BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG YÊN
TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƢỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA THUỘC
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số: 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học
TS. Lê Thị Thanh Loan
TP. Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
Trang 1
MỤC LỤC
Contents
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU .................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................... viii
TÓM TẮT ..................................................................................................................1
3.3.1 Giải thuyết nghiên cứu ............................................................................30
3.3.2 Phương pháp hồi quy mômen tổng quát GMM ......................................31
3.4 Các bước phân tích dữ liệu .............................................................................32
CHƢƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................33
4.1 Tổng quan kinh tế các quốc gia khu vực Đông Nam Á..................................33
4.1.1 Đặc điểm các quốc gia Đông Nam Á ......................................................33
4.1.2 Thực trạng nợ công và tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á ........36
4.2 Ma trận hệ số tương quan ...............................................................................45
4.3 Kiểm định đa cộng tuyến ................................................................................45
4.4 Kiểm định để lựa chọn mô hình (kiểm định Hausman)..................................46
4.5 Các kiểm định của tác động cố định FE .........................................................47
4.5.1 Phương sai sai số thay đổi .......................................................................47
Trang iv
4.5.2 Tự tương quan phần dư đơn vị chéo .......................................................47
4.6 Hồi quy theo phương pháp GMM ..................................................................47
4.7 Thảo luận kết quả ............................................................................................48
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................51
5.1 Kết luận của nghiên cứu .................................................................................51
5.2 Kiến nghị.........................................................................................................52
5.3 Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................54
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo ...........................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................55
PHỤ LỤC .................................................................................................................58
Phụ lục 1: Kiểm định Hausman để lựa chọn FE hoặc RE ....................................58
Phụ lục 2: Kiểm định phương sai sai số thay đổi .................................................60
Phụ lục 3: Tự tương quan của phần dư đơn vị chéo .............................................60
Phụ lục 4: Hồi quy theo GMM .............................................................................60
GNP
Gross National Product
Tổng sản phẩm quốc dân
GMM
General Method of Moments
Mô hình hồi quy mô men tổng quát
OLS
Ordinary Least Squares
Bình phương tối thiểu
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
Hình 4.6: Chỉ số kinh tế của Campuchia ..................................................................41
Hình 4.7: Chỉ số kinh tế của Philippin ......................................................................42
Hình 4.8: Chỉ số kinh tế của Lào...............................................................................43
Hình 4. 9: Chỉ số kinh tế của Việt Nam ....................................................................44
Trang viii
TÓM TẮT
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 làm cho nợ công
trở thành vấn đề sống còn của nhiều nước trên thế giới, bởi vì nợ công là một trong
những biến số vĩ mô tác động lên tăng trưởng kinh tế. Những năm gần đây, nợ công
của các quốc gia thuộc Đông Nam Á tăng lên rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng
kinh tế, điều này đã gây nhiều quan ngại cho những nhà kinh tế, nhà hoạch định
chính sách và Chính phủ của các quốc gia này. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn sự
tác động của nợ công trong thực trạng của nền kinh tế của các quốc gia Đông Nam
Á là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu này đề cập đến vấn đề nợ công tác động tới tăng trưởng kinh tế tại
các quốc gia thuộc Đông Nam Á. Ngoài tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh
tế còn có một số yếu tố khác như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư nội địa, tiết
kiệm, … cũng tác động lên tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này được thực hiện
bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Trên cơ sở mô hình nghiên cứu được tác
giả xây dựng, để lượng hóa tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế của 9
quốc gia thuộc Đông Nam Á (Brunei, Campuchia, Lào, Philippin, Malaysia,
Singapore, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam) đề tài sử dụng phần mềm Excel, SPSS,
Stata 13 để thực hiện thống kê mô tả và phân tích hồi quy dữ liệu bảng. Các biến sử
dụng trong mô hình: tốc độ tăng trưởng kinh tế, nợ công, đầu tư nội địa, đầu tư trực
tiếp nước ngoài, lạm phát, tiết kiệm nội địa. Dữ liệu nghiên cứu gồm 9 quốc gia
thuộc khu vực Đông Nam Á, từ năm 2006 – 2013. Nghiên cứu dùng phương pháp
hồi quy mô men tổng quát GMM để tìm ra được kết quả nghiên cứu là nợ công có
Mỹ; vấn đề nợ công tại Nhật Bản.
Việc vay nợ của chính phủ xét từ góc độ vay để đầu tư phát triển, khi đầu tư
hiệu quả sẽ tạo được khoản thu trong tương lai, tạo điều kiện trả hết nợ. Nhưng việc
sử dụng nguồn vốn đầu tư không hiệu quả sẽ dẫn đến chính phủ vay nợ để đầu tư
quá nhiều lĩnh vực cùng một lúc nhưng chậm và khó thu hồi vốn để trả nợ vay. Để
giải quyết vấn đề này, chính phủ lại phải tiếp tục vay nợ mới để trả nợ cũ. Tình
trạng này dẫn đến nợ công kéo dài. Nếu như tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảm,
chính phủ sẽ không thể tăng thu thuế để bù đắp.
Đông Nam Á đã phục hồi nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới khởi phát năm 2008 nhờ những gói kích thích tiền tệ, tài khóa lớn được chính
phủ các nước trong khu vực đưa ra nhằm kích cầu nội địa. Tuy nhiên, nếu có một
cuộc khủng hoảng mới xảy ra tại các nền kinh tế lớn, Đông Nam Á phải hứng chịu
sự sụt giảm các hoạt động đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế cũng bị ảnh
hưởng. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn rõ nét hơn về nợ công,
mối quan hệ của nợ công với tăng trưởng kinh tế và giúp các nhà làm chính sách
đưa ra những phương án phù hợp để điều tiết kinh tế vĩ mô tốt hơn đồng thời giúp
các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á có thể đối phó kịp thời nếu khủng hoảng
nợ công xảy ra.
Trang 3
Chính sự gia tăng nợ công ở hầu hết các khu vực trên thế giới nên tác giả đặt
ra câu hỏi: Nợ công tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế? Cơ sở nào để xác
định sự tác động đó? Vì vậy tác giả chọn đề tài: “Tác động của nợ công đến tăng
trưởng của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Với các vấn đề nghiên cứu đặt ra, mục tiêu nghiên cứu của đề tài như sau:
-
Trang 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: về không gian gồm 9 quốc gia thuộc khu vực
Đông Nam Á (Brunei, Campuchia, Lào, Philippin, Malaysia, Singapore, Indonesia,
Thái Lan, Việt Nam), thời gian từ năm 2006 -2013.
Dữ liệu nghiên cứu: là dữ liệu bảng, dữ liệu thứ cấp được tham khảo từ
World Bank, IMF.
1.5 Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua
mô hình kinh tế lượng, xác định tác động của nợ công và một số chỉ số kinh tế vĩ
mô khác như: lạm phát nền kinh tế, tiết kiệm, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư
nội địa tới tăng trưởng kinh tế. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu bảng.
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cân bằng để phân tích nhằm làm rõ
câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu và điểm mới của đề tài
Nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng là 9 nước có các đặc điểm tương
tự nhau thuộc Đông Nam Á là: Brunei; Campuchia, Lào, Malaysia ,Thái Lan,
Singapore, Indonesia, Philippin, Việt Nam sẽ cho ta thấy được với các đặc điểm
riêng về kinh tế và mức nợ công khác nhau các quốc gia sẽ có các mức tăng trưởng
kinh tế khác nhau. Ngoài ra có các yếu tố vĩ mô khác tác động tới tăng trưởng kinh
tế như: đầu tư nội địa, đầu tư trực tiếp nước ngoài, lạm phát, tiết kiệm. Từ đó có
những kiến nghị phù hợp đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Điểm mới của đề tài: Nghiên cứu về nợ công có rất ít nghiên cứu, đặc biệt,
vấn đề nợ công là một chủ đề kinh tế thế giới lớn hiện nay. Việc nghiên cứu nợ
công của Việt Nam và một số quốc gia có nền kinh tế gần tương đồng với Việt Nam
(khu vực Đông Nam Á) giúp cho chúng ta có nền tảng khoa học hợp lý để đưa ra
các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp.
giả nghiên cứu và tổng kết, nhằm mang lại cách nhìn thấu đáo về tác động của nợ
công đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó tác giả trình bày tổng quan những
nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài từ đó giúp cho việc lựa chọn mô
hình cũng như phương pháp nghiên cứu hiệu quả, và tin cậy cao hơn.
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Nợ công
Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF (2010), nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu
vực công, bao gồm 4 nhóm chủ thể:
-
Nợ của Chính phủ Trung ương và các bộ, ban ngành trung ương.
-
Nợ của các cấp chính quyền địa phương.
-
Nợ của ngân hàng Trung ương.
-
Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc
việc thiết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ, hoặc
Chính phủ là người trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.
Theo Ngân hàng thế giới WB (2015), nợ công được đo bằng tỷ lệ phần trăm
của tổng giá trị các khoản tiền nợ của các tổ chức trong khu vực chính phủ thuộc
mọi cấp từ trung ương đến địa phương so với GDP.
Năm 2009, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật quản lý nợ công. Theo Bộ
người hay sản lượng trên mỗi công nhân theo Nguyễn Trọng Hoài (2010). Tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập trong nền kinh tế trong một
thời gian nhất định, thường là năm (Nguyễn Văn Phúc, 2014).
2.2 Lý thuyết nợ công
2.2.1 Nguyên nhân nợ công
Theo Ocampo (2009), nợ công là tổng vay mượn ròng trong nền kinh tế được
tính như sau:
(Đầu tư – Tiết kiệm) + (Chi tiêu công – Thuế) + (Xuất khẩu – Nhập khẩu) = 0 (2.1)
Phương trình (2.1) chỉ ra 3 nguyên nhân dẫn đến vay nợ của chính phủ:
-
Đầu tư cao hơn tiết kiệm: vay mượn ròng tư nhân
-
Chi tiêu chính phủ cao hơn thu ngân sách: vay mượn ròng chính phủ
-
Nhập khẩu cao hơn xuất khẩu: vay mượn ròng nước ngoài
Trong tư liệu nghiên cứu chính thống về các nước đang phát triển, hiện
tượng “kép” được nhấn mạnh nhiều nhất là sự biến thiên đồng thời của thâm hụt
Trang 8
ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai (thâm hụt kép ngân sách bên trong/bên
ngoài). Một hiện tượng kép khác thâm hụt tư nhân/bên ngoài còn phổ biến nhiều
hơn đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển trong đó có khu vực kinh tế Đông Nam
tiêu không phải là một việc dễ dàng trong ngắn hạn, khi những kế hoạch chi tiêu
của chính phủ đã được hoạch định cụ thể. Chính vì thế, chính phủ chỉ có thể tìm
cách gia tăng nguồn thu của mình. Để tăng thu ngân sách chính phủ có thể tăng thuế
hoặc vay nợ (vay trong nước và vay nước ngoài), chính vay nợ nước ngoài làm gia
tăng nợ công.
Nghiên cứu của Premchand (1984), thâm hụt ngân sách dẫn tới việc chính
phủ phải phát hành trái phiếu để huy động nguồn vốn bù đắp. Để có thể thu hút
được vốn, các trái phiếu của chính phủ phải có lãi suất cao hơn. Điều này sẽ gây
khó khăn cho trái phiếu của doanh nghiệp và do đó sẽ làm suy giảm đầu tư và tiêu
dùng tư nhân.
Theo Fleming (1962), thâm hụt ngân sách có thể kéo theo thâm hụt thương
mại theo hai cách. Thứ nhất, thâm hụt ngân sách dẫn đến áp lực tăng lãi suất, do đó
thu hút dòng vốn vào, gây ra áp lực tăng giá nội tệ và vì vậy thúc đẩy nhập khẩu và
hạn chế xuất khẩu. Thứ hai, thâm hụt ngân sách làm tăng tiêu dùng nội địa và do đó
gia tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, làm tăng thâm hụt cán cân thương
mại.
Thâm hụt tài khóa tác động lên tỷ giá theo hai cách trực tiếp và gián tiếp.
Một cách trực tiếp, khi thâm hụt giảm, nhu cầu vốn vay giảm. Điều này khiến cho
lãi suất giảm và dòng vốn chảy ra. Do đó, cầu ngoại tệ tăng và nội tệ mất giá. Một
cách gián tiếp, thị trường kỳ vọng về mức thâm hụt và tỷ giá trong tương lai sẽ dẫn
đến những biến động lập tức của tỷ giá trên thị trường, (Hakkio (1996)).
Friedman (1986), trong trường hợp thâm hụt tài khóa được tài trợ bằng phát
hành trái phiếu thì khả năng tác động của nó lại phụ thuộc vào cách mà các nhà làm
chính sách tiền tệ điều hành. Nếu họ muốn cố định lãi suất thì họ phải cung ứng
thêm tiền và do đó, lạm phát sẽ xảy ra.
2.2.3 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế
Theo Lê Thị Minh Ngọc (2013), nợ công tác động làm giảm tích lũy vốn tư
nhân dẫn đến hiện tượng thoái lui đầu tư tư nhân. Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc
Trang 10
-
G: Chi tiêu chính phủ
-
NK: Xuất khẩu ròng.
Nhìn vào phương trình (2.2) nếu T – G < 0 tức là ngân sách nhà nước bị
thâm hụt hay I + NX < S. Ta thấy có thể có 3 trường hợp xảy ra, tiết kiệm tư nhân
tăng; đầu tư nội địa giảm; xuất khẩu ròng giảm.
-
Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lập
luận rằng, tiết kiệm tư nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của
tiết kiệm chính phủ. Trong trường hợp này chúng ta tạm thời giả định
tiết kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính
vì vậy mà tiết kiệm quốc gia giảm.
-
Đầu tư nội địa giảm: Lượng vồn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản
phẩm trên mỗi đồng vốn sẽ cao hơn, năng suất lao động sụt giảm từ
đó làm giảm mức sản lượng và thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết
kiệm quốc gia.
Trang 11
-
nhân. Nợ công làm tăng khả năng nhà nước tăng thuế trong tương lai. Nợ công làm
Trang 12
tăng lạm phát, tăng bất ổn kinh tế vĩ mô. Reinhart và Rogoff (2009) cho thấy lạm
phát cao và siêu lạm phát có nguyên nhân chủ yếu từ việc chính phủ chi tiêu quá
mức thông qua việc phát hành tiền ồ ạt. Tác động tiêu cực nhất của nợ công lên tăng
trưởng kinh tế là gánh nặng thuế trong tương lai và sự bất ổn do gánh nặng này gây
ra. Tóm lại về mặt lý thuyết, nợ công tác động cả tích cực và tiêu cực lên tăng
trưởng.
2.3 Lý thuyết tăng trƣởng kinh tế
2.3.1 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Vấn đề cốt lõi của việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là những thay đổi
trong thu nhập quốc dân. Có hai thước đo cơ bản về thu nhập quốc dân được sử
dụng phổ biến đó là tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
Theo Perkins và ctg (2006), GNP là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối
cùng được một xã hội tạo ra trong thời gian một năm. GNP loại trừ hàng hóa trung
gian, GNP tính đến sản lượng do công dân của một quốc gia tạo ra, bao gồm cả giá
trị hàng hóa và dịch vụ do công dân quốc gia đó sống ở nước ngoài tạo ra.
Tăng trưởng kinh tế (economic growth) được coi là sự tăng lên trong tổng
sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product), được đo lường bởi sự thay đổi
của GDP năm này so với năm trước đó theo tỉ lệ phần trăm. Có hai cách để định
nghĩa về GDP (Blanchard, 2000): GDP là giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng
(được tính bởi phần tiêu dùng cuối cùng) được sản xuất ra trong nền kinh tế trong
một khoảng thời gian nhất định hay GDP là tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo David Moss (2002), GDP thường được tính bằng ba cách:
-
Trong đó:
+ W: là tiền lương và tiền thưởng của người lao động.
+ i: là thu nhập của người cho vay.
+ r: là thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê
khác.
+ Pr: là lợi nhuận của chủ doanh nghiệp.
+ Ti: là thuế gián thu.
+ De: là khấu hao.
Có thể sử dụng mức giá hiện hành (GDP danh nghĩa) hoặc giá cố định (GDP
thực) để đo lường GDP.
Trang 14
GDP_danh nghĩa = chỉ số giá điều chỉnh GDP * GDP_thực (2.6)
Để đo lường tốc độ tăng trưởng của GDP thực (hay tăng trưởng kinh tế)
người ta thường sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng (Gi), phản ánh % thay đổi của
GDP thực năm sau so với năm trước. Tốc độ tăng trưởng GDP thực hàng năm được
tính theo công thức:
Gi
GDPt GDPt 1
*100 (2.7)
GDPt 1
Trong đó:
+ GDPt : là GDP thực năm thứ t của thời kỳ nghiên cứu.
+ GDPt 1 :là GDP thực năm trước đó của thời kỳ nghiên cứu.
Mô hình Harrod Domar chú trọng vào vai trò của tiết kiệm, nhưng đồng thời
lại chú trọng vào tầm quan trọng của nó bằng cách ngụ ý rằng tiết kiệm (và đầu tư)
là điều kiện đủ để tăng trưởng bền vững. Đồng thời, mô hình cũng không trực tiếp
đề cập đến sự thay đổi năng suất. Mô hình Harrod Domar cho ta thấy rõ rằng tiết
kiệm là quan trọng để tăng trưởng thu nhập theo thời gian.
-
Lý thuyết tăng trƣởng Tân cổ điển
Lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển thì mô hình Solow là mô hình đặc trưng
nhất, mô hình gồm các yếu tố chính đó là vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật theo
Gartner (2009) hàm sản xuất có dạng Cobb-Douglas. Với những tham số cho trước
(tiết kiệm, tốc độ tăng dân số) và khoa học công nghệ, lý thuyết tăng trưởng tân cổ
điển dự báo rằng các quốc gia sẽ hội tụ tại cùng một mức cân bằng chung của thu
nhập bình quân đầu người. Sự hội tụ dựa trên quy luật lợi tức biên giảm dần của
vốn. Vị trí cân bằng ổn định của mỗi nền kinh tế sẽ khác nhau, phụ thuộc vào những
đặc trưng của mỗi quốc gia như tỷ lệ tiết kiệm, tốc độ tăng dân số, trình độ kỹ
thuật,… Mức thu nhập bình quân đầu người càng thấp tương đối so với vị trí cân
bằng ổn định thì tốc độ tăng trưởng càng cao. Hạn chế của mô hình tân cổ điển là:
nếu tiến bộ kỹ thuật là một nhân tố duy nhất của tăng trưởng dài hạn, vậy điều gì
ảnh hưởng đến tiến bộ kỹ thuật, mô hình tân cổ điển không trả lời câu hỏi này, điều
này được giải quyết trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh.
-
Lý thuyết tăng trƣởng nội sinh
Mô hình tăng trưởng nội sinh loại giả thuyết của trường phái tân cổ điển về
lợi tức biên giảm dần của vốn, vì vậy vốn được tích lũy từ đó tăng trưởng có thể đạt
được ngay cả trong điều kiện không có tiến bộ kỹ thuật. Mô hình để diễn đạt lý
chước giảm đi, chi phí tăng lên và tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm. Đặc điểm
của sự hội tụ tương tự mô hình tân cổ điển về ý nghĩa vì chi phí biên của việc bắt
chước tăng tương tự với tình trạng lợi tức biên của vốn giảm dần. Nhưng chênh lệch
về trình độ công nghệ chỉ là một tiềm năng cho tăng trưởng chứ không phải là điều
hiển nhiên giúp các nước đi sau thành công.
Trang 17
2.4 Mối liên hệ giữa nợ công và tăng trƣởng kinh tế
Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là một đề tài
thu hút được nhiều tranh luận của các học giả thuộc các trường phái kinh tế khác
nhau, cả tân cổ điển và Keynes. Tuy nhiên, các nghiên cứu của các học giả này
không đưa ra một câu trả lời đồng nhất mà tồn tại 3 luồng quan điểm:
-
Thứ nhất, quan điểm tăng trưởng nợ công tỷ lệ nghịch với tăng trưởng
kinh tế quốc gia với đại diện là Friedman (1988).
-
Thứ hai, quan điểm nợ công ở mức hợp lý có tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế do tác động đến tổng cầu thuộc về các nhà kinh tế
học theo trường phái Keynes.
-
Thứ ba, quan điểm nợ công có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế
thuộc về các nhà kinh tế theo trường phái Ricardo với đại diện tiêu
biểu là Barro.