Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 1
CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
TẠI CÁC QUỐC GIA XUẤT KHẨU DẦU MỎ
Amany A.El Anshasy
Phân môn: Kinh tế học và Tài chính
Đại học United Arab Emirates, UAE
&
Phân môn: Tài chính công
Đại học Alexandria, Ai Cập
TÓM TẮT
Nghiên cứu này chứng minh rằng, chính sách chi tiêu chính phủ và sản lượng
dầu mỏ khai thác quyết định mức tăng trưởng. Sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng
GMM (Generalizes Method of Moments) và phương pháp dự toán trung bình gộp
PMG (Pooled Mean- Group estimator) đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ, chúng tôi
phát hiện ra sự bất ổn của giá dầu ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng thông qua chính
sách tài khóa. Đặc biệt, doanh thu từ dầu có thể gây cản trở tăng trưởng ít nhất ở ba
khía cạnh: (i) làm suy yếu hệ thống thuế nội địa, (ii) làm giảm nguồn vốn xã hội trên
nguồn vốn công mới, (iii) tăng cường áp lực chi tiêu công từ các khoản thặng dư. Việc
thực hiện chính sách tài khoá siết chặt cho các nước xuất khẩu dầu mỏ là thực sự cần
thiết, đảm bảo bởi sự khích lệ mang tính chính trị để độc lập chi tiêu công với chu kỳ
dầu mỏ. Đầu tư các khoản thặng dư hoặc thanh toán nợ công trong bối cảnh có nguồn
lợi dầu mỏ sẽ làm giảm bớt áp lực tìm kiếm các khoản vay giá rẻ và gia tăng lợi ích xã
hội từ việc bong bóng thu nhập dầu mỏ bùng nổ.
1. GIỚI THIỆU:
Từ những năm 1970, giá dầu ngày càng khó dự đoán. Chính sách tài khóa trong
nền kinh tế xuất khẩu dầu mỏ giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn thu luôn
Trong nghiên cứu này, tác động của chính sách tài khóa đối với tăng trưởng
không chỉ qua quy mô chính phủ, mà còn qua hai khía cạnh khác: Thứ nhất, các thành
phần của chi tiêu công, biểu hiện sự lựa chọn thế lực chính trị để phân phối thu nhập từ
khai thác tài nguyên cho những mục đích sử dụng khác nhau. Thứ hai, những phương
thức tài trợ cho chi tiêu phản ánh mức độ phụ thuộc của chính phủ vào thu nhập từ
khai thác tài nguyên. Kết luận chính chúng tôi đưa ra đó là: việc lựa chọn chính sách
tài khóa có thể chuyển lợi thế về dầu mỏ thành thảm họa trong vài nước này và thành
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 3
điều may mắn với các nước khác. Cũng vì lẽ vậy, chính sách tài khóa có thể làm giảm
tác động của cú sốc dầu mỏ bằng cách phục hồi tăng trưởng.
Trước tiên, chúng tôi sử dụng kỹ thuật GMM. Sau đó, chúng tôi kiểm tra kết
quả từ kỹ thuật đồng tích hợp bảng và dự đoán một mô hình điều chỉnh sai số áp dụng
ước lượng PMG - giải thích cho tính không đồng nhất bảng và hiệu chỉnh dữ liệu chéo.
Những phát hiện này nhắc tới những kết luận chính sách quan trọng: (i) việc tăng sức
mạnh của hệ thống thuế phi dầu mỏ là cần thiết để cải thiện kết quả tăng trưởng; (ii)
việc tăng cường chi tiêu vốn trong suốt giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ sẽ phục hồi
tăng trưởng; (iii) ứng dụng tiêu chuẩn đầu tư công khắt khe hơn trong suốt thời kỳ
khủng hoảng là cần thiết để tăng hiệu quả của việc sử dụng vốn mới, đặc biệt là cơ sở
hạ tầng và dịch vụ công; (iv) thay đổi động cơ của thế lực chính trị (về quy tắc tài
khóa) là cần thiết để đảm bảo chi tiêu công cô lập với chu kỳ của dầu mỏ. Chỉ dưới
cam kết chính trị kiên định này, việc đầu tư một phần lợi thế (về dầu mỏ) vào quỹ đầu
tư hoặc sử dụng thặng dư để trả nợ, gia tăng lợi ích xã hội từ việc vỡ bong bóng doanh
thu và làm giảm bớt áp lực rent-seeking.
Bài nghiên cứu được bố cục như dưới đây: phần hai xem xét tính chất riêng biệt
của chính sách tài khóa trong các nước xuất khẩu dầu mỏ và những những quy tắc các
nước tuân theo trong mục tiêu tăng trưởng. Phần ba nêu phương pháp và dữ liệu thực
nghiệm được phác họa. Kết quả và thảo luận chính sách được đưa ra trong phần bốn.
vào ngân sách công sẽ khuyến khích giới chức chính trị đề xuất những dự án tốn kém.
Alesina et al. (2008) đưa ra một lý thuyết lựa chọn, lý thuyết phù hợp nhất với các
nước đang phát triển - những nước tồn tại tham nhũng - nhưng chính phủ vẫn còn có
trách nhiệm. Theo lý thuyết này, cử tri quan sát bong bóng nổ ra nhưng không thể biết
những kẻ tham nhũng đã nắm giữ bao nhiêu phần nguồn lợi. Vì vậy, để “starve the
Leviathan”, họ thường yêu cầu hàng hóa công nhiều hơn (hoặc thuế thấp hơn), bao
gồm chính sách tài khóa theo chu kỳ. Trái với lập luận trên, có ý kiến cho rằng, cái mà
phù hợp hơn trong bối cảnh không dân chủ, ủng hộ một thuyết thương mại là cần ổn
định chính trị và hoà bình trong xã hội. Trong một vài mô hình thì chính phủ trong các
nước xuất khẩu dầu mỏ cung cấp nhiều hàng hoá công, thuế thấp hơn, đổi lại thì trách
nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý ít hơn. Điều này có hiệu quả là tăng chi tiêu
công của chính phủ đặc biệt là trong quá trình bong bóng thu nhập dầu mỏ bùng nổ
(Robinson et al.,2006; Aslaksen & Torvik, 2006; Schwarz, 2008).
Sự phân nhánh tăng trưởng của tăng chi tiêu trong thời kỳ bong bóng bùng nổ
có thể được truyền qua cơ chế “Dutch disease” - tình trạng suy giảm công nghiệp hoá
của nền kinh tế xảy ra khi việc khám phá và khai thác tài nguyên kéo theo nội tệ lên
giá, hàng công nghiệp sản xuất giảm sức cạnh tranh, nhập khẩu tăng và xuất khẩu
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 5
giảm, qua cơ chế này lợi thế dầu mỏ đưa đến kết quả là sự đánh giá cao tỷ giá hối đoái
thực. Chi tiêu chính phủ nhiều hơn trong những lĩnh vực phi thương mại (sức khỏe,
giáo dục, dịch vụ công) đẩy giá của hàng hóa này tương quan với lĩnh vực thương mại,
dịch chuyển nguồn lực từ khu vực thương mại phi dầu mỏ sang khu vực phi thương
mại. Phạm vi mà khu vực sản xuất lan tỏa tới khu vực khác, những biến động trong chi
tiêu chính phủ hàng hóa phi thương mại sẽ có tác động yếu dần lên tăng trưởng dài hạn
(Sachs & Warner, 1995).
Thứ hai, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng mạnh chi tiêu công trong giai đoạn
bong bóng nổ ra là không hiệu quả hoặc mang đến hiệu quả rất thấp. Robinson và
theo cách phương pháp thứ hai.
Dự toán trung bình gộp - PMG của Pesaran, Shin và Smith (1997, 1999), bằng
cách sử dụng cả các nhóm cá nhân dữ liệu gộp, có lợi thế là cho phép tính không đồng
nhất trong các động lực ngắn hạn nhưng giả định đồng nhất trong thời gian dài. Ước
lượng PMG cho phép chúng ta: (i) ước lượng độ co giãn dài hạn của bảng dữ liệu, (ii)
ước lượng tốc độ điều chỉnh trở lại trạng thái cân bằng cho từng quốc gia, (iii) kiểm tra
tính vững của các kết quả cốt lõi GMM, xem xét tính không đồng nhất của dữ liệu
bảng và tính phụ thuộc lẫn nhau của dữ liệu chéo.
3.1. MÔ HÌNH BẢNG DỮ LIỆU ĐỘNG
Xem xét mô hình sau đây
Trong đó, y là tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người; V là véc tơ
bao gồm các biến liên quan đến giá dầu, F là vector bao gồm các biến chính sách tài
khóa; H là vector bao gồm các biến kiểm soát phi tài chính, η
i
là hiệu quả xuất khẩu cố
định theo thời gian, ξ
it
là một sai số quan sát cụ thể.
Các đặc điểm kỹ thuật động trong công thức (1) cho thấy hiệu ứng cố định của
quốc gia cụ thể có tương quan với biến phụ thuộc độ trễ và một số biến giải thích có
thể là nội sinh. Điều này làm tăng mối liên quan giữa ước lượng và tính không nhất
quán của phương pháp OLS. Phương pháp GMM, ước lượng hệ thống, được phát
triển bởi Arellano và Bover (1995), và Blundell và Bond (1998), đã khắc phục những
vấn đề này. Sử dụng sự khác biệt của các biến ngoại sinh như là công cụ và sự khác
biệt của biến số ngoại sinh chặt (như trong các thủ tục tiêu chuẩn IV).
Để nắm bắt được ảnh hưởng trực tiếp của giá dầu đối với tăng trưởng, bao gồm
hai biến giải thích: tốc độ tăng trưởng hàng năm của giá dầu và sự biến động của giá
dầu. Sau này được đo bằng phương sai có điều kiện của những thay đổi giá dầu bằng
cách sử dụng mô hình GARCH (1, 1). Chúng tôi thực hiện theo các đặc điểm kỹ thuật
k-1
*
] là 1xk-1 vector của hệ số như là
j
*
= (
j
-
k
) cho tất cả
j=1,…,k-1.
Cuối cùng, vector phi tài chính H kiểm soát đầu tư tư nhân, mức độ minh bạch,
giáo dục, lạm phát, tổ chức chính trị và chính phủ.
3.2. KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ TRÊN DỮ LIỆU BẢNG, ĐỒNG TÍCH
HỢP VÀ ƯỚC LƯỢNG PMG
Chúng tôi kiểm định đối với nghiệm đơn vị trong bảng bằng cách sử dụng hai
phương pháp kiểm định, có xem xét sự không đồng nhất của bảng biểu. Trước hết,
kiểm định Fisher - Maddala & Wu (1999) được dựa trên giá trị p-value của những
kiểm định nghiệm đơn vị riêng biệt, nhưng nó thừa nhận không có sự phụ thuộc chéo
giữa các nhóm. Thứ hai, kiểm định CIPS - Pesaran’s (2007) là một phiên bản làm tăng
việc kiểm tra chéo của Im, Perasan & Shin (2003), đưa những phụ thuộc chéo có thể
có vào quá trình kiểm định.
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 8
Sau đó, chúng tôi tiếp tục xác định đồng tích hợp giữa các biến số. Chúng tôi sử
dụng bốn kiểm định đồng tích hợp bảng, được phát triển bởi Westerlund (2007).
Những kiểm định này điều chỉnh những phụ thuộc chéo có thể có giữa những đơn vị
bảng và cho phép một mức độ không đồng nhất rộng. Hai trong số những kiểm định
Tuy nhiên, sự phân chia các biến thành biến ảnh hưởng dài hạn và ngắn hạn sẽ được
chỉ dẫn bằng những kết quả của chúng tôi qua phương pháp ước lượng GMM.
3.3. DỮ LIỆU
Sự mô tả toàn bộ các biến số và nguồn dữ liệu được cung cấp trong bảng A1.
Những quan sát hàng năm về sự không cân bằng của bảng biểu đề cập toàn bộ hay một
phần của giai đoạn 1970 - 2007. Mẫu nghiên cứu bao gồm 15 quốc gia xuất khẩu dầu:
Bahrain, Cameroon, Colombia, Ai Cập, Indonesia, Iran, Kuwait, Malaysia, Mexico,
Nigeria, Na Uy, Oman, Syria, UAE và Venezuela. Dữ liệu tài chính thu thập từ GFS
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 9
của IMF. Trong một vài trường hợp như Nigeria và Indonesia, để hoàn thành bảng số
liệu, chúng tôi thu thập từ chính quốc gia cần nghiên cứu. Đáng ghi nhận là phương
pháp luận của GFS đã thay đổi từ thu thập dữ liệu từ những năm 1991 đến nay. Cho
nên, vì mục đích nhất quán, chúng tôi hạn chế dữ liệu từ căn cứ thực thu, thực chi và
cấp độ chính quyền trung ương. Thêm vào đó, định nghĩa các biến số có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Ví dụ, định nghĩa của tiêu dùng thực được báo cáo dựa trên dữ liệu
cũ, được đồng nhất với lượng chi tiền mặt cho dữ liệu sau 1990, v.v…
Bảng (1a) tóm tắt tỷ lệ trung bình cho những dạng khác nhau của thu, chi chính
phủ trong GDP của 15 nước xuất khẩu dầu. Nó mô tả sự phát triển trong tài chính
chính phủ (% GDP) tương ứng với chu trình tăng-giảm-tăng của giá dầu trong giai
đoạn 1970-2007. Chi tiêu đầu tư chính phủ và cơ sở hạ tầng là những khoản mục chịu
ảnh hưởng bất lợi nhất từ những cú sốc tiêu cực vào thập niên 1980 và 1990, và tỷ
trọng trong GDP tiếp tục giảm trong sự cố những năm 2000. Chi tiêu đầu tư giảm
mạnh từ 9.2% xuống còn 5.6% suốt những năm 80 và 90, và tiếp tục giảm chỉ đạt
4.7% của GDP giai đoạn 2002-2007. Theo báo cáo của IMF Trung Đông và Trung Á
(2007), các nhà xuất khẩu dầu phản ứng lại khôn ngoan hơn đối với sự tăng giá dầu và
doanh thu suốt giai đoạn bùng nổ gần đây, đặc biệt trong việc sắp xếp chi tiêu đầu tư,
so sánh với những năm 1970. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng các số liệu trong bảng
bình quân đầu người
-0.06% -2.65% -0.20%
Nguồn: Theo tính toán của tác giả dựa trên dữ liệu GFS. Dữ liệu trung bình cho 15 quốc gia
xuất khẩu dầu
Ngược lại, chi tiêu chuyển giao và chi tiêu xã hội (giáo dục, phúc lợi xã hội, sức
khoẻ và nhà ở công) tăng mạnh trong những năm 1980 và 1990 và tiếp tục tăng trong
thời gian gần đây với giá cao. Điều này phản ánh một phần sự biến đổi được ưu tiên từ
vốn vật chất sang vốn con người. Tỷ trọng tiêu dùng chính phủ trong GDP có xu
hướng tiếp tục giảm từ một tỷ lệ lớn vào những năm 1970. Tóm lại, mặc dù bảng (1a)
chỉ ra một vài đường cong chi tiêu từ những năm 1970, nhưng nó đã bộc lộ ra dấu hiệu
của một cấu trúc doanh thu yếu kém. Sự tăng đột ngột trong doanh thu từ năm 2002-
2007 đã dẫn đến sự giảm mạnh trong tỷ lệ thuế trong tổng doanh thu chính phủ từ 53%
trong những năm 80, 90 đến 41% trong những năm 2000.
Bảng (1a) còn chỉ ra tình trạng tăng trưởng yếu kém của những quốc gia nghiên
cứu khi xem xét thu nhập bình quân đầu người xuyên suốt ba giai đoạn. Tuy nhiên, nó
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 11
cũng mô tả một vài dấu hiệu về sự phản hồi không tương xứng giữa thu nhập bình
quân đầu người và chu kỳ giá dầu. Trong khi chúng ta mong đợi thu nhập bình quân
đầu người tăng suốt chu kỳ phồn thịnh, thì chúng ta thấy đấy, tính trung bình, nó giảm
một mức nhỏ trong giai đoạn thứ nhất và thứ ba. Tuy nhiên, điều này không gây sự
ngạc nhiên, tình trạng phát triển xấu nhất xuất hiện khi giá dầu giảm giá nhanh vào
những năm 1980 và 1990, thu nhập thực bình quân đầu người giảm hơn mức trung
bình năm là 2.65% trong giai đoạn này.
Bảng (1b) giới thiệu mức tăng trưởng trung bình hàng năm của mỗi quốc gia
cho toàn bộ giai đoạn nghiên cứu và độ lệch chuẩn của nó. Trong hầu như bốn thập kỷ,
mức tăng trưởng trung bình hàng năm mang giá trị âm (-1.74%). Tuy nhiên, một vài
quốc gia tương đối làm tốt hơn các quốc gia còn lại. Venezuala, Nigeria, Mexico và
độ trễ của các biến chính sách tài chính, mô hình dự đoán được giảm xuống còn năm
độ trễ.
Bảng (2) trình bày kết quả ước lượng mô hình tăng trưởng cơ bản, được tăng
thêm các yếu tố là sự thay đổi giá dầu và tính biến thiên . Ở cột ba, hai biến chính sách
tài khóa theo quy ước – chi tiêu chính phủ và nguồn thu thuế - được đặc biệt cộng
thêm và xuất hiện không đáng kể. Ở cột bốn, mô hình được tái dự đoán - giới thiệu
GBC theo một thể thức hợp nhất. Sự hồi quy 4b (và tất cả các kết quả hồi quy kéo theo
có đánh dấu bằng chữ cái b), hạn chế mẫu thời kỳ 1984- 2002 thay vì loại trừ các kỷ
nguyên doanh thu khủng vào thập niên 1970 và 2000.
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 13
Trước tiên, chúng ta chú ý một số kết quả sơ bộ từ bảng (2). Thứ nhất, trong khi
giá dầu tăng cao hơn có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng, sự biến thiên cao hơn lại
ngăn cản tăng trưởng. Tuy nhiên, ngay khi chúng ta kiểm soát chính sách tài khóa, các
hệ số của thay đổi giá dầu bị sụt giảm đáng kể (từ 0.21 xuống 0.008) nhưng vẫn còn
ảnh hưởng chủ động, đáng kể và ảnh hưởng tiêu cực của các khuynh hướng biến thiên
cho tới khi bị triệt tiêu. Kết quả này được giữ trong tất cả các ước lượng tiếp theo. Vì
thế, sự dịch chuyển giá dầu, một phần từ các kênh tài chính, dường như giải thích một
phần nhỏ các biến động trong tỷ lệ tăng trưởng. Ví dụ, giá dầu sụt giảm so với mức
trung bình thường niên là 7% khoảng giữa các năm 1984 và 2002. Theo kết quả ở
bảng (2), sự sụt giảm này chỉ giải thích được 0.14% (ngoài khoảng 2.7%) phần sụt
giảm so với tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm. Thứ hai, thặng dư ngân sách lũy kế
vào các thời điểm doanh thu khủng có một ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến tăng
trưởng. Điều này dường như trở nên vững thông qua các hồi quy tiếp theo. Thứ ba, chi
tiêu chính phủ - được tài trợ bởi thặng dư từ nguồn thu – có một ảnh hưởng đáng kể
lên tăng trưởng. Thứ tư, tất cả các biến kiểm soát khác có các dấu hiệu đúng. Ghi chú
đáng giá chính là các chỉ thị dân chủ dường như bị mất tầm ảnh hưởng ngay khi các
biến tài chính và điều hành được đính kèm. Sau khi kiểm soát chính sách tài chính, sự
(1.41)
-0.01
(1.26)
Chi tiêu của chính phủ 0.02
(1.01)
Nguồn thu từ thuế -0.06
(0.95)
Thặng dư ngân sách
0.19***
(6.87)
0.21***
(3.17)
Tổng chi tiêu của chính phủ
0.02***
(3.49)
0.05**
(2.89)
Thị trường mở (phi dầu hoả) 0.01
(1.53)
0.01*
(1.89)
0.02*
(1.99)
0.03*
(1.90)
0.03**
(2.30)
Lạm phát
0.05*
(1.98)
Định chế dân chủ
0.08*
(2.67)
0.08*
(1.96)
0.06
(1.75)
0.05
(1.55)
0.05
(0.35)
Governance (1984)
0.07***
(3.43)
0.09***
(3.85)
Số biến quan sát 477 477 417 417 195
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 15
AR(2) Test
-1.58
[0.12]
-0.67
[0.42]
-0.61
Lưu ý rằng tất cả các ước lượng mà chúng tôi đề cập đều dựa trên cùng các giả
định tài chính. Trước tiên chúng tôi xem xét tổng nguồn thu ngân sách, bao gồm cả
nguồn thu thuế và phi thuế quan, và sau đó chúng tôi xem xét sự ảnh hưởng của tài
chính - thuế. Tiếp theo, chúng tôi đào xới các thảo luận của chúng tôi và các chính
sách liên quan mật thiết vào hai nhóm, tìm hiểu sự liên quan tới cả phía thu và phía chi
của ngân sách.
4.1. NGUỒN THU KHỦNG CỦA CHÍNH PHỦ VÀ TĂNG TRƯỞNG
Các bảng (3), (4) và (5), chỉ ra rằng thặng dư tài khóa có ảnh hưởng tiêu cực
đến tăng trưởng khi thặng dư nguồn thu ngân sách độc lập với việc thực hiện các chính
sách chi tiêu. Kết quả này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn. Lưu ý rằng các ảnh hưởng
tiêu cực (ròng) này phản ánh hai bộ phận cấu thành: ảnh hưởng biên của cân bằng
ngân sách và ảnh hưởng của nguồn thu chính phủ. Nói một cách khác, các phương
pháp đo lường hệ số ảnh hưởng đến tăng trưởng là lũy kế thặng dư chính phủ ròng
chịu ảnh hưởng bởi sự bùng nổ quả bom doanh thu. Bởi vậy, mối quan hệ tiêu cực
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 16
giữa thặng dư - tăng trưởng có thể bị gián tiếp ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực của
nguồn thu khủng trong nền kinh tế.
Kinh nghiệm của các quốc gia giàu tài nguyên như Mexico, Nigeria, Venezuela,
và các nước khác, tiết lộ rằng nguồn thu khủng từ dầu là một bất lợi cho tăng trưởng
bởi vì nó làm nổ ra những cuộc đấu tranh quá khích để giành giật đặc lợi kinh tế của
các nhóm lợi ích đặc biệt đối với nguồn thu từ dầu của nhà nước trên tất cả các cấp độ
chính phủ.
Ngược lại, trong suốt cuộc suy thoái, Chính phủ thường thặng dư ít hơn
hoặc thâm hụt nhưng nó lại làm giảm nhẹ áp lực rent-seeking và cải thiện chi tiêu sản
xuất.
Tuy nhiên, không ám chỉ rằng các quốc gia dầu mỏ không nên giữ các khoản
(3.96)
0.007***
(2.99)
0.03***
(3.96)
Tính biến thiên của giá dầu
-0.01
(1.23)
-0.01
(1.30)
-0.01
(1.41)
-0.02
(1.52)
Thặng dư ngân sách
0.17***
(7.12)
0.27***
(8.35)
-0.07
(1.23)
-0.09
(1.03)
Nguồn thu không thuế
0.15***
(6.21)
0.12***
(5.22)
Chi tiêu xây dựng cơ bản
0.15
(0.54)
0.03
(0.92)
0.11
(0.89)
Thị trường mở (không có dầu)
0.01*
(1.79)
0.03***
(4.15)
0.01
(1.34)
0.02***
(3.34)
Lạm phát
0.04*
(1.87)
0.05*
(1.89)
0.03**
(2.20)
0.04**
(2.38)
Vốn con người
0.02*
(1.81)
0.03
(1.59)
0.04*
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 18
Số quan sát
477 195 417 195
AR(2) Test
-1.12
[0.20]
-0.91
[0.31]
-1.01
[0.24]
-0.15
[0.88]
Sargan test
89.2
[0.47]
81.6
[0.56]
90.0
[0.45]
90.6
[0.43]
Ghi chú: Tất cả các kết quả ước lượng đều bao gồm thu nhập đầu người ban đầu (1970), độ trễ
tăng trưởng, địa lý và thời gian. Các biến về chính sách tài chính được phản ánh vào 5 độ trễ, tất
cả các giá trị khác với một độ trễ. Ảnh hưởng tăng trưởng được tính toán bằng tổng của các hệ số
tồn tại đồng thời và hệ số ước luợng độ trễ (5 lags) trừ đi hệ số của các biến phụ thuộc. Thống kê
F được báo báo trong dấu ngoặc kép ngay dưới hệ số. Giá trị P được đặt trong dấu ngoặc vuông .
(1.31)
-0.01
(1.10)
-0.01
(1.20)
Thặng dư ngân sách
0.15***
(7.45)
0.22***
(7.89)
-0.09
(1.09)
-0.13
(1.09)
Nguồn thu không thuế
0.11***
(6.55)
0.13***
(5.10)
Chi tiêu đầu tư
0.40**
(2.90)
0.53**
(2.88)
0.62
(1.12)
0.70
(1.56)
Ảnh hưởng giữa Đầu tư và tăng trưởng
-0.001
(0.56)
0.06
(0.81)
0.02
(0.94)
Thị trường mở (không có dầu)
0.01*
(1.99)
0.03***
(4.51)
0.02*
(1.88)
0.02***
(3.74)
Lạm phát
0.04*
(1.87)
0.03*
(1.99)
0.03*
(1.99)
0.04**
(2.91)
Vốn con người
0.02*
(1.80)
0.03
(1.62)
0.05*
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 20
Ghi chú: Tất cả các kết quả ước lượng đều bao gồm thu nhập đầu người ban đầu (1970), độ trễ
tăng trưởng, địa lý và thời gian. Các biến về chính sách tài chính được phản ánh vào 5 độ trễ, tất
cả các giá trị khác với một độ trễ. Ảnh hưởng tăng trưởng được tính toán bằng tổng của các hệ số
tồn tại đồng thời và hệ số ước luợng độ trễ (5 lags) trừ đi hệ số của các biến phụ thuộc. Thống kê
F được báo báo trong dấu ngoặc kép ngay dưới hệ số. Giá trị P được đặt trong dấu ngoặc vuông .
Các biểu tượng ***, ** và * cho biết rằng các hệ số có mức ý nghĩa là 1%, 5% và 10% theo thứ
tự.
4.2. KẾT CẤU CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
Trong bảng (3), chi tiêu được phân tích trong quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng.
Chúng ta xem xét khả năng chi tiêu chính phủ có thể có các ảnh hưởng tăng trưởng
khác nhau tùy thuộc vào sự thay đổi giá dầu mỏ. Các điều kiện trọng yếu của sự thay
đổi giá dầu với chi đầu tư và chi tiêu dùng thì được cộng thêm (ngược lại).
Bất chấp phương pháp tài trợ, chi tiêu thông thường ảnh hưởng không đáng kể
với sự thay đổi giá dầu. Ngược lại, chi tiêu đầu tư được tài trợ thông qua thặng dư
nguồn thu, phản ánh lợi ích xã hội lâu dài. Ảnh hưởng ngày càng nhiều hơn trong thời
kỳ giá dầu xuống thấp. Tuy nhiên, trong điều kiện chi tiêu đầu tư tăng lên và giá dầu
xuống dốc thì lại trở thành sự sụt giảm nghiêm trọng. Dẫu sao, ảnh hưởng tăng trưởng
biên của sự thay đổi chi tiêu đầu tư được công thức hóa như sau
growth =
cap
+
0
*
9.8
[0.46]
81.1
[0.55]
90.0
[0.45]
90.4
[0.44]
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 21
(tới 94%). Nó tạo ra một cú sốc dầu rất lớn cho đầu tư công để có được ảnh hưởng sụt
giảm đối với tăng trưởng.
Trong suốt thời kỳ bong bóng doanh thu, chính phủ đáp lại sự nhạy cảm chính
trị để chi trả nhiều hơn, tạo uy tín, và có ít các dự án sản xuất. Thêm vào đó, kết quả ở
cột 6a và 6b chỉ ra rằng đầu tư công, được tài trợ thông qua thuế cao hơn trong suốt
thời kỳ bong bóng (giá dầu tăng), sẽ tạo một tác động tiêu cực. Chú ý rằng
cap
trở nên
không đáng kể trong khi
0
thì vẫn đáng kể đối với tác động sụt giảm. Những kết quả
này thúc đẩy hai chính sách quan trọng liên quan: trước tiên, mở rộng chi tiêu đầu tư
trong suốt thời kỳ bong bóng thì làm chậm lại tăng trưởng; thứ hai, chống lại cú rơi
của giá dầu bằng cách gia tăng chi tiêu đầu tư kích thích tăng trưởng, không quan tâm
tới phương thức tài trợ. Ngược lại, cắt giảm chi tiêu đầu tư khi giá dầu giảm làm tăng
thêm ảnh hưởng sâu sắc tới tăng trưởng. Ảnh hưởng của sụt giảm tăng trưởng lớn hơn
và 7.4% trong GDP. Khi đầu tư công là phần tài chính thông qua doanh thu từ dầu mỏ
(cột 5a), giá dầu tăng trưởng nhanh hơn 1% thì sự tăng trưởng của Venezuela chậm lại
0.23% và Oman là 0.78%. Ngược lại, một lượng tỉ lệ lớn hơn đầu tư ban đầu làm giảm
tác động bất lợi đến hiệu quả tăng trưởng khi giá dầu giảm. Vì vậy, các nước có cơ sở
hạ tầng vật chất ban đầu và phần vốn chi tiêu công lớn thì có vị thế tốt hơn trong việc
bảo vệ năng suất từ những cú rơi bất lợi khi giá dầu giảm.
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 22
Trong bảng (4), chúng ta tìm hiểu sâu hơn về hiệu quả của chi tiêu thông
thường. Kết quả trong cột 7 và cột 8, chỉ ra sự gia tăng trong các lĩnh vực công về
lương, thưởng và chi tiêu chính phủ vào các hàng hóa và dịch vụ trong suốt thời kỳ
bùng bổ giá dầu hỏa, gây hiệu quả tiêu cực đến tăng trưởng. Tuy nhiên, trong khi
lương công đang tăng thì nâng thuế thêm là vô nghĩa, sự gia tăng của chi tiêu chính
phủ vào các hàng hóa và dịch vụ có hiệu quả đến tăng trưởng. Hơn nữa, các khoản chi
tiêu thông thường và các chi tiêu khác đều vô nghĩa bất chấp nguồn tiền, nhận định
rằng hầu hết chúng là phi hiệu quả.
Bảng (5) phân tách tổng cộng các khoản chi tiêu thông qua chức năng. Chi tiêu
cho cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng là hiệu quả nhất, bất kể phương pháp tài chính.
Hiệu quả này tương đối lớn trong trường hợp các dịch vụ công, ám chỉ nguồn thu về
cũng tương đối lớn. Mặt khác, chi ra nhiều hơn cho tiêu dùng xã hội mà được tài trợ
bởi doanh thu từ dầu mỏ thì gây trở ngại tăng trưởng.
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành
Nhóm 7 – Lớp TCDN Ngày – K22 Trang 23
Bảng 5.Chính sách tài chính, giá dầu và tăng trưởng:
Phân loại chi tiêu theo chức năng
Kết quả của phươnng pháp GMM
(1.18)
Nguồn thu không thuế
0.11***
(6.55)
0.14***
(6.01)
Chi sự nghiệp xã hội
0.10**
(2.62)
-0.07
(1.70)
0.16
(0.98)
0.17
(1.23)
Cơ sở hạ tầng
0.29**
(2.45)
0.25**
(2.87)
0.49***
(3.79)
0.36***
(3.09)
Dịch vụ công
0.93***
(3.89)
0.83***
(3.74)
(2.38)
Vốn con người
0.03
(1.69)
0.04
(1.61)
0.05*
(1.99)
0.04*
(1.98)
Đầu tư tư nhân
0.03
(1.58)
0.02
(1.54)
0.06
(1.44)
0.03*
(1.99)
Định chế dân chủ
0.7
(1.33)
0.4
(0.45)
0.8
(1.19)
0.4
(0.68)
Govermance (1984)
0.12***
khoá thì hoàn toàn vững chắc.
Cuối cùng, một điều có thể gay tranh cãi là nền kinh tế phụ thuộc cao vào dầu
thì có thặng dư và, cùng một lúc, chịu tỷ lệ tăng trưởng trung bình thấp. Do đó, tác
động tiêu cực của thặng dư ngân sách lên tăng trưởng có thể là trung gian cho mối
quan hệ tiêu cực giữa mối quan hệ dầu hỏa và tăng trưởng. Để kiểm tra khả năng này,
chúng tôi xem xuất khẩu dầu hỏa như là % của hàng hóa xuất khẩu. Nếu sự tác động
tiêu cực của thặng dư biến mất, sau đó quả thật sự phụ thuộc vào dầu dẫn đến những
Số biến quan sát
378 169 378 169
AR(2) Test
-0.91
[0.31]
-0.95
[0.29]
-1.15
[0.17]
-0.17
[0.88]
Sargan test
81.6
[0.56]
82.1
[0.55]
90.0
[0.42]
90.4
[0.41]
Chính sách chi tiêu công và tăng trưởng
tại các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ GVHD: PGS. TS. Sử Đình Thành