biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học phần thơ đường - Pdf 25

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THỦY
BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
LỚP 10 TRONG DẠY HỌC PHẦN THƠ ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI – 2012

iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
Viết đầy đủ
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHSPHN
Đại học Sƣ phạm Hà Nội
GV
Giáo viên
HS
Học sinh

Số và tên bảng
Trang
1
Bảng 1.1. Các bài thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn 10
19
2
Bảng 1.2. Các tác phẩm văn học nƣớc ngoài trong chƣơng trình
THPT hiện hành
20
3
Bảng 1.3. Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt ở từng bài thơ Đƣờng
trong chƣơng trình Ngữ văn 10
22
4
Bảng 1.4. Điều tra về mức độ hứng thú của HS với các bài thơ
Đƣờng
41
5
Bảng 3.1. Kết quả thực nghiệm
93
6
Bảng 3.2. Điều tra về mức độ hứng thú của HS sau giờ học thực
nghiệm
95

MỤC LỤC


2.1.3. Đảm bảo tính dân chủ 47
2.1.4. Đảm bảo phát huy sức mạnh trí tuệ, tình cảm và hứng thú của tập thể 48
2.2. Sử dụng các phƣơng pháp dạy học đặc thù bộ môn một cách có hiệu quả để tạo
hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ Đƣờng 48
2.2.1. Phƣơng pháp đọc sáng tạo 48
2.2.2. Phƣơng pháp đàm thoại 59
2.3. Sử dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực để tạo hứng thú học tập cho học
sinh trong dạy học thơ Đƣờng 64
2.3.1. Phƣơng pháp dạy học theo nhóm 64
2.3.2. Phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề 75
2.3.3. Phƣơng pháp trò chơi học tập 79
2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thơ Đƣờng 84
2.4.1. Công nghệ thông tin với việc tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học thơ
Đƣờng 84
2.4.2. Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy thơ Đƣờng 86
Chƣơng 3:THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 91
3.1. Mục đích thực nghiệm 91
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm 91
3.3. Nội dung thực nghiệm 92
3.4. Phƣơng pháp tiến hành 104
3.5. Kết quả thực nghiệm 104
3.5.1. Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau bài học 104
3.5.2. Kết quả sản phẩm nhóm của HS tại lớp thực nghiệm (sau một tuần) 106
3.5.3. Kết quả bài trắc nghiệm về mức độ hứng thú của HS sau khi học bài “Hoàng
Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” tại lớp thực nghiệm 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 113
hạn chế… Có thể nói, khoảng cách thời gian, hàng rào ngôn ngữ và sự hạn chế về
vốn tri thức, tầm đón nhận của học sinh THPT đã đặt ra nhiều thử thách cho việc
dạy học thơ Đƣờng. Việc tìm hiểu những bài thơ sâu xa của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi
2
Hiệu dƣờng nhƣ là quá khó đối với lứa tuổi 16 nên các em không mấy hứng thú.
Vậy vấn đề đặt ra là cần có biện pháp dạy học hiệu quả để những giờ học thơ
Đƣờng thật sự hấp dẫn, lôi cuốn. Qua đó học sinh có hứng thú học tập, phát huy
tính tích cực, chủ động, say mê khám phá và chiếm lĩnh tri thức về thơ Đƣờng –
tinh hoa văn hóa nhân loại.
1.3. Thực tiễn dạy học thơ Đƣờng trong trƣờng phổ thông hiện nay xét về góc độ
tạo hứng thú cho học sinh vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Do nhiều lí
do khách quan và chủ quan, cả GV và HS đều thấy lúng túng, chƣa vƣợt qua đƣợc
những khó khăn trong dạy học thơ Đƣờng. Và những giờ học thƣờng diễn ra trong
không khí nặng nề hoặc ít sôi nổi.
Mặt khác, việc nghiên cứu vấn đề dạy học thơ Đƣờng trong trƣờng phổ
thông tuy đã đƣợc quan tâm, bàn luận khá nhiều, nhƣng còn chƣa thực sự chú trọng
đến các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh. Việc thiết kế các biện pháp cụ thể, rõ
ràng nhằm tạo hứng thú học thơ Đƣờng cho học sinh, làm cho giờ học thực sự hấp
dẫn và hiệu quả vẫn là vấn đề cần bàn đến.
Với những lí do nêu trên và mong muốn nâng cao chất lƣợng dạy học Ngữ
văn nói chung, dạy học thơ Đƣờng nói riêng, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên
cứu đề tài: Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học
phần thơ Đường.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Việc nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học nói chung
và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng từ lâu đã đƣợc các nhà khoa học và các
nhà sƣ phạm quan tâm. Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề
này và có thể kể ra đây một số công trình:
- Luận văn Thạc sĩ khoa Tâm lý trƣờng ĐHSPHN (1981) của Nguyễn Thị
Tuyết: Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn Văn của HS lớp 10, 11 ở trường

(Nhà xuất bản Tổng hợp Khánh Hòa, Khánh Hòa, 1991) với những bài giới
thiệu và phân tích một số bài thơ Đƣờng nổi tiếng và các nhà thơ tiêu biểu.
- Cuốn Bình giảng thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường phổ
thông của Nguyễn Thị Bích Hải (Nhà xuất bản Giáo dục, H., 2003) trình bày
những kiến thức về thơ Đƣờng và việc dạy học thơ Đƣờng trong trƣờng phổ
thông, nêu những vấn đề có tính phƣơng pháp trong việc tìm hiểu thơ Đƣờng.
4
- Cuốn Thơ Đường bình giải của Nguyễn Quốc Siêu (Nhà xuất bản Giáo
dục, tái bản lần thứ 5 năm 2005) giới thiệu lại và thêm phần bình những bài thơ
Đƣờng đã đƣợc chọn tuyển trong sách giáo khoa THCS và THPT.
- Các cuốn sách Thơ Đường trong nhà trường của Trần Ngọc Hƣởng
(2004), Văn học Trung Quốc với nhà trường – tập tiểu luận của Hồ Sĩ Hiệp
(2006), Dạy học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và THPT: Theo chương
trình ngữ văn mới của Lê Xuân Soan (2006), Dạy - học văn học nước ngoài Ngữ
văn 10 (cơ bản và nâng cao) của Lê Huy Bắc (2009),
- Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Phan Thị Minh, ĐHSP TP. Hồ
Chí Minh năm 2007 với tên đề tài Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới
góc nhìn của thi pháp học nghiên cứu cụ thể việc dạy thơ Đƣờng trong nhà trƣờng
nhƣng chỉ ở góc độ thi pháp học, hƣớng đến việc đổi mới phƣơng pháp dạy học.
- Khóa luận tốt nghiệp Đường thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt
Nam của Mạnh Thị Minh năm 2006 (Tƣ liệu khoa Văn học, Trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội). Trong khóa luận này, ngƣời viết chủ yếu
là thống kê lại quá trình thơ Đƣờng đƣợc đƣa vào giảng dạy trong chƣơng trình
môn Văn phổ thông ở Việt Nam, đồng thời đề xuất phƣơng pháp dạy học, giúp
HS tìm hiểu thơ Đƣờng.
Các công trình trên đã có những vai trò tích cực, định hƣớng cho việc dạy
– học thơ Đƣờng trong nhà trƣờng nhƣng nhìn chungs mới dừng lại ở việc đƣa ra
các đặc điểm, các đặc trƣng, nội dung, cách tiếp cận, câu hỏi định hƣớng để giúp
giáo viên cần giảng dạy những gì về những bài thơ Đƣờng trong chƣơng trình chú
chƣa đề cập đến các biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú học tập cho HS.

học thơ Đƣờng đƣợc xét trên những mặt nào?
2/Giữa các đặc trƣng của thơ Đƣờng và tâm lí học sinh trong khi học các bài
học này có thể tạo ra những lợi thế và khó khăn nào khi xây dựng hệ thống các biện
pháp tạo hứng thú?
3/Hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 10 trong dạy học
thơ Đƣờng đƣợc đƣa ra gồm các biện pháp nào và phải đảm bảo những nguyên tắc
nào?
4/Có thể vận dụng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh vào
quá trình dạy học các bài thơ Đƣờng theo trình tự hay theo mẫu nào?
6
5/Việc xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 10
trong dạy học các bài thơ Đƣờng có tác dụng nhƣ thế nào đối với sự tiếp nhận các
tri thức thơ Đƣờng nói riêng và thơ ca cổ điển nói chung của học sinh?
4. Phạm vi nghiên cứu và hƣớng triển khai nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
- Quá trình dạy học phần thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn lớp 10 có
vận dụng các biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh.
- Mẫu khảo sát:
Các bài học về thơ Đƣờng, chƣơng trình Ngữ văn 10 (chƣơng trình chuẩn).
Mẫu thực nghiệm:
Lớp 10A4 - Trƣờng THPT Hoàng Văn Thụ, Hà Nội.
4.2. Hướng triển khai nghiên cứu
Nghiên cứu những lí thuyết tâm lí về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập
và đặc trƣng của thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn 10, điều kiện để tạo hứng
thú trong khi dạy học các bài học này đƣợc xét từ các mặt: chủ thể học sinh; nội
dung dạy học; phƣơng pháp, phƣơng tiện dạy học; môi trƣờng học tập; hình thức và
phƣơng pháp kiểm tra đánh giá.
Giữa các đặc trƣng của thơ Đƣờng và tâm lí học sinh trong khi học thơ
Đƣờng có thể tạo ra những khó khăn nhƣng cũng có một số lợi thế để xây dựng các
biện pháp tạo hứng thú học tập.

thể có vận dụng hệ thống biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy
học thơ Đƣờng đối với 2 lớp 10.
+ Phƣơng pháp điều tra qua phiếu hỏi đối với học sinh các lớp trong mẫu khảo
sát.
- Phương pháp thống kê: Thống kê kết quả khảo sát, kết quả của lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng trong tổ chức thực nghiệm.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chƣơng 2: Đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy
học phần thơ Đƣờng
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
8

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát về thơ Đƣờng
Thơ Đƣờng đƣợc xem là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đƣờng (618–
907), là mẫu mực của thơ ca Trung Quốc nói riêng và thơ ca trung đại phƣơng
Đông nói chung, thậm chí là đỉnh cao của thơ ca nhân loại. Thơ Đƣờng đã đi vào
Việt Nam từ rất lâu, gây đƣợc ảnh hƣởng sâu rộng và đƣợc nhiều ngƣời yêu thích.
Ở nƣớc ta, từ đời Lý trở về sau, thơ Đƣờng đƣợc ông cha ta tìm hiểu và học hỏi,
tiếp thu rất nhiều. Không ít nhà thơ trung đại và hiện đại đã vận dụng đề tài, thi liệu,
tứ thơ, điển cố trong thơ Đƣờng, học tập ngôn ngữ thơ Đƣờng. Thơ Đƣờng cũng
đƣợc đƣa vào giảng dạy ở nhà trƣờng phổ thông và đại học. Những điều đó một mặt
khẳng định giá trị to lớn của thơ Đƣờng, mặt khác thể hiện thái độ trân trọng, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại của ngƣời Việt Nam ta.
Việc dạy – học thơ Đƣờng trong nhà trƣờng phổ thông nói chung và chƣơng
trình Ngữ văn lớp 10 nói riêng không phải chỉ trong một giới hạn nhỏ hẹp là phân

cùng những lạc thú thiên nhiên của nhàn nhân dật sĩ.
 Thời Thịnh Đƣờng (713 – 766):
Cuộc khởi loạn của An Lộc Sơn (năm 755) là mốc phân chia thời này ra làm
hai giai đoạn: thái bình và tán loạn. Trƣớc loạn An Lộc Sơn là thời những bài thơ
chứa đầy tình, nhạc và rƣợu. Cũng có những bài thơ tả tình quan ái và niềm khuê
oán. Nhƣng đó là tình cảm hào hùng của ngƣời chinh phu tuy biết “Từ xƣa chinh
chiến mấy ai về” nhƣng vẫn quyết “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”; là nỗi nhớ
nhung, sầu muộn của ngƣời chinh phụ tuy có tê tái nhƣng không bi thảm. Từ cuộc
loạn An Lộc Sơn về sau, thơ ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ. Chiến địa
không còn là cảnh hùng tráng đầy thi vị, mà là nơi ma than, quỉ khóc, xƣơng trắng
tả tơi. Những ngƣời lính thú bạc đầu nơi quan ải, những thiếu nữ thành cô phụ sau
tối tân hôn, những ngƣời chồng phải gửi vợ nơi quê ngƣời, đất khách, và những
ngƣời cha tủi hổ vì bất lực trƣớc cảnh con thơ chết đói. Các bài nhƣ Tam lại, Tam
biệt của Ðỗ Phủ cực tả cảnh chiến tranh tàn khốc, xã hội tối tăm trong thời kì này.
Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai tên tuổi nổi bật nhất thời Thịnh Đƣờng với hai
phong cách thơ hoàn toàn khác nhau. Một ngƣời là nhà thơ lãng mạn vĩ đại nhất,
một ngƣời là nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất.
10
 Thời Trung Ðƣờng (766 - 835):
Sau khi loạn An Lộc Sơn, Sử Tƣ Minh đã bình, tình hình vẫn còn phân loạn.
Giặc ngoài quấy nhiễu, triều đình thối nát, hoạn quan lộng quyền, đó là những
nguyên nhân khiến xã hội bất an, nhân dân cực khổ. Tình trạng thơ ca kém hẳn thời
trƣớc. Các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm vi cũ, không có gì sáng tạo mới mẻ,
tạo những sắc màu mới cho thi đàn. Nổi bật hơn cả là nhà thơ Bạch Cƣ Dị với chủ
trƣơng nghệ thuật vị nhân sinh. Bạch Cƣ Dị thích làm những bài thơ dùng chữ
thông tục, dễ hiểu, có thể gọi là thơ bạch thoại của đƣơng thời. Nhƣng những tác
phẩm phổ biến nhất và nổi tiếng nhất của ông lại là những bài thơ trƣờng thiên trữ
tình: Trường hận ca tả mối diễm tình bi thảm của Ðƣờng Minh Hoàng với Dƣơng
Quí Phi, và Tì bà hành nói lên tâm sự ngƣời thƣơng phụ ở bến Tầm Dƣơng.
 Thời Vãn Đƣờng (836 – 905):

viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh,
những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ,
những bài thơ tâm tình, từ tình bè bạn, tình yêu thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ,
rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hƣơng vị Thiền…
1.1.2.2. Các trường phái
Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ, thơ ca đời
Đƣờng xuất hiện nhiều trƣờng phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ,
nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kì này đƣợc đời sau truyền tụng và ca ngợi.
Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà văn học sử Trung Quốc đã chia thơ Đƣờng
thành các trƣờng phái sau:
- Trƣờng phái Điền viên sơn thủy : Phái Điền viên sơn thủy còn đƣợc gọi là
phái “Vƣơng – Mạnh” bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này là Mạnh Hạo Nhiên
(689 – 740) và Vƣơng Duy (701 – 761). Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi
với với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ông đƣợc
miêu tả đẹp đẽ với cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông hùng vĩ và
tráng lệ… Ngƣời thứ hai là Vƣơng Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm quan nhƣng
ông thƣờng sống nhƣ một ẩn sĩ, là ngƣời sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm ý vị thiền
nên đƣợc mọi ngƣời tôn vinh là Thi Phật. Ông là một ngƣời rất đa tài, không những
nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thƣ pháp và là một danh họa.
Khi nhận xét về Vƣơng Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: “Thi trung hữu họa, họa
12
trung hữu thi” (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong
họa có thơ).
- Trƣờng phái thơ Biên tái: Phái Biên tái còn đƣợc gọi là phái “Cao – Sầm”, đó
là Cao Thích (702 – 765) và Sầm Tham (716 – 770). Thơ của Cao Thích mang đậm
chất trữ tình hào phóng nhƣng lại khẳng khái hiên ngang, trong khi đó thơ của Sầm
Tham thì mỹ lệ huyền ảo, âm điệu dồn dập vút cao. Ngoài ra còn có một số tác giả
cũng góp phần quan trọng cho thi phái này nhƣ: Vƣơng Xƣơng Linh (698? – 757)
và Lí Kì (690 – 751).
- Trƣờng phái lãng mạn: Một trong những cây đại thụ lớn của phái này là Lí

gian nghệ thuật, thể loại và ngôn ngữ.
1.1.3.1. Quan niệm nghệ thuật về con người
Đối tƣợng trung tâm của văn học là con ngƣời, cho nên trong hệ thống thi
pháp nó cũng là yếu tố trung tâm so với các yếu tố khác. Trong thơ Đƣờng, có hai
kiểu con ngƣời chủ yếu, đó là con ngƣời vũ trụ và con ngƣời xã hội.
- Con ngƣời vũ trụ: Quan điểm về con ngƣời trong nghệ thuật với quan niệm
triết học có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Triết học cổ đại Trung Quốc nói
riêng cũng nhƣ các dân tộc thời cổ nói chung quan niệm con ngƣời đƣợc đặt trong
mối tƣơng thông tƣơng hợp với thiên nhiên: “Thiên nhân tƣơng dữ”. Con ngƣời là
một “tiểu vũ trụ” trong lòng “đại vũ trụ”. Quan niệm đó chi phối toàn bộ các hoạt
động, kể cả hoạt động nghệ thuật lúc bấy giờ và nó tồn tại mãi trong suốt thời
phong kiến, và cả đến thời hiện đại. Con ngƣời xuất hiện trong tƣ thế vũ trụ, đứng
giữa đất trời “đầu đội trời, chân đạp đất”, hòa hợp đất trời. Con ngƣời trong thơ
Đƣờng luôn khát vọng hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa đất trời, cảm ứng với đất
trời. Tống hữu nhân của Lí Bạch, Đăng cao của Đỗ Phủ là những ví dụ tiêu biểu.
Thơ Đƣờng rất quan tâm thể hiện quan hệ tƣơng giao, hòa hợp giữa con
ngƣời với con ngƣời. Con ngƣời trong thơ Đƣờng đặc biệt đề cao cái tâm đƣợc thể
hiện rõ trong đề tài bằng hữu. Thơ Đƣờng nói nhiều về tình bạn vì đó là thanh khí tự
nhiên, tri âm, tri kỷ. Hơn nữa các quan hệ trong xã hội phong kiến, chỉ có quan hệ
tình bạn là bình đẳng, là thuần túy tình cảm, tự nguyện, khiến con ngƣời, thi sĩ bày
tỏ tâm sự và thể hiện khát vong tri âm một cách dễ dàng, cho nên hiếm nhà thơ nào
lại không viết về tình bạn. Tiêu biểu phải kể đến Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch. Có thể nói, đến đời Đƣờng, con ngƣời vũ trụ
đƣợc thể hiện trong thơ ca đã đạt đến trình độ tuyệt vời. Hình tƣợng con ngƣời vũ
14
trụ thể hiện khát vọng của con ngƣời đƣợc sống thanh bình, hòa hợp vào nhịp sống
của vũ trụ vô biên.
- Con ngƣời xã hội: Trong thơ Đƣờng, con ngƣời xã hội chủ yếu là tầng lớp
nhân dân thấp cổ bé họng đƣợc phản ánh bằng quan hệ mâu thuẫn, đối lập gay gắt
với tầng lớp thống trị. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ trong bộ phận thơ sáng tác theo

gian nghệ thuật thơ Trung Quốc.
1.1.3.3. Thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật của thơ Đƣờng là sự đúc kết những tinh hoa của thời
gian trong thơ ca Trung Quốc. Các nhà thơ, nhà văn xây dựng con ngƣời trong tác
phẩm bằng hình tƣợng, cho nên thời gian trong tác phẩm cũng sẽ là thời gian của
hình tƣợng. Cũng nhƣ quan niệm về con ngƣời nghệ thuật, không gian nghệ thuật,
chúng ta có thể chia ra hai kiểu thời gian chính trong thơ Đƣờng là: thời gian vũ trụ
và thời gian đời thƣờng.
- Thời gian vũ trụ: Nói đến thời gian vũ trụ tức là nói đến thời gian trong mối
quan hệ với không gian. Khi nhắc đến không gian, chúng ta hình dung về nó rõ hơn
vì không gian là cái có thể nhìn thấy đƣợc, còn thời gian thì vô hình, nhƣng thời
gian vũ trụ trong thơ Đƣờng luôn có mối quan hệ biện chứng với không gian, ngƣời
ta dùng không gian để thể hiện thời gian và ngƣợc lại. Trong thơ Đƣờng có rất
nhiều địa danh và đằng sau địa danh ấy vẫn thấy sự tiềm ẩn, bóng dáng của thời
gian. Với tƣ cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật trong thơ Đƣờng ít chịu
đóng khung trong thời hiện tại mà luôn có xu hƣớng vận hành trong vòng lƣu
chuyển của thời gian, ngƣợc về quá khứ, xuôi đến hiện tại. Dƣờng nhƣ các nhà thơ
luôn ƣu tiên cho quá khứ và chủ yếu thể hiện điều đó dƣới hai dạng: thời gian hoài
cổ và thời gian kí ức. Vì vậy mà có rất nhiều bài thơ hoài cổ: Bạch đế hoài cổ, Tây
Thi vịnh, Xích Bích hoài cổ Ẩn chứa trong thời gian hoài cổ là niềm xót thƣơng
cho hiện tại và lo lắng cho tƣơng lai.
- Thời gian đời thƣờng: Khi phản ánh đời sống của con ngƣời trong xã hội,
thời gian nghệ thuật là thời gian đời thƣờng. Thời gian đời thƣờng chủ yếu là thời
hiện tại, có tính cụ thể khi kể về cái đang diễn ra rất thực, rất đời thƣờng nhƣ trong
bài Thạch hào lại hay Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đỗ Phủ. 16
1.1.3.4. Thể loại và ngôn ngữ
 Thể loại: Các nhà thơ đời Đƣờng sử dụng hai thể thơ chính là cổ thể và kim

2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu
huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.
Các luật của thơ Đƣờng là luật bằng và luật trắc. Nếu chữ thứ 2 của câu đầu
tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng
thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong từng câu phải hòa hợp, cân xứng các
thanh bằng trắc, cứ một câu 4 trắc 3 bằng lại đến một câu 4 bằng 3 trắc cứ thế
luân phiên xen kẽ nhau sao cho thanh điệu đƣợc cân bằng. Luật thi yêu cầu “nhị, tứ,
lục phân minh” các chữ 2, 4, 6 phải nhất định đúng thanh điệu, nếu thay đổi thì
thanh điệu sẽ phá vỡ làm mất đi sự hài hòa cân đối của câu thơ. Do đó chữ thứ 2 và
6 cùng thanh, cụ thể là: nếu chữ thứ 4 là bằng thì chữ thứ 2 và 6 sẽ là trắc, còn
ngƣợc lại nếu chữ thứ 4 là trắc thì chữ 2 và 6 sẽ là bằng. Trong đó chữ thứ 4 là tâm
đối xứng. Luật phối thanh bảo đảm bằng trắc cân bằng, âm điệu hài hòa. Nếu một
câu thơ Đƣờng mà không theo quy định này thì đƣợc gọi “thất luật”.
Vận (vần): Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống
nhau, dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đƣờng chuẩn, vần đƣợc
dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này đƣợc gọi là “vần với nhau”.
Nếu một bài thơ Đƣờng mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau
về vần thì đƣợc gọi là “thất vận”. Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là
“vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông”. Một bài thơ bát
cú có 5 vần (tuyệt cú 2 hoặc 3 vần). Hầu hết thơ Đƣờng dùng vần thanh bằng,
nhƣng cũng có các ngoại lệ.
Đối: Với thơ Đƣờng luật thì đối thơ cũng là yếu tố bắt buộc. Phải đối liên
(liên 2 là câu 3, 4 còn liên 3 là câu 5, 6 - tức là câu 4 đối với câu 3, câu 6 đối với câu
5), đối cả thanh (bằng đối với trắc, trắc đối với bằng), đối từ (từ loại nào đối với từ
loại đó), đối ý. Đó là 4 yêu cầu phải đƣợc tuân thủ nghiêm ngặt trong một bài luật
thi.
Tiết tấu (cách ngắt nhịp): Tiết tấu trong thơ Đƣờng nhìn chung ở câu thơ 7 chữ
và 5 chữ đều là chẵn trƣớc, lẻ sau (4/3 hoặc 2/2/3 ở câu thơ 7 chữ và 2/3 ở câu thơ 5
chữ). Cách ngắt nhịp theo chẵn/lẻ là cố định tạo nên sự hài hòa.
18

thực). Hệ thống thơ thể hiện con ngƣời vũ trụ, ngôn ngữ mang tính khái quát, cổ
19
kính trang nhã, nhiều hình ảnh ƣớc lệ tƣợng trƣng, gợi liên tƣởng, ngữ âm hài hoà,
thể hiện tâm tình sâu lắng, suy tƣ. Hệ thống thơ phản ánh hiện thực, ngôn ngữ mang
tính cụ thể, tỷ lệ động từ, câu trần thuật cao, ngữ âm sôi động, nhiều thanh trắc.
1.2. Thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn 10
1.2.1. Nội dung dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
1.2.1.1. Khảo sát các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
Di sản Đƣờng thi còn để lại đến ngày nay vô cùng đồ sộ với hơn 48000 bài
của trên 2300 nhà thơ. Trong đó, những nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đƣờng là Lí
Bạch (701– 762), Đỗ Phủ (712– 770), Bạch Cƣ Dị (772– 846),… Ngoài ra còn có
các nhà thơ tuy sáng tác không nhiều nhƣng vẫn để lại những tuyệt tác bất hủ. Ví dụ
nhƣ Thôi Hiệu với Hoàng Hạc lâu – kể ra 10 nhà thơ tiêu biểu nhất đời Đƣờng chƣa
chắc đã có Thôi Hiệu, nhƣng nếu nói đến 10 bài Đƣờng thi hay nhất thì trong đó
chắc chắn có Hoàng Hạc lâu.
Trong số rất nhiều tác giả, tác phẩm nhƣ trên, chƣơng trình Ngữ văn lớp 10
(chƣơng trình chuẩn) chỉ tuyển chọn 5 bài thơ Đƣờng là:
Bảng 1.1. Các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10
STT
Tên tác phẩm
Tên tác giả
Ghi chú
1
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi
Quảng Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng)
Lí Bạch

2
Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status