SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN VĂN HỌC
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
CHO BỘ MÔN NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nếu như ở các bộ môn khác mà học sinh được học ở trong chương trình đã cung
cấp cho các em những tri thức hiểu biết về nguồn cội con người về kiến thức khoa học
của nhân loại, về cuộc sống, sinh thái … thì bộ môn Ngữ văn cũng góp một phần rất lớn
và quan trọng cho sự phát triển toàn diện của các em. Bộ môn này giúp các em rất nhiều
trong giao tiếp, biết tạo lập được các loại văn bản, các em sẽ thấu nhiểu, thông thạo và
giàu ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt là sự phân biệt và cảm thụ cái hay, cái đẹp tinh hoa văn
hoá nghệ thuật. Và đặc biệt bộ môn này trực tiếp giúp các em hình thành ý thức, đạo
đức, phẩm chất, nhân cách của con người.
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn Ngữ văn Trung học cơ sở.
Mỗi lần lên lớp, bản thân luôn băn khoăn trước việc học của học sinh mình. Môn Ngữ
văn cũng là một bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục. Nhưng tại sao các em
ít đạt điểm khá giỏi mặc dầu thang điểm cũng có 9,10; dù giáo viên rất nhiệt tình giảng
dạy? Hay các em chưa có hứng thú học văn? Khi lên lớp kiểm tra, đôi khi đã học lớp 8,
9 mà vẫn chưa biết cách soạn một bài giảng văn (văn bản) cho đúng cách. Chưa biết tóm
tắt một văn bản cho ngắn gọn, đủ nội dung. Như vậy làm sao các em cảm thụ được văn
bản chuẩn bị tìm hiểu? Có những em còn chưa hề đọc trước văn bản ở nhà mặc dù gia
đình tạo điều kiện về thời gian học tập cho các em. Còn đối với phân môn Tiếng Việt,
học sách mới nhưng đa số các em chỉ học bài cũ mà không xem đến bài mới trước, mặc
dù giáo viên đã dặn dò. Đặc biệt phân môn tập làm văn thì học sinh có vẻ hời hợt nhất
và các em cho rằng “khó”. Nên gần như các em ít nghiên cứu. Kiến thức có được chủ
yếu do giáo viên cung cấp, học sinh còn thụ động. Tôi đã làm một hệ thống trắc nghiệm
như sau:
Trong các bộ môn em thích học những bộ môn nào?
1. Công nghệ
2. Đại số
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Những yếu tố về nội dung: Cơ bản đều xuất phát từ những yếu tố lí thuyết hàm
chứa văn bản chung. Có nghĩa là phần lớn là những dẫn chứng minh hoạ cho các phân
môn đều do những vấn đề lí thuyết chủ yếu lấy từ các văn bản có trong sách giáo khoa,
hơn nữa trong khi trình bày lí thuyết ở Tiếng Việt luôn hướng tới các bài trong tập làm
văn. Một mặt trình bày các vấn đề Tiếng Việt, cố gắng giúp học sinh khai thác triệt để
của ngôn từ của câu chữ trong văn bản được học, để từ đó học sinh hiểu sâu thêm cái
hay của hình ảnh của nội dung được thể hiện trong văn bản đó, một mặt khác để thực
hiện cho việc làm văn cũng đã trình bày những nội dung kiến thức phù hợp cho các thể
văn. Vì vậy một phân môn có liên quan đến cả bộ môn.
2. Những yếu tố về kĩ năng:
+ Trọng tâm của kĩ năng học văn là làm cho học sinh có kĩ năng nghe- nói-
đọc- viết tương đối thành thạo các kiểu văn bản, có kĩ năng sơ giản về phân tích tác
phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận văn học.
+ Kĩ năng nói viết đúng chính tả, đúng từ ngữ. Biết cách sữ dụng các thao tác
cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản, có năng lực vận dụng thao tác tư duy để so sánh,
phân tích, tổng hợp, rút ra kết luận từ đó có quyết định hành động phù hợp với những
văn bản đặt ra.
+Kĩ năng tìm tòi từ bài tập:
Không bắt buộc học sinh phải thuộc lòng mà chủ yếu chú ý đến khả năng vận dụng
kiến thức, khả năng thực hành. Điều này giúp cho học sinh có điều kiện ứng dụng những
Trang 2
kiến thức đã được học trong nhà trường vào việc giải quyết những tình huống của cuộc
sống trong giao tiếp, sinh hoạt. . .
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỤ THỂ.
Sau khi nghiên cứu, tôi mở cuộc khảo sát vào ba tuần đầu tiên của các lớp giảng
dạy ở các năm học: 2003-2004, 2004- 2005, 2006 - 2007 kết quả như sau:
Năm 2003- 2004: Năm 2004 –2005: Năm 2006 –2007: Năm 2007 –2008:
Giỏi: Giỏi: Giỏi: Giỏi:
Khá: Khá: Khá: Khá:
- Viết về ai ?
- Viết như thế nào ?
- Nội dung ra sao ?
- Văn bản muốn nói điều gì?ư
Trang 3
Để trả lời cho những nghi vấn này học sinh sẽ chủ động tìm hiểu. Và sau khi đã
tìm hiểu , đã đọc, tóm tắt, học sinh trả lời các câu hỏi cuối bài sẽ dễ dàng hơn.nếu học
sinh có sách tham khảo thì sự cảm thụ càng sâu sắc .
Ví dụ 2: Đối với phân môn Tiếng Việt :
Khi nghe tên bài :”Trường từ vựng “hay bài “ Tình thái từ” ( ngữ văn 8 - tập 1)
học sinh tự đặt một số câu hỏi trong đầu về bài đó như:
+ Trường từ vựng là cái gì?- Tình thái từ là gì?
+ Nó như thế nào?
+ Nó có tác dụng gì?
+ Nó có khác các từ loại đã được học không?
Chỉ cần giải quyết các thắc mắc đó học sinh đã hứng thú tìm hiểu bài ở nhà. Đến
lớp khi học bài mới giáo viên nêu vấn đề, học sinh có thể giải quyết dễ dàng, nhanh
chóng hơn.
Ví dụ 3: Riêng phân môn Tập làm văn, cho học sinh tìm hiểu khái niệm ngay ở
nhà và cho một bài tập để học sinh làm. Muốn làm được phải tự tìm hiểu lí thuyết trước.
Biết rằng như vậy là khó nhưng ở đó các em đã có sự tìm tòi khám phá bài học. Đối với
bài luyện tập cho học sinh soạn trước. Như vậy đến giờ học sẽ sôi nổi hơn so với nếu
không tìm hiểu hướng dẫn trước.
* Thứ tư: Hướng dẫn các em tìm hiểu, cách soạn bài tước khi học bài mới , làm
sao nắm bắt được nội dung, ýtứ văn bản, mục đích bài học một cách ngắn gọn ,dễ hiểu
nhất. Đặc biệt đối với văn bản nên hướng dẫn cách tóm tắt cho học sinh Làm được việc
này học sinh không còn thấy khó khăn nữa mà luôn sẵn sàng cho một tiết học.
* Thứ năm: Đó là tạo hứng thú trong tiết học. Nên bắt đầu tiết học bằng một số
hình thức vào bài thoải mái không nặng nề cho cả tiết học. Từ khâu kiểm tra bài cũ đến
khâu kêt thúc tiết học.
lệ, khuyến khích những học sinh có tinh thần xây dựng bài.
* Thứ tám: Do Ngữ văn luôn gắn liền với cuộc sống, nên khi giảng làm sao phải
nổi bật được tính thực tiễn và tính giáo dục trong mỗi bài đó các em thấm nhuần và thấy
rõ được cái hay, cái bổ ích trong đó.
Ví dụ: Giảng dạy bài “ Chiếc lá cuối cùng” của OHENRI ( Ngữ Văn 8- Tập một ).
Giáo viên cho học sinh thấy được:
- Trong cuộc sống ta phải có một tình yêu thương cao cả của những người nghèo
khổ với nhau – tình yêu giữa người với người.
- Sức mạnh của tình yêu cuộc sống chiến thắng bệnh tật.
- Người ta có thể hy sinh mạng sống cho nhau .
Hay trong bài “ Hai cây phong” giáo viên cho học sinh cảm nhận được:
- Tình yêu quê hương của mỗi con người.
- Không quên quá khứ tuổi thơ, đừng bao giờ quên công ơn và tình cảm của người
thầy giáo, cô giáo đầu tiên của cuộc đời mình.
Như vậy học sinh sẽ thấy yêu thích Văn học hơn sau khi học những bài giảng văn.
* Thứ chín: Kiểm tra: Nên có sự kiểm tra thường xuyên, giáo viên trực tiếp kiểm
tra hoặc giao cho ban cán sự lớp, cờ đỏ kiểm tra báo cáo. Giáo viên khen ngợi, biểu
dương. . . và căn cứ vào chuyên cần đó đánh giá việc học tập, điều này tạo thói quen
học tập cho học sinh.
Và thôi khâu cho điểm cũng cần có sự khuyến khích không lên quá khắt khe với
việc cho điểm cao.
* Thứ mười: Đây cũng là một biện pháp, việc làm không kèm phân quan trọng.
Đó là việc thực hiện trong thời gian củng cố - dặn dò. Giáo viên hướng dẫn học sinh một
số kiến thức cần chuẩn bị cho tiết học tiếp theo những vấn đề cần xem, soạn ở bài sau,
điều này gây sự ham thích tìm hiểu theo sự dẫn dắt, giới thiệu của thầy cô đã gợi ý .
Cuối cùng khi được kết hợp các biện pháp tạo hứng thú trên , học sinh không thấy
khó khăn trong giờ học Ngữ văn nữa, học nhiệt tình hơn, có kết quả hơn.
III . KẾT QUẢ ÁP DỤNG
Sau khi tôi trực tiếp áp dụng những biện pháp sáng kiến trên vào các lớp vào các
năm học ở hai trường đã trực tiếp giảng dạy đã có những biến đổi thái độ học tập từ