xuất hiện
nhiều trường phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ, nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở
thời kì này được đời sau truyền tụng và ca ngợi. Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà văn học sử
Trung Quốc đã chia thơ Đường thành các trường phái sau:
- Trường phái Điền viên sơn thủy
- Trường phái thơ Biên tái
- Trường phái lãng mạn
- Trường phái hiện thực
Nói tóm lại, thơ Đường phong phú về đề tài, nổi bật và tập trung nhất vào hai khuynh
hướng sáng tác là hiện thực và lãng mạn. Hiện thực và lãng mạn là hai bộ phận thống nhất trong
- Thời gian đời thường: Thời gian đời thường chủ yếu là thời hiện tại, có tính cụ thể khi
kể về cái đang diễn ra rất thực, rất đời thường như trong bài Thạch hào lại hay Mao ốc vị thu
phong sở phá ca của Đỗ Phủ.
1.1.3.4. Thể loại và ngôn ngữ
Thể loại: Các nhà thơ đời Đường sử dụng hai thể thơ chính là cổ thể và kim thể.
Ngôn ngữ:
Thơ Đường ít lời nhiều ý, ý ở ngoài lời. Ngôn ngữ thơ Đường là ngôn ngữ tinh luyện, có
tính khái quát cao, giàu hình ảnh và cảm xúc.
1.2. Thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn 10
1.2.1. Nội dung dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
1.2.1.1. Khảo sát các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
Trong số rất nhiều tác giả, tác phẩm như trên, chương trình Ngữ văn lớp 10
(chương trình chuẩn) chỉ tuyển chọn 5 bài thơ Đường là:
6
Bảng 1.1. Các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
STT
Tên tác phẩm
Tên tác giả
Ghi chú
1
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng
Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng)
Lí Bạch
2
Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)
Đỗ Phủ
đạt được mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng trên với một niềm say mê, hứng thú học tập thật sự.
1.2.2. Ý nghĩa của việc dạy học thơ Đường
Về việc đưa thơ Đường vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, cụ thể là chương trình
Ngữ văn 10, không phải ngẫu nhiên mà thơ Đường giữ một vị trí quan trọng trong phần văn học
nước ngoài. Nếu GV giúp HS khám phá và thấy được vẻ đẹp huyền diệu sâu xa của các bài thơ
Đường, HS sẽ bước đầu cảm nhận được giá trị đích thực của một trong những di sản văn học độc
đáo nhất của nhân loại. Hiểu thơ Đường chính là hiểu tiếng nói của người xưa, rung cảm, thấm
thía được những tâm hồn cao đẹp. Thời đại nhà Đường cách đây hơn một ngàn năm nhưng việc
đọc thơ Đường vẫn có những bài phù hợp với ý nghĩa tư tưởng của thời đại mới.
7
Ở một phương diện khác, thơ Đường có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng sâu sắc với thi
ca Việt Nam cả về nội dung và nghệ thuật. Do đó, giúp HS hiểu và yêu thơ Đường, các em sẽ có
cái nhìn sâu sắc hơn đối với văn học Việt Nam từ việc chọn đề tài, xây dựng hình ảnh, cấu tứ đến
sử dụng ngôn ngữ, bút pháp hay thi liệu Nắm được thi pháp thơ Đường sẽ có điều kiện để lí giải
nhiều hiện tượng của thi pháp thơ cổ điển Việt Nam. Nói cách khác, nếu hiểu và yêu thơ Đường,
học sinh sẽ cảm nhận sâu sắc, thấu đáo vẻ đẹp của nhiều tác phẩm văn học Việt Nam.
1.3. Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của học sinh
1.3.1. Các khái niệm
1.3.1.1. Hứng thú
Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với hiện tượng nào đó do ý nghĩa của nó
trong dời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó.
1.3.1.2. Hứng thú học tập môn Ngữ văn
Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt
động học tập, vì sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân.
Dựa vào định nghĩa trên, có thể đưa ra định nghĩa về hứng thú học tập môn Ngữ văn trong
nhà trường phổ thông như sau: Hứng thú học tập trong môn Ngữ văn là thái độ say mê tự giác
tích cực đặc biệt của cá nhân đối với môn Ngữ văn do nhận thức được tầm quan trọng của môn
Ngữ văn và có sự gắn bó tình cảm với nó.
1.3.2. Những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập
1.3.3.3. Điều kiện về phương tiện và PPDH
- Phương pháp vận dụng phải phù hợp với mục tiêu, đặc trưng nội dung và nguyên tắc dạy học.
- PPDH phải phát huy tính tích cực của HS.
1.3.3.4. Điều kiện về môi trường học tập
Để tạo được một môi trường tâm lí học tập thoải mái người GV phải biết cách tổ chức lớp
học, chia nhóm, phải biết tạo niềm tin cho HS qua những hình thức động viên, khen thưởng kịp
thời, hợp lí.
1.3.3.5. Điều kiện về các hình thức kiểm tra đánh giá
Đánh giá đúng, kịp thời sẽ khiến HS có tâm lí thoải mái, tạo được động cơ học tập bên
trong nhưng ngược lại đánh giá không kịp thời, không đúng với năng lực của HS sẽ làm các em
thấy tổn thương, tâm lí không thoải mái, việc nhận thức do đó mà bị ảnh hưởng.
1.3.4. Biểu hiện của hứng thú học tập môn Ngữ văn
1.3.4.1. Biểu hiện của hứng thú học tập nói chung
1.3.4.2. Biểu hiện cụ thể của hứng thú học tập Ngữ văn
Gồm có các mặt biểu hiện: Biểu hiện về mặt trí tuệ, biểu hiện về mặt ý chí, luôn muốn
vươn lên và khẳng định mình, biểu hiện về mặt tình cảm, biểu hiện về mặt kết quả, biểu hiện về
mặt năng lực.
1.3.5. Vai trò của hứng thú học tập đối với môn Ngữ văn
1.3.5.1. Vai trò của hứng thú học tập
Có thể kết luận, hứng thú học tập có vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức và năng
lực học tập của HS.
1.3.5.2. Vai trò của hứng thú học tập trong việc học tập môn Ngữ văn
Hứng thú học tập sẽ là cơ sở nền tảng quan trọng nhất giúp HS cảm thụ văn học bằng hình
tượng.Hứng thú cũng là cơ sở để phát triển tài năng văn học ở HS.
9
Với phần thơ Đường, hứng thú học tập sẽ giúp HS phát huy tính tích cực, chủ động, say
mê khám phá và chiếm lĩnh tri thức về thơ Đường. Qua đó, các em đến với những tâm hồn cao
đẹp, những bài học nhân sinh sâu sắc trong cuộc sống.
1.4. Thực trạng dạy học thơ Đƣờng ở lớp 10 xét từ góc độ tạo hứng thú học tập cho học sinh
10
2.1.2. Đảm bảo tính vừa sức, tạo sức
Tính vừa sức đồng thời tạo sức trong khi tạo hứng thú cho HS trong khi dạy học phần thơ
Đường được thể hiện trên các mặt sau:
- Khối lượng kiến thức đưa vào trong bài học vừa đủ, nằm trong vùng hiểu biết gần của
người học.
- Các hoạt động tổ chức cho HS nhằm giúp các em có hứng thú học tập phải đảm bảo phù
hợp với tâm lí, trình độ phát triển của lứa tuổi.
2.1.3. Đảm bảo tính dân chủ
Tính dân chủ sẽ tạo cho người học cảm giác thoải mái, được tôn trọng trong khi học. Giờ
học nhờ đó sẽ sôi nổi và hấp dẫn hơn, HS có hứng thú hơn.
2.1.4. Đảm bảo phát huy sức mạnh trí tuệ, tình cảm và hứng thú của tập thể
Đối với các bài học thơ Đường, mặc dù mỗi cá nhân HS có năng lực cảm thụ khác nhau,
có sự yêu thích khác nhau, nhưng nếu tạo được không khí học tập sôi nổi chung trong lớp học,
đặc biệt là với các hoạt động nhóm khuyến khích các HS cùng tham gia, chắc chắc các em sẽ tiếp
thu kiến thức một cách chủ động, hào hứng hơn.
Trong các nguyên tắc đã nêu ở trên, chúng tôi cho rằng cần phải đặc biệt chú trọng đến hai
nguyên tắc: Đảm bảo tính hình tượng, nghệ thuật và đảm bảo phát huy sức mạnh trí tuệ, tình cảm
và hứng thú của tập thể.
2.2. Sử dụng các phƣơng pháp dạy học đặc thù bộ môn một cách có hiệu quả để tạo hứng
thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ Đƣờng
2.2.1. Phương pháp đọc sáng tạo
2.2.1.1. Bản chất của phương pháp đọc sáng tạo và khả năng vận dụng để tạo hứng thú cho học
sinh trong dạy học thơ Đường
Có thể nói, đọc sáng tạo là phương pháp đổi mới tích cực trong quá trình dạy học tác
phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông. Phương pháp này có một số ưu điểm nổi bật như:
- Đọc sáng tạo giúp đào sâu vào giá trị nội dung và hình thức của tác phẩm.
- Bước 3: Hướng dẫn HS thực hành tìm hiểu các mối quan hệ: mối quan hệ giao tiếp
giữa tác giả với đối tượng được nói tới, giữa tác giả với nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp,
đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp trong văn bản và giữa tác giả với độc giả.
- Bước 4 : Hướng dẫn HS đánh giá mức độ phù hợp của cách lựa chọn ngôn ngữ, hình
ảnh với hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp
- Bước 5 : Hướng dẫn HS rút ra những nhận định về giá trị nội dung – nghệ thuật, tư
tưởng chủ đề
- Bước 6: Hướng dẫn HS thực hành vận dụng tạo lập một đoạn văn thể hiện những suy
nghĩ của cá nhân về giá trị, về tác giả của văn bản
* Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo để tạo hứng thú cho học sinh khi dạy học một bài thơ
Đường cụ thể
Để làm rõ các bước thực hiện quy trình trên, chúng tôi đưa ra một ví dụ cụ thể: Vận dụng
đọc sáng tạo trong dạy học bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Tại lầu
Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng) của Lí Bạch.
2.2.2. Phương pháp đàm thoại
2.2.2.1. Bản chất của phương pháp đàm thoại và khả năng ứng dụng để tạo hứng thú cho học
sinh trong dạy học thơ Đường
12
Đàm thoại là phương pháp dạy học trong đó GV xây dựng hệ thống câu hỏi cho HS trả lời
hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó tiếp nhận kiến thức. Bản
chất của phương pháp này là sử dụng một hệ thống câu hỏi để gợi cho HS tìm tòi, suy nghĩ nhằm
đạt được những mục tiêu của bài học. GV không trực tiếp đưa ra kiến thức mà hướng dẫn HS tư
duy từng bước để tự hình thành kiến thức.
Phương pháp đàm thoại có ưu điểm là phát huy được năng lực độc lập, óc tìm tòi suy nghĩ,
thói quen trình bày vấn đề trước tập thể của HS, tạo không khí tự do tư tưởng, tự do bộc lộ suy
nghĩ của HS.
2.2.2.2. Việc vận dụng phương pháp đàm thoại nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy
học thơ Đường
* Quy trình thực hiện
- Làm việc theo cặp hai HS (Pairwork).
- Làm việc theo nhóm 4 – 5 HS (Groupwork).
- Ghép nhóm (Jigsaw).
- Kim tự tháp (Pyramid).
* Sự phù hợp của phương pháp dạy học theo nhóm với việc tạo hứng thú cho HS trong dạy học
thơ Đường
PPDH theo nhóm là một PPDH tỏ ra có nhiều khả năng trong việc tạo hứng thú cho HS
trong các giờ dạy học thơ Đường.
2.3.1.2. Quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong dạy học thơ Đường
* Quy trình chung
Bước 1: Định hướng chuẩn bị, khơi gợi hứng thú.
Bước 2: Tiến hành các hoạt động nhóm, tạo hứng thú nhận thức.
Bước 3: Tăng cường hứng thú học nhóm sau giờ học
* Ví dụ : Quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong giờ hướng dẫn đọc
thêm một số bài thơ Đường
2.3.2. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
2.3.2.1. Phương pháp dạy học nêu vấn đề và việc tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy
học thơ Đường.
* Bản chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề
Đặc trưng cơ bản của PPDH này là HS được đặt vào một tình huống có vấn đề. Nó gợi ra
cho HS những khó khăn mà các em cảm thấy cần và có khả năng vượt qua nhưng không thể ngay
lập tức mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ.
* Quy trình thực hiện dạy học nêu vấn đề
- Bước 1: Nêu vấn đề ( GV tạo ra tình huống có vấn đề)
- Bước 2: Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề (hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu vấn đề, làm
rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm)
- Bước 3: Tiến hành giải quyết vấn đề (HS đưa ra lời giải dưới sự hướng dẫn của GV)
- Bước 4: Đánh giá kết quả, phân tích và khai thác lời giải (GV hướng dẫn HS kiểm tra
tính hợp lí, tối ưu của lời giải, so sánh đối chiếu, khái quát hoá )
* Vai trò của phương pháp dạy học nêu vấn đề với việc kích thích hứng thú học tập của học sinh
2.4.1. Công nghệ thông tin với việc tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học thơ Đường
Về cơ bản, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thơ Đường sẽ có tác dụng tích
cực tới việc tạo hứng thú cho HS, bởi những lí do sau:
- Các kiến thức về thơ Đường sẽ trở nên sinh động và gần gũi hơn với HS qua các hình
ảnh, các tài liệu được xử lí qua các phương tiện công nghệ thông tin. Qua đó thế giới nghệ thuật
thơ Đường sẽ đến với HS một cách tự nhiên và lôi cuốn hơn, gần gũi và cụ thể hơn so với nội
dung văn bản đơn thuần trong sách giáo khoa.
- Các kiến thức chỉ thực sự đi vào nhận thức của HS một cách sâu sắc khi chúng phải
được HS tự trải nghiệm, tự nghiên cứu, tìm tòi và thể hiện. Phương tiện giúp HS thực hiện tốt
15
công việc “tự mình” ấy chính là công nghệ thông tin với internet giúp tìm kiếm tài liệu, tranh ảnh
minh họa; với các phần mền hỗ trợ tạo bài trình chiếu.
- Ứng dụng công nghệ thông tin khi kết hợp với các biện pháp dạy học khác như đọc sáng
tạo, đàm thoại tích cực, học theo phương pháp nhóm, dạy học nêu vấn đề, trò chơi học tập…
trong dạy học thơ Đường sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho giờ học. Nhờ các phương tiện công
nghệ thông tin, HS có thể dễ dàng hoàn thành được các bài tập, các nhiệm vụ nhóm, các vấn đề
thảo luận được nêu ra.
2.4.2. Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy thơ Đường
2.4.2.1. Xây dựng thư viện tư liệu phục vụ dạy học thơ Đường
Thư viện này có thể bao gồm:
- Tranh ảnh về các tác giả thơ Đường.
- Hình ảnh liên quan đến cảnh thiên nhiên, con người trong tác phẩm.
- Các bài nghiên cứu về các tác phẩm thơ Đường cũng như việc dạy học thơ Đường.
Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn:
+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng về thơ Đường từ mạng Internet.
+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí qua mạng.
2.4.2.2. Xây dựng giáo án điện tử trong dạy học thơ Đường
Trong quy trình thiết kế giáo án điện tử trên cần lưu ý các điểm sau:
- GV phải biết lựa chọn thật kĩ lưỡng nội dung trước khi ứng dụng công nghệ thông tin.
chi Quảng Lăng (Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng).
Để tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành soạn 2 giáo án.
- Giáo án thứ nhất: Soạn theo cách dạy học truyền thống.
- Giáo án thứ 2: Soạn theo quy trình dạy học có sử dụng, phối hợp linh hoạt các phương
pháp: phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp đàm thoại, phương pháp nhóm, phương pháp nêu
vấn đề và có sử dụng công nghệ thông tin, trò chơi học tập.
3.4. Phƣơng pháp tiến hành
Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đã có một cuộc khảo sát, tìm hiểu về trình độ
nhận thức, khả năng cũng như hứng thú học tập môn Ngữ văn nói chung và hứng thú học tập thơ
Đường của HS cả 2 lớp.
Sau khi soạn xong giáo án thực nghiệm và giáo án đối chứng, chúng tôi đã trao đổi với
GV về mục đích của giờ thực nghiệm và đối chứng, trao đổi về phương pháp cũng như các biện
pháp tạo hứng thú được áp dụng trong bài học thực nghiệm. Trong khi các GV dạy học theo các
giáo án đã soạn, tác giả luận văn và một số GV của trường dự giờ và quan sát để hiểu rõ được
thực tế học tập và các phương pháp được áp dụng trong giờ học để từ đó rút ra nhận xét và đánh
giá một cách khách quan.
Kết thúc bài học, chúng tôi trao đổi với GV dự giờ, GV dạy trực tiếp để nắm được ý kiến đánh
giá của họ về nội dung, phương pháp bài học và khả năng lĩnh hội cũng như là hứng thú của HS.
Sau giờ học, HS cả 2 lớp đều thực hiện một bài kiểm tra (Phụ lục 3) nhằm thăm dò mức độ
nhận thức, mức độ đạt mục tiêu và thực hiện một bài trắc nghiệm (Phụ lục 2) với các câu hỏi
nhằm kiểm tra mức độ hứng thú học tập của HS.
Sau một tuần, GV bộ môn và tác giả luận văn kiểm tra, đánh giá kết quả sản phẩm nhóm
sau giờ học của từng nhóm ở lớp thực nghiệm nhằm tạo bằng chứng xác thực nhất. 17
3.5. Kết quả thực nghiệm
3.5.1. Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau bài học
Chúng tôi thu được kết quả với sự so sánh qua biểu đồ sau:
khẳng định rằng, không có một biện pháp hay phương pháp nào là vạn năng có thể đáp ứng mọi
yêu cầu của dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học phần thơ Đường nói riêng. Mỗi một biện pháp
đều có ưu điểm, nhược điểm riêng, điều quan trọng là chúng ta phải biết lựa chọn và sử dụng kết
hợp các biện pháp dạy học khác nhau như thế nào để có hiệu quả nhất. Điều này còn tùy thuộc
vào khả năng nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn của mỗi giáo viên.
18
KẾT LUẬN
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và dựa trên kết quả thực nghiệm, chúng tôi đi đến kết luận
như sau:
Thứ nhất: Cần khẳng định vai trò và ý nghĩa của việc tạo hứng thú học tập Ngữ văn nói
chung và dạy học phần thơ Đường nói riêng cho học sinh THPT. Tạo hứng thú học tập sẽ thúc
đẩy năng lực hứng thú nhận thức phát triển. Nó giúp học sinh say mê học tập, sáng tạo và chủ
động chiếm lĩnh và làm chủ hoàn toàn kiến thức, từ đó có thể liên hệ tới bản thân, những vấn đề
trong cuộc sống. Việc tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học phần thơ Đường càng thúc
đẩy hơn nữa việc hoàn thành mục tiêu đưa môn Ngữ văn trở thành chiếc cầu nối thế giới nghệ
thuật và cuộc sống, giữa hiện tại với quá khứ.
Thứ hai: Với các biện pháp sư phạm phù hợp, tương thích với đặc trưng cũng như nguyên tắc
dạy học các bài thơ Đường, thực trạng dạy học phần thơ Đường xét từ góc độ tạo hứng thú sẽ được cải
thiện theo chiều hướng tích cực góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học nói chung.
Thứ ba: Để HS thực sự hứng thú với môn học, GV cần sử dụng các biện pháp sư phạm sao
cho phát huy được tối đa năng lực nhận thức của HS trong việc lĩnh hội và tiếp thu kiến thức. Với
các biện pháp sư phạm đã được đề xuất trong luận văn, nếu GV biết sử dụng một cách hợp lí,
nhuần nhuyễn, có kết hợp, phối hợp hài hòa, tương thích với từng nội dung dạy học, thì sẽ đem lại
những tác dụng đáng kể trong việc tạo dựng ở HS một niềm say mê hứng thú không đơn giản chỉ
là sự hứng thú tức thời mà là sự hứng thú bền bỉ, lâu dài.
Để có thể vận dụng một cách có hiệu quả các biện pháp đã đề xuất vào việc dạy học thơ
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
11. Nguyễn Thanh Hùng (2001), Hiểu văn, dạy văn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
12. Đặng Thành Hƣng (2001), Dạy học hiện đại. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
13. Khoa Sƣ phạm - ĐHQGHN (2005), Tập bài giảng chương trình, phương pháp dạy học
Ngữ văn. Hà Nội.
14. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính (2009), Tâm lí học giáo dục.
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
15. Phan Trọng Luận (2005), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông, tập
1. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
16. Phan Trọng Luận (2006), Phương pháp dạy học văn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
17. Phan Trọng Luận (2009), Thiết kế bài học Ngữ văn 10. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
18. Nguyễn Thị Hồng Nam (2006), Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn. Trường Đại
học Cần Thơ, Cần Thơ.
19. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường. Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.
20. Bùi Minh Tuân (1998), Cảm xúc văn chương & Vấn đề dạy văn ở trường Phổ thông.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
21. Trần Anh Tuấn, Mai Quang Huy (2006), Tập bài giảng Giáo dục học đại cương. Khoa
Sư phạm, ĐHQG HN, Hà Nội.
22. Tiêu Vệ, Hoàng Kim (2004), Phương pháp học tập thoải mái. Nhà xuấ bản Đại học Sư
phạm, Hà Nội.